Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST ngày 22/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 216/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST ngày 22/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 216/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hà Thị H - Bùi Văn T ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 9 - 2026
“V/v ly hôn, nuôi con chung giữa chị Huệ
và anh Trung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Bùi Văn Trung;
2.Ông Nguyễn Minh Huấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 8 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
366/2026/TLST- HNGĐ
ngày 02 tháng 7 năm 2026, về việc “Tranh chấp ly
hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
194/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2026 và quyết định hoãn
phiên toà số 107/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1982
Căn cước số ************, Bộ C cấp ngày 06/5/2025
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1976
Căn cước công dân số ************, Cục Cảnh sát cấp ngày 19/8/2021
Cùng nơi cư trú: Thôn Bùi Xá, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên
Nay là Thôn Phạm Lễ, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn
chị Hà Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn
đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Thái
Bình nay là xã L, tỉnh Hưng Yên vào ngày 22/01/2003. Sáu khi kết hôn vợ
chồng chung sống tại gia đình anh T. Quá trình chung sống đến năm 2015 thì vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng
không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, dẫn đến vợ chồng
thường xuyên cãi vã xô xát. Mâu thuẫn căng thẳng vào năm 2016 thì vợ chồng
2
ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T
không còn, chị xin ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh Bùi Văn T có 02 con chung là Bùi Thúy Q sinh
ngày 21/01/2004 và Bùi Đức K sinh ngày 07/6/2012. Ly hôn, con Q đã trưởng
thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, chị có nguyện vọng trực tiếp
nuôi dưỡng con K, chị không yêu cầu anh Trung cấp D cho con, Hiện tại, chị
không có thai nghén gì.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hiện tại chị đang làm lao động tự do, công việc là y sỹ làm việc trong lĩnh
vực Spa làm đẹp thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng (Mười lăm triệu đồng
một tháng). Do làm tự do nên chị không có chứng cứ, tài liệu nào đề cung cấp
cho Toà án.
Quá trình xét xử bị đơn anh Bùi Văn T vắng mặt nên không có ý kiến
trình bày.
Kết quả xác minh với gia đình anh Bùi Văn T và cơ sở thôn B, xã L,
tỉnh Hưng Yên nay là thôn P, xã L, tỉnh Hưng Yên thấy: Chị Hà Thị H và anh
Bùi Văn T là vợ chồng. Quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn của
vợ chồng thì gia đình và cơ sở thôn không biết rõ chỉ biết vợ chồng có bất đồng
về kinh tế, không cùng quan điểm sống. Nay chị H có đơn xin ly hôn gia đình và
cơ sở thôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị H và anh
T có 02 con chung là Bùi Thúy Q sinh ngày 21/01/2004 và Bùi Đức K sinh ngày
07/6/2012, ly hôn con Q đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi
dưỡng, còn con K đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài
sản gia đình và cơ sở thôn không biết rõ.
Hiện tại, anh T đi làm lao động tự do sáng đi tối về. Gia đình đã nhận
được thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Toà án và đã thông báo
cho anh T, anh T không có quan điểm trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên
về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều
81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Hà Thị H
được ly hôn anh Bùi Văn T; Về con chung: Con Bùi Thúy Q sinh ngày
21/01/2004 đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, giao con
chung Bùi Đức K sinh ngày 07/6/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H
không yêu cầu anh Trung cấp D cho con; Về tài sản: Không đặt ra giải quyết;
Về án phí: chị Hà Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Chị Hà Thị H khởi kiện ly hôn và nuôi con chung với anh
Bùi Văn T, do anh T là bị đơn cư trú tại xã L, tỉnh Hưng Yên nên Tòa án nhân
dân Khu vực 8 – Hưng Yên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định
tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh T đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến
hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác
minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa
theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Bùi Văn T là vợ chồng,
được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình nay là xã L, tỉnh Hưng
Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 22/01/2003 là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống đến cuối năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không
thương yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào năm 2016 thì vợ
chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị
và anh T không còn, chị xin ly hôn anh T, còn anh T không thể hiện quan điểm.
Tòa án đã tiến hành hoà giải nhưng anh T không có mặt, anh T không có thiện
chí trong việc giải quyết, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng vẫn sống ly thân,
điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn
nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình
thức, vì vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại
Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con chung: Chị Hà Thị H và anh Bùi Văn T có 02 con chung là
Bùi Thúy Q sinh ngày 21/01/2004 và Bùi Đức K sinh ngày 07/6/2012. Ly hôn,
con Q đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng, chị H có
nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con K, chị không yêu cầu anh Trung cấp D
cho con, còn anh T không có quan điểm trình bày. Xét nguyện vọng nuôi con
của chị H là chính đáng, chị H có đầy đủ điều kiện để nuôi con, con K được chị
H chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, phát triển bình thường phù hợp với lứa tuổi,
con K có nguyện vọng ở với chị H, do đó giao con K cho chị H trực tiếp nuôi
dưỡng, chị H không yêu cầu anh Trung cấp D cho con, anh T có quyền đi lại
thăm nom giáo dục con chung là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật
Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Chị Hà Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết, còn
anh Bùi Văn T không có quan điểm trình bày. Do đó về tài sản chung Hội đồng
xét xử không xét.
[5] Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định
tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
4
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hà Thị H và bị đơn anh Bùi
Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 35, điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và
gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Bùi Văn T.
2.Về nuôi con chung: Con Bùi Thúy Q sinh ngày 21/01/2004 đã trưởng
thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng. Giao con chung Bùi Đức K sinh
ngày 07/6/2012 cho chị Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu anh
Bùi Văn Trung cấp D cho con. Anh T có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con
chung mà không bị ai cản trở. Chị H, anh T có quyền thay đổi người trực tiếp
nuôi dưỡng con chung và yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4.Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã
nộp theo biên lai thu số 000050 ngày 02/7/2026 tại Phòng thi hành án dân sự
Khu vực 8 - Hưng Yên được chuyển thành tiền án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hà Thị H và bị đơn anh Bùi Văn T
vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kề từ ngày
nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên;
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THADS Khu vực 8 – Hưng Yên;
- Nơi ĐKKH: UBND xã Long Hưng, Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Duyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST Bản án số 216/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất