Bản án số 21/2022/DS-ST ngày 26/04/2022 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 21/2022/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 21/2022/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 21/2022/DS-ST ngày 26/04/2022 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bù Đăng (TAND tỉnh Bình Phước) |
| Số hiệu: | 21/2022/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/04/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | bên vay vi phạm nghĩa vụ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BĐ Độc lập – T do – Hnh Phc
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số:
21/2022/DS-ST
Ngày: 26/4/2022.
V/v: Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Tình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Đô.
2. Bà Lê Thị Thận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
BĐ, tỉnh Bình Phước.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện BĐ tham gia phiên toà: Bà Trịnh
Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện
BĐ, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
162/2021/TLST-DS, ngày 13 tháng 10 năm 2021, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-DS, ngày
14/02/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh N 1963.
HKTT: Ấp 2, thị trấn TP, huyện ĐQ, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện nay: Thôn 4, xã BB, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ninh Thị Nguyên H1, sinh năm 1987. (Có
mặt)
HKTT: Ấp 9, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.
2. Bị đơn: Vợ chồng ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975 bà Phan Thị Dung
N, sinh năm 1978. (Vắng mặt)
HKTT: Thôn 3, xã BB, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phan Thị Dung N: Ông Nguyễn
Văn T, sinh năm 1992. (Có mặt)
HKTT: Thôn 5, xã ĐL, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2021, quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn trình bày: Bà Đ quen biết vợ chồng ông H bà N. Do cần tiền làm ăn nên ngày
20/7/2018 ông H bà N vay của bà Đ số tiền 300.000.000 đồng. Thỏa thuận thời hạn
trả là đến mùa điều năm 2019, mỗi tháng trả góp 30.000.000 đồng, lãi suất theo
Ngân hàng nông nghiệp. Khi vay có viết giấy nhưng chỉ bà N ký nhận. Nguồn tiền
cho vay là riêng của bà Đ, không liên quan đến chồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông H bà N chỉ trả được 200.000.000 đồng tiền
gốc, trong đó có 90.000.000 đồng làm giấy tờ, còn 110.000.000 đồng không làm
giấy tờ; tiền lãi chưa trả. Quá thời hạn trả nợ bà Đ đã nhiều lần yêu cầu trả và yêu
cầu Ủy ban nhân dân xã BB giải quyết nhưng ông H bà N không trả nên khởi kiện
yêu cầu trả số tiền 100.000.000 đồng gốc còn lại, không yêu cầu tính lãi suất.
Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà N trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn
Văn H. Khoản vay 300.000.000 đồng theo giấy vay ngày 20/7/2018 thực tế là
khoản tiền lãi của khoản vay 400.000.000 đồng từ 2014, khi vay thỏa thuận thời
hạn trả là một thời gian không cụ thể, lãi suất 2.000 đồng/ 1.000.000 đồng/ 1 ngày;
mục đích bà vay về để kinh doanh mua bán hạt điều gia đình. Khi vay có viết giấy
và bà Đ giữ. Số tiền vay gốc nêu trên bà đã thanh toán hết cho bà Đ, bà Đ hủy bỏ
giấy vay trước đó, nhưng tiền lãi chưa trả nên bà Đ cộng lãi suất lại thành số tiền
300.000 đồng theo như giấy vay ngày 20/7/2018. Sau đó tháng nào bà cũng trả số
tiền lãi nêu trên cho bà Đ với số tiền 1.500.000 đồng/ tháng cho đến khi bà Đ làm
đơn khởi kiện. Tổng số tiền đã trả được là 240.000.000 đồng, còn lại 60.000.000
đồng. Hiện nay chỉ đồng ý trả 60.000.000 đồng, không yêu cầu giải quyết về số tiền
lãi đã trả.
Người đại diện của bà N quá trình giải quyết và tại phiên tòa trình bày:
Xác nhận bà Phan Thị Dung N có vay của bà Phạm Thị Đ số tiền 300.000.000đ
ngày 20/7/2018, số tiền này bà N cho rằng vay để sử dụng chi tiêu cá nhân, không
liên quan đến ông H.
Ngoài các lần trả tổng cộng 90.000.000 đồng có sự xác nhận của bà Đ thì bà
N còn trả cho bà Đ thêm được 03 lần nhưng không làm giấy tờ. Trong đó một lần
trả 60.000.000 đồng, một lần 50.000.000 đồng và một lần 40.000.000 đồng. Việc
trả các khoản này bà Đ vẫn thừa nhận hai khoản là 60.000.000đ, một lần
50.000.000đ. Bà N cũng không nhớ thời gian đã trả các lần nêu trên. Khi trả hai
bên tự ghi vào sổ của mình để theo dõi, nhưng trong sổ của bà N không được bà Đ
xác nhận. Hiện nay bà N xác nhận chỉ còn nợ bà Đ 60.000.000đ nên chỉ đồng ý trả
số tiền còn lại.
Bị đơn ông H quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án làm việc;
không tham gia phiên tòa sơ thẩm và gửi ý kiến cho Tòa án. Tòa án đã trực tiếp
đến nhà ông H nhiều lần để ghi lời khai nhưng không thực hiện được.
Đ diện viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ phát biểu ý kiến: Về tố tụng Tòa
3
án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, đảm bảo thủ tục tố tụng; Về nội dung, đề
nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc trả số tiền vay gốc còn lại
và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như
sau:
[1] Về sự có mặt các đương sự: Bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy
định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu trả số tiền vay gốc còn lại 100.000.000 đồng:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự thừa nhận ngày 20/7/2018 bà N nợ của
bà Đ số tiền 300.000.000 đồng theo giấy vay ngày 20/7/2018. Các khoản bà N đã trả
và được bà Đ xác nhận trong giấy ghi các lần trả là 90.000.000 đồng. Phía bà N cho
rằng ngoài khoản trả có tài liệu thì bà N còn trả thêm cho bà Đ được 03 lần tổng cộng
150.000.000 đồng, nhưng phía bà Đ chỉ thừa nhận các khoản trả không làm giấy tờ
tổng cộng là 110.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử thấy: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phía bà N đưa
ra được tài liệu về các khoản đã trả được bà Đ xác nhận tổng cộng là 90.000.000 đồng.
Phía bà N cho rằng đã trả thêm cho bà Đ thêm 03 lần tổng cộng là 150.000.000 đồng,
trong đó một lần trả 60.000.000 đồng, một lần trả 50.000.000 đồng và một lần trả
40.000.000 đồng. Phía bà Đ thừa nhận bà N đã trả thêm được 02 lần, tổng cộng là
110.000.000 đồng nên được coi là tình tiết không cần phải chứng minh. Đối với số tiền
40.000.000 đồng cho rằng trả thêm nhưng bà Đ không thừa nhận, phía bị đơn không
đưa ra được chứng cứ chứng minh và cho rằng không nhớ thời gian, địa điểm trả nên ý
kiến của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án
tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không tham gia
phiên tòa sơ thẩm và gửi ý kiến cho Tòa án nên coi như tự từ bỏ quyền chứng minh
của mình đối với nguyên đơn.
Các đương sự thừa nhận số tiền vay còn lại đã quá thời hạn trả, nguyên đơn đã
nhiều lần yêu cầu trả nhưng bị đơn không trả hết nên có cơ sở xác định bị đơn đã vi
phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Vì vậy cần chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ: Phía bị đơn bà N cho rằng khoản vay nêu trên là khoản
vay riêng của bà N, không liên quan đến ông H. Tuy nhiên, căn cứ lời khai ngày
26/01/2022 của bà N thể hiện khoản vay của bà Đ vay về để kinh doanh hạt điều trong
gia đình. Mặc dù ông H chỉ đi làm rẫy, không tham gia kinh doanh nhưng lợi nhuận từ
việc kinh doanh thì vẫn dùng để trang trải gia đình, vợ chồng bà vẫn sống hạnh phúc,
không thỏa thuận về tài sản chung hay riêng. Như vậy có đủ cơ sở xác định là nợ
4
chung của ông H bà N nên cần buộc ông H cùng có nghĩa vụ liên đới trả theo quy định
tại Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 là phù hợp.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; hoàn
trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án
phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
Buộc ông Nguyễn Văn H bà Phan Thị Dung N có nghĩa vụ liên đới trả cho
bà Phạm Thị Đ tổng cộng số tiền vay gốc còn lại là 100.000.000 đồng (một trăm
triệu đồng).
2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn H bà Phan Thị Dung N liên đới chịu
5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Chi cục thi hành án dân sự huyện BĐ hoàn trả lại cho bà Phạm Thị Đ số tiền
tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0000022 ngày 12/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bình
Phước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân
sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện BĐ;
- CCTHADS huyện BĐ;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS. Lường Văn Tình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm