Bản án số 21/2021/DS-PT ngày 03/02/2021 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 21/2021/DS-PT ngày 03/02/2021 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 21/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/02/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Anh T kiện ông Nguyễn Thái H, bà Phạm Thị Thu T1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 21/2021/DS-PT
Ngày 03-02-2021
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất
CỘNG HÒA XÃ HI CHNGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Vỹ
Các Thẩm phán: Ông Đặng Đức Hào
Ông Đoàn Ngọc Thiện
- Thư ký phiên tòa: Trịnh Thị Lá Thư Tòa án nhân dân tỉnh Rịa-
Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên
tòa: Ông Lê Văn Thiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 01 và 03 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Rịa-Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
58/2020/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2020 về Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do bản án dân sự thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019
của Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số 105/2020/QĐPT-DS
ngày 25 tháng 5 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số
101/2020/QĐPT-DS ngày 15 tháng 6 năm 2020, Quyết đnh thay đổi người tiến
hành tố tụng số 54/2020/QĐPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2020, Quyết định tạm
ngừng phiên tòa số 133/2020/QĐPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2020, Quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 08/2020/QĐPT-DS ngày 18 tháng 8 năm 2020,
Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 186/2020/QĐPT-DS ngày 23 tháng 12
năm 2020, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 187/2020/TB-TTPT ngày 24
tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 01/2021/QĐPT-DS
ngày 05 tháng 01 năm 2021 Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số
08/2021/QĐPT-DS ngày 28 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: 220/3 N, phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2
- B đơn: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1975 Phạm Thị Thu T1, sinh
năm 1978.
Địa chỉ: Tổ 13, ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Ngọc Q
Luật sư thuộc Công ty luật H, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyn li, nga v ln quan:
1. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960 ông Phạm Ngọc T3, sinh năm 1956
(ông 3 chết ngày 03-01-2016).
Địa chỉ: Số nhà 15, tổ 13, ấp P, H, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (bà T2
có mặt).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Ngọc T3:
1.1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960 (có mặt).
1.2. Bà Phạm Thị Thu T1, sinh năm 1978 (có mặt).
1.3. Bà Phạm Thị Tuyết A, sinh năm 1980 (vắng mặt).
1.4. Ông Phạm Nguyễn Thái T4, sinh năm 1983 (vắng mặt).
1.5. Ông Phạm Nguyễn Quang T5, sinh năm 1985 (vắng mặt).
1.6. Ông Phạm Nguyễn Quang T6, sinh năm 1988 (vắng mặt).
1.7. Ông Phạm Minh S, sinh năm 1990 (vắng mặt).
1.8. Ông Phạm Minh N, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ 13, ấp P, H, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (Bà A, ông
T4, ông T5, ông T6, ông S và ông N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Ông Nguyn Văn N1, sinh m 1977 và bà Lê Thị T7, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Ấp P, T, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt).
3. Văn phòng công chứng L (nay Văn png ng chứng T).
Địa chỉ: Tỉnh lộ 52, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Rịa-Vũng Tàu
(vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
4. Văn phòng công chứng Đ (nay Văn png ng chứng N).
Địa chỉ: Tỉnh lộ 44A, ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt,
có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966.
Địa chỉ: 11A N, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
2. Ông Phạm Văn D, sinh năm 1970.
Địa chỉ: 183 Đ, phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
3. Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1969.
Địa chỉ: 39/2A1 H, tổ B, khu phố V, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí
Minh (có mặt).
4. Ông Dương Thanh L, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
5. Bà Võ Thị Như H1, sinh năm 1965.
3
Địa chỉ: 74 B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Người kng cáo: Ông Nguyễn Thái H, bà Phạm ThThu T1 - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Anh
T trình bày:
Vào ngày 12-01-2011, tại Văn phòng Công chứng L, huyện Đ, tỉnh Rịa-
Vũng Tàu, ông T 02 hợp đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02
đất của ông Nguyễn Thái H và bà Phạm Thị Thu T1. Đất chuyển nhượng thuộc các
thửa 303, 305, 306, 307, 314 117, 119 cùng tờ bản đồ số 02, T, huyện L, giá
chuyển nhượng là 600.000.000 đồng. Các hợp đồng đã được công chứng số 107
108 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12-01-2011. Khoảng 01 tháng sau khi
hợp đồng chuyển nhượng, ông T đã giao đủ tiền cho ông H, T1. Khi ông T
tiến hành thủ tục sang tên thì ông H, bà T1 có đơn ngăn chặn nên ông T không làm
thủ tục sang tên được.
Nay, ông T yêu cầu vợ chồng ông H, T1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dụng đất để sang n cho ông T c thửa đất tn theo quy
định của pp luật. Đồng thời, ông T cũng u cầu được sở hữu phần hàng o gắn
liền với đất ông T không phải trthêm khoản tiền nào nữa cho ông H, bà T1.
Đối với yêu cầu phản tố của ông H, bà T1 về việc đề nghị hủy bỏ 02 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T vợ chồng ông H, T1 nêu trên,
buộc ông T trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số 739690 ngày 29-
01-2007 702543 ngày 10-7-2006 của Ủy ban nhân dân huyện L thì ông T
không đồng ý, ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp.
Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất thì diện tích các thửa 303,
305, 306, 307, 314 4080m
2
, nhưng theo đo đạc thực tế tại đồ vị trí ngày 12-
11-2015 diện tích là 4005.1m
2
, ông T đồng ý theo đồ vị trí do đạc thực tế ngày
12-11-2015 và không có ý kiến gì.
Về chi phí đo vẽ, định giá, thẩm định trong vụ án ông T đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định ca pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Thái H và bà Phạm
Thị Thu T1 trình bày:
Ông H, bà T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, với
do: Bà Nguyễn Thị T2 mẹ của T1, do bà T2 thiếu tiền làm ăn nên ông H, T1
cho T2 mượn 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 739690 ngày 29-
01-2007 và AĐ 702543 ngày 10-7-2006 do Ủy ban nhânn huyện L cấp cho ông H,
T1. Sau đó, ông hợp đồng chuyển nhượng 02 đất nêu trên, việc thỏa
thuận giữa T2 ông T như thế o thì ông không biết. Khi hợp đồng
chuyn nhượng, ông H, T1 ng không đọc nội dung hợp đồng ng không
nhận tiền của ông T, ngchđi công chứng tạm thời một thời gian cho T2
mượn để vay tiền rồi trlại. Việc giao nhận tiền do T2 giao dịch, ông H, T1
4
không biết. Vợ chồng ông H không nhận tiền từ ông T. Một thời gian sau nghe i
ông T làm thủ tục sang n quyn sdụng đất thì ông H, bà T1 làm đơn nn chặn.
Nay, ông H, T1 đơn phản tố u cầu hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số công chứng 107 108 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 12-01-2011 đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 số 117, 119
cùng tờ bản đồ số 02, T, huyện L. Đồng thời, buộc ông T phải trả lại 02 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 739690 ngày 29-01-2007 và AĐ 702543 ngày
10-7-2006 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho ông H, T1. Đối với phần hàng
rào gắn liền với đất, ông H và bà T1 xây dựng vào năm 2009 trước khi có hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T, vợ chồng ông H không đồng ý giao
đất và tài sản trên đất cho ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:
Do cần tiền để làm ăn nên vào tháng 01-2011 có người giới thiệu cho vợ chồng
Nguyễn Thị T2 (ông Phạm Ngọc T3) lên i Gòn gặp ông Trần Anh T ông
Phạm n D để vay tiền. Sau quá trình trao đổi giữa vợ chồng bà T2 và ông T, ông
D, thì ông T, ông D cho T2 vay số tiền 2.100.000.000 đồng (trừ đi 300.000.000
đồng tiền lãi còn nhận 1.800.000.000 đồng). Để đảm bảo cho việc vay tiền, các bên
làm hợp đồng chuyển nhượng 06 đất cho ông T, trong đó 02 đất do ông
Nguyễn Thái H Phạm Thị Thu T1 đứng tên thuộc các thửa đất số 303, 305,
306, 307, 314 số 117, 119 ng tờ bản đồ số 02, T, huyện L giá chuyển
nhượng 600.000.000 đồng 04 đất tại huyện Đ do ông Phạm Nguyễn Quang
T6 đứng tên giá chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng. Các hợp đồng đều đã được
công chứng và sau khi T2 nhận đủ tiền thì đã giao 06 giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông T giữ.
Do phải đóng tiền lãi cho ông T quá nhiều, không khả năng đóng nữa nên
vợ chồng bà T2 tới Công ty M do ông Nguyễn Hữu P làm giám đốc trình bày
nhờ giúp đỡ. Do ông P là chủ doanh nghiệp nên vay Ngân hàng được ưu tiên về số
tiền vay lãi suất nên ngày 16-6-2011, tại Văn phòng công chứng Đ, huyện Đ,
ông T ông D đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà
T1 để hợp đồng ủy quyền cho ông P đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307,
314 số 117, 119 cùng tờ bản đồ s02, T, huyện L. Sau khi công chứng, ông
T và ông D đã lấy của bà T2 350.000.000 đồng tiền lãi.
Một thời gian sau, ông T đã sang tên 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông T6. Khi ông T đang chuẩn bị sang tên 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtn
lại đứng n ông H, T1 thì ông H, T1 phát hiện làm đơn nn chặn.
Ngay tại Văn phòng công chứng, sau khi hợp đồng ủy quyền giữa ông H,
T1 với ông P thì ông T đã lấy lại 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mang về Sài Gòn và hẹn ngày khác đưa cho ông P để cho Ngân hàng thẩm định
tài sản để vay tiền. Tuy nhiên, sau đó ông T không đưa bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông P nên ông P không vay được tiền. Do đó, ông H, T1
và ông P đã ra Văn phòng công chứng để hủy hợp đồng ủy quyền.
5
Đối với số tiền 2.100.000.000 đồng, T2 chưa trả cho ông T, ông D tiền
gốc; tiền lãi được trả như sau: 01 lần đầu 300.000.000 đồng (2.100.000.000đồng
300.000.000đồng = thực nhận 1.800.000.000đồng); mỗi tháng đóng 210.000.000
đồng, đóng vào ngày 12 hàng tháng, T2 đã đóng tiền lãi đến khi đơn ngăn
chặn của ông T6 tại y ban nhân dân L, huyện Đ; 01 lần đóng 500.000.000
đồng (số tiền này vay của M) và chia làm 02 lần trả, 01 lần 150.000.000 đồng
(tại nhà M) 01 lần 350.000.000 đồng (tại Văn phòng công chứng Đ). Tất cả
những lần vay tiền, trả tiền lãi hai bên không lập hợp đồng hoặc ghi giấy tờ giao
nhận gì.
T2 thống nhất với yêu cầu của vợ chồng ông H về việc hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011 tại Văn phòng công chứng L
giữa vợ chồng ông H ông T. T2 chỉ đồng ý trả cho ông T 1.000.000.000
đồng tiền nợ gốc vì đã trả lãi quá nhiều, nhưng trả dần hàng tháng, có bao nhiêu trả
bấy nhiêu. Đối với tiền lãi, do T2 đã trả quá nhiều nên không đồng ý trả tiền lãi
cho ông T. Bà T2 không có yêu cầu độc lập.
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Văn T3 gồm:
Ông Phạm Nguyễn Thái T4, ông Phạm Minh N, bà Phạm Thị Tuyết Aông Phạm
Nguyễn Quang T6.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập các đương snày đến làm việc tham gia
phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng họ đều vắng mặt và
không cung cấp lời khai, chứng cứ gì cho Tòa án.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N1, Thị T7
trình bày:
Năm 2013, ông N1 T7 thuê diện tích đất hiện đang tranh chấp của vợ
chồng ông H, T1. Thời hạn thuê đã hết tnăm 2016 hai bên không hợp
đồng thuê đất nữa. ông N1 bà T7 đồng ý tự di dời nhà trả đất khi yêu cầu của
ông H, bà T1, không yêu cầu hỗ trợ chi phí di dời.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Văn phòng công chứng Đ (nay văn
phòng công chứng N) Văn phòng công chứng L (nay văn phòng công chứng
T) có văn bản trình bày:
Tất cả các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 107 và
108 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12-01-2011 đối với các thửa đất số 303,
305, 306, 307, 314 số 117, 119 cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại T, huyện L
Hợp đồng ủy quyền số Công chứng 00036 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD
giữa ông H, T1 với ông P đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 số
117, 119 cùng tờ bản đồ số 02, xã T, huyện L đều được thực hiện đúng theo quy
định của pháp luật.
Người làm chứng ông Nguyễn Hữu P trình bày:
Ông là chủ Công ty M. Vì công ty có hạn mức vay tiền để kinh doanh nên vay
được nhiều hơn cá nhân. Với 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm
Nguyễn Quang T6 ông H, T1 thì ông P thể vay được khoảng 13 tỷ đồng.
6
Do đó, Nguyễn Thị T2 ông Phạm Ngọc T3 đã lên Sài Gòn gặp ông P để nhờ
ông P vay tiền để làm ăn. Ngày 16-6-2011, tại Văn phòng công chứng Đ, ông H,
bà T1 đã ký hợp đồng ủy quyền số Công chứng 00036 quyển số 01TP/CC-
SCC/HĐGD ủy quyền cho ông P sử dụng, định đoạt đối với các thửa đất số 303,
305, 306, 307, 314 số 117, 119 tờ bản đồ số 02, T, huyện L 04 đất tại
huyện Đ do ông Phạm Nguyễn Quang T6 đứng tên (công chứng tại Rịa). Việc
thỏa thuận giữa bà T2 và ông T như thế nào thì ông P không biết. Sau đó, do không
có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông P và vợ chồng ông H,
T1 đã tới Phòng công chứng để hủy hợp đồng y quyền nêu trên.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị M trình bày:
Do Nguyễn Thị T2 vay tiền của ông Trần Anh T ông Phạm Văn D, nên
bà T2 có vay tiền của bà M để trả cho ông T, ông D. Do số tiền cho vay lớn nên bà
M đã đi cùng T2 để trực tiếp đưa tiền cho ông T, ông D, gồm các lần như sau:
Lần thứ nhất tại nhà M, M đã đưa cho ông T, ông D 150.000.000đồng; lần
thứ 2 tại Sài Gòn bà M đưa cho ông T, ông D 50.000.000 đồng và lần thứ 3 tại Văn
phòng công chứng Đ, bà M giao cho ông T, ông D 300.000.000 đồng. Đây số
tiền T2 vay của M để trả tiền lãi cho ông D, ông T. Khi giao tiền, ông D
có ký giấy nhận tiền nhưng ông D giữ, bà M và bà T2 không giữ giấy. Đối với hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và vợ chồng ông H, M
không chứng kiến, bà M không có yêu cầu độc lập.
Người làm chứng ông Phạm Văn D trình bày:
Năm 2011, ông cho vợ chồng Nguyễn Thị T2 ông Phạm Ngọc T3
vay số tiền 500.000.000 đồng, mục đích vay là để làm ăn buôn bán, ông không nhớ
thời hạn vay. Khi đến hạn trả nợ, ông D tới nhà T2 đòi tiền thì được T2 giới
thiệu Nguyễn Thị M sẽ là người thay T2 trả nợ. Ông D trực tiếp nhận tiền từ
M, cụ thể: Lần 1, ông D nhận 150.000.000 đồng tại nhà M sự chứng kiến
của ông T; lần 2 nhận 300.000.000 đồng không có ông T. Khi nhận tiền, ông D
ký giấy nhưng bà M đã giữ hết, còn số tiền 50.000.000 đồng ông cho bà T2 vì hoàn
cảnh khó khăn. Ông D không biết về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông T vợ chồng ông H. Ông D không cùng ông T tới Văn phòng công
chứng Đ. Bà M T2 thỏa thuận như thế nào thì ông D không biết, stiền trên
không liên quan tới hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng công chứng Đ. Khi ông D
cho vợ chồng bà T2, ông T3 vay tiền t không thế chấp tài sản gì.
Người làm chứng bà Võ Thị Như H1 trình bày:
Bà và bà Nguyễn Thị T2, bà Phạm Thị Thu T1 có làm ăn với nhau. Năm 2011
(không nhớ ngày), H1 tới Ngân hàng Agribank - Chi nhánh Phú Mỹ để nhận
tiền từ ông T ông D 1.800.000.000 đồng. Stiền này do cấn trừ việc T2 nợ
bà H. Ông T rút tiền từ tài khoản và giao cho bà H1 tại Ngân hàng, bà H1 giao cho
ông T 06 giấy chứng nhận quyền sdụng đất nhưng H1 không nhớ cụ thể 06
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đứng tên ai.
Người làm chứng ông Dương Thanh L trình bày:
7
Ông L cán bộ địa chính T, huyện L. Ông xác nhận ông Trần Anh T
đến Ủy ban nhân dân T để nộp hồ sang tên giấy chứng nhận quyền sdụng
đất nhưng không nhớ thời gian cụ thể. Sau khi ông T nộp hồ , do thiếu giấy xác
nhận hộ trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp nên ông T gửi lại hồ cho ông L giữ
dùm để vlàm bổ sung giấy tờ. Sau đó, thông báo ngưng làm hchuyển
nhượng do có đơn ngăn chặn của bà Phạm Thị Thu T1 nên ông T đã lấy lại toàn bộ
hồ sơ. Việc giao nhận hồ sơ giữa ông L và ông T không làm biên bản.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2019 của
Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Rịa-Vũng u, đã căn cứ: Khoản 1
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự; các điều 688, 689, 690, 691, 697, 698, 699, 700, 701 702 của Bộ
luật dân sự năm 2005; Điều 188 Luật đất đai năm 2014, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T về việc “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất” đối với vợ
chồng ông Nguyễn Thái H và bà Phạm Thị Thu T1.
2. Buộc ông Nguyễn Thái H và Phạm ThThu T1có nghĩa vụ tiếp tục thực
hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng
công chứng L, số công chứng 107 108 quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 12-01-2011 đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 và các thửa đất số
117, 119 cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
3. Ông Trần Anh T trách nhiệm liên hệ quan nhà nước thẩm quyền
để đăng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314
các thửa đất số 117, 119 cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại T, huyện L, tỉnh
Rịa-Vũng Tàu, theo quy định của pháp luật (theo sơ đvị trí ngày 12-11-2015 của
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L, nay là Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện L).
4. Ông Trần Anh T được sở hữu hàng rào gắn liền với diện tích đất thuộc các
thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh
Rịa-Vũng Tàu (theo đồ vị t ngày 12-11-2015 của Văn phòng đăng
quyền sử dụng đất huyện L, nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thái H và Phạm Thị
Thu T1 về việc yêu cầu hủy b02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
số công chứng 107 108 quyền số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12-01-2011 đối
với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 và các thửa đất số 117, 119 cùng tờ bản
đồ số 02, tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩmn tuyên về chi phí đo vẽ, định giá, án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 28-11-2019, bị đơn ông Nguyễn Thái H và bà Phạm Thị Thu T1 đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy toàn bộ hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 107 108 quyển số 01
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12-01-2011 đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307,
8
314 các thửa đất số 117, 119 cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại T, huyện L,
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Thái H Phạm ThThu T1 giữ nguyên u cầu kháng
o, đề nghHội đồng t xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của b
đơn.
Nguyên đơn ông Trần Anh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết
định của bản án sơ thẩm.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T2 cũng đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu
cầu phản tố ca bị đơn.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử
sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, tuyên hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011 giữa ông H, bà T1 với ông T do hợp đồng này
chỉ nhằm đảm bảo cho quan hệ vay tiền giữa T2 ông T, ông D, không phải
chuyển nhượng thật. Ông T không đủ điều kiện nhận chuyển nhượng đất trồng lúa
và trên thực tế, bị đơn vẫn quản lý, sử dụng đất tranh chấp.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
không bổ sung thêm chứng cứ gì.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa - Vũng Tàu về
việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thái H Phạm Thị Thu T1
phù hợp quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự nộp trong thời hạn luật
định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ trình tự, thủ tục
tố tụng theo quy định. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền,
nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên s
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thái H Phạm
Thị Thu T1 nộp trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên
được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
9
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa phúc
thẩm đều đã đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ nên Hội đồng xét xcăn
cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt các đương sự này.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T2 khai không
thống nhất về những người kế thừa quyền nghĩa vụ t tụng của ông Phạm
Ngọc T3 nên cấp sơ thẩm không đưa đầy đủ những người con của ông T3 vào
tham gia tố tụng (thiếu ông Phạm Nguyễn Quang T5 ông Phạm Minh S),
vi phạm vmặt tố tụng. Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã đưa ông Phạm Nguyễn
Quang T5 ông Phạm Minh S vào làm người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
các đương sự này đã có lời khai xác nhận không ý kiến đối với bản án
thẩm, không có yêu cầu gì trong vụ án này. Như vậy, cấp phúc thẩm đã khắc phục
thiếu sót cho cấp thẩm không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của các đương sự nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thái H Phạm Thị
Thu T1:
ông H, T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông T về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đã giữa hai bên; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy 02 hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011 giữa ông H, T1
ông T, ông H, T1 chỉ cho T2 (mẹ T1) mượn quyền sử dụng các
thửa đất tranh chấp để làm thủ tục thế chấp vay tiền, không có việc ông bà chuyển
nhượng đất cho ông T như nguyên đơn khai. Xét yêu cầu này của bị đơn thì thấy:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Anh T:
[2.1.1] Xét tính hợp pháp của 02 hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông H, bà T1 với ông T:
Tại cấp sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận
02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất ngày 12-01-2011 giữa ông H,
T1 với ông T tại Văn phòng công chứng L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (Bl 123-
126) được các bên xác lập một cách hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay
lừa dối. Nội dung hợp đồng không trái pháp luật đạo đức hội. Thời điểm
kết 02 hợp đồng trên, các bên đều năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo xác
nhận của công chứng viên. Bản thân ông H, bà T1 cũng nhận thức rõ nội dung của
02 hợp đồng này chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T. Về hình thức,
02 hợp đồng này đều được lập tại Văn phòng công chứng L được công chứng
theo đúng quy định của pháp luật. Ông T đã tiến hành thủ tục đăng sang tên
quyền sử dụng đất chuyển nhượng nhưng chưa được đăng sang tên đơn
ngăn chặn của ông H, T1. Như vậy, xét cả về nội dung hình thức, 02 hợp
đồng trên đều đảm bảo đúng theo quy định tại các điều 689, 691, 697, 698 Bộ luật
dân sự 2005 nên đây là hợp đồng hợp pháp.
[2.1.2] Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng:
10
Theo nguyên đơn ông T thì ông đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của bên
nhận chuyển nhượng theo 02 hợp đồng trên giao đủ số tiền 600.000.000 đồng
(mỗi hợp đồng là 300.000.000 đồng) cho ông H, bà T1 và nhận bàn giao quyền sử
dụng các thửa đất từ bị đơn, nhận 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với các thửa đất chuyển nhượng. Đồng thời, bên chuyển nhượng là ông H,
T1 cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của htheo 02 hợp đồng trên là
nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng từ ông T, bàn giao quyền sử dụng đất và bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. Xét lời khai này của ông T
căn cứ, phợp với các chứng cứ ông T cung cấp Tòa án thu thập
được, cụ thể:
Mặc dù, khi giao nhận tiền, quyền sử dụng đất giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, các bên không lập biên bản giao nhận cụ thể, nhưng tại Điều 3 của cả
hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011 (Bl 123-126)
ghi nhận: Bên A nghĩa vụ giao thửa đất nêu tại Điều 1 của hợp đồng này
cùng giấy tờ quyền sử dụng đất (bản chính) cho bên B sau khi bên A đã nhận đủ
số tiền đã thỏa thuận trong hợp đồng”. Trên thực tế, ông T đang giữ bản chính 02
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý, sử dụng các thửa đất nhận chuyển
nhượng. Do vậy, căn cứ vào nội dung tại Điều 3 của 02 Hợp đồng nêu trên thì bên
chuyển nhượng ông H, T1 đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng theo hợp
đồng nên mới bàn giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. Mặt
khác, tại đơn xin tạm ngưng việc làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do chính ông H, T1 lập ngày 22-7-2011 (Bl 12), bị đơn đã xác nhận:
“… người mua mới chỉ trả cho vợ chồng tôi giá trị hai thửa đất nêu trên
600.000.000 đồng thấy oan ức quá cho vợ chồng tôi”. Như vậy, bản thân bị đơn
cũng đã thừa nhận đã nhận số tiền 600.000.000 đồng từ nguyên đơn. Đây chính là
số tiền nguyên đơn phải trả cho bị đơn theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
Ngoài mức giá 600.000.000 đồng này, các bên đều xác nhận không mức giá
chuyển nhượng nào khác. Số tiền 3.000.000.000 đồng mà bị đơn đề cập trong đơn
xin tạm ngưng làm thủ tục sang tên trên được bị đơn xác nhận tại phiên tòa phúc
thẩm là do mình tự nghĩ ra, không có căn cứ nào khác.
Như vậy, Hội đồng xét xử căn cứ để kết luận: Nguyên đơn bị đơn đã
thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo nội dung 02 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011.
[2.1.3] Xét yêu cầu của ông T về việc được sở hữu hàng rào bao quanh các
thửa đất 303, 306, 307, 314 tờ bản đồ số 02 xã T:
Mặc trên các thửa đất trên tại thời điểm chuyển nhượng đã các đoạn
tường rào do ông H, bà T1 xây dựng nhưng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 12-01-2011 đối với các thửa đất 303, 306, 307, 314 tờ bản đồ số
02 xã T, các bên không thỏa thuận về tài sản này, các bên cũng không lập văn bản
thỏa thuận riêng về việc mua bán tài sản này. Theo ông T, do các đoạn tường rào
này gắn liền trên đất chuyển nhượng nên khi thỏa thuận chuyển nhượng đất là đã
bao gồm tường rào. Tuy nhiên, phía bị đơn không thừa nhận yêu cầu hủy toàn
bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu. Xét, trong hợp đồng
11
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011 không nội dung đề cập
đến việc mua bán hàng rào gắn liền trên các thửa đất trên, nhưng do đây tài sản
gắn liền trên đất, các bên đã thỏa thuận chuyển nhượng các thửa đất này cho ông
T nên ông T được sở hữu hàng rào trên đất phù hợp. Tuy nhiên, ông T phải
nghĩa vụ thanh toán giá trị hiện còn của các đoạn tường rào này cho nguyên đơn
theo mức giá Hội đồng định giá xác định 59.980.000 đồng. Do đó, cần sửa
bản án sơ thẩm về nội dung trên.
[2.1.4] Về diện tích đất chuyển nhượng: Các bên thống nhất xác định theo
kết quả đo đạc thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận xác định theo đồ vị trí
đã được lập ở cấpthẩm.
[2.1.5] Từ những căn cứ nhận định trên, Hội đồng xét xcăn cứ kết
luận: Cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T về việc
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất căn cứ và phù hợp
quy định của pháp luật. Riêng đối với yêu cầu về việc được sở hữu tường rào gắn
liền trên các thửa 303, 306, 307, 314 tờ bản đồ số 02 T thì cần sửa bản án
thẩm như đã phân tích tại mc [2.1.3].
[2.2] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Thái H, Phạm Thị
Thu T1:
Ông H, T1 yêu cầu hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số công chứng 107 và 108 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12-01-2011
đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 các thửa đất số 117, 119 tờ bản
đồ số 02 T, huyện L; buộc ông T phải trả lại cho bị đơn 01 Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 702543 do y ban nhân dân huyện L cấp ngày 10-7-
2006 và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số AĐ 739690 do Ủy ban nhân
dân huyện L cấp ngày 29-01-2007 đứng tên ông H, bà T1.
[2.2.1] do bị đơn đưa ra để yêu cầu hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên do việc kết 02 hợp đồng trên chỉ nhằm đảm
bảo cho việc Nguyễn Thị T2 (mẹ T1) vay tiền của ông Trần Anh T ông
Phạm Văn D, còn thực chất giữa nguyên đơn bị đơn không việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thật. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị T2 cũng khẳng định bà và chồng là ông Phạm Ngọc T3 có vay số tiền
2.100.000.000 đồng của ông T ông D nhưng do vợ chồng không tài sản
bảo đảm nên nhờ con gái con rể Phạm Thị Thu T1, ông Nguyễn Thái H
02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 12-01-2011 với nội
dung ông H, T1 chuyển nhượng các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314
thửa 117, 119 tờ bản đồ số 02 T, huyện L cho ông T với giá 600.000.000 đồng
để đảm bảo cho việc trả nợ của vợ chồng bà. Tuy nhiên, lời khai này của bị đơn
T2 không được ông T thừa nhận. Người làm chứng ông Phạm Văn D cũng
lời khai khẳng định ông D không liên quan đến việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa nguyên đơn bị đơn, ông D cho bà T2 vay 500.000.000
đồng và bà T2 đã trả xong cho ông D, khoản nợ này không liên quan đến ông T và
ông H, bà T1.
12
[2.2.2] Chứng cứ thứ nhất T2 cung cấp để chứng minh cho lời khai
của mình 01 giấy đóng lãi 06 cuốn sổ đỏ ngày 16-6-2011 (Bl 246), với nội
dung: Hôm nay 16-6-2011, tôi Phạm Ngọc T3, sinh năm 1956 cùng vợ Nguyễn
Thị T2, sinh m 1960 hiện ngụ tại tổ 13, số nhà 15 ấp P, H đưa tháng
5.2011 cho ông Phạm Văn D 1970 quận B, đường Đ, chú Trần Anh T đường N,
phường M, quận B, đưa 2 lần 500.000.000 đồng, số tiền này vợ chồng tôi mượn
của Nguyễn Thị M, sinh năm 1966 đường C, phường B, thành phố V”. Ngoài
ra, trong tờ giấy này còn một số dòng chữ khác được ghi bằng nét bút khác
chèn vào khoảng trống giữa các dòng chữ nêu trên nội dung: Giấy đóng lãi 6
cuốn sổ đ con Phạm Nguyễn Quang T6 sinh năm 1988 con gái tôi Phạm
Thị Thu T1 sinh năm 1978 T khi T cùng chú D xuống để giao sổ đỏ cho con
tôilần thứ 2 16.6.2011 T D giao sổ công chứngcùng vợ chồng con tôi
T1 H mượn của stiền này tôi mượn M năm trăm triệu trả tiền đóng
lãi cho chú Trần Anh T chú D vào ngày 16-6-2011 cùng con tôi công chứng
M”. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 29-01-2021, T2 thừa nhận những dòng chữ
ghi chèn thêm này do tghi vào cho sau khi ông D đã ký vào tờ giấy đó.
Phần cuối của tờ giấy trên chữ ghi htên Nguyễn Thị T2, Phạm Ngọc T3
Phạm Văn D, riêng dòng chữ Người nhận tiền Trần Anh TT2 thừa nhận
do bà tự ghi vào chứ không phải chữ viết của ông T.
Qua xem xét nội dung tờ giấy trên và lời khai của bà T2, bà M, ông T, ông D,
nhận thấy: Đây là tờ giấy ghi nhận việc vợ chồng T2, ông T3 vay của M
500.000.000 đồng để đưa cho ông D (với sự mặt của ông T) nhưng không nêu
là tiền gì. T2 M khẳng định đây là khoản tiền bà T2 vay của bà M
để trả lãi cho khoản vay của ông D ông T nhưng ông T ông D không thừa
nhận điều này. Ông T khai mt lần đi cùng ông D xuống nhà M V nhưng
không biết gì về việc bà T2 vay tiền ông D, ông không nhận tiền gì của bà T2 hay
M không vào bất cứ giấy tờ gì liên quan đến việc trả tiền giữa T2 với
ông D. Còn ông D xác nhận vào tờ giấy làm chứng cho việc bà T vay tiền
M đtrả nợ cho ông nhưng khoản nợ này T2 vay riêng ông chứ không liên
quan gì đến ông T (Bl 381-383).
N vậy, nội dung tờ giấy u trên không có nội dung o thhiện việc T2
vay tiền của ông Tu việc chuyn nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà T1
với ông T là để đảm bảo cho việc vay nợ đó. Rng đối với nhữngng chữ bà T2 tự
ghi chèn o các chỗ trống trong tờ giấy trên bằng nét t khác sau khi ông D đã
không được người o kc c nhận nên không giá trị chứng minh.
[2.2.3] Chứng cứ thứ hai T2 cung cấp cho Tòa án 01 tờ giấy nội
dung: “Chị T3 có mượn của chị M số tiền là 150.000.000 đồng đưa cho ông Phạm
Văn D(Bl 247), chcủa người làm chứng ông Phạm Văn D. Theo
T2 thì khoản tiền này nằm trong số tiền 500.000.000 đồng bà vay của Mai
để trả lãi cho ông T ông D (như đã u mục [2.2.2]). Còn ông D khai
làm chứng việc bà T2 vay số tiền 150.000.000 đồng của M để trả cho ông
nhưng khoản tiền này không liên quan gì đến ông T (Bl 381-383).
13
Xét, trong tờ giấy trên không đề cập gì đến ông T, không chữ ký, chữ viết
nào của ông T chỉ thể hiện việc T2 vay số tiền 150.000.000 đồng của M
để trả cho ông D. Điều này chứng minh lời khai của ông D vviệc cho T2
vay tiền riêng là có căn cứ và khoản tiền này không liên quan gì đến ông T.
[2.2.4] Bà T2 còn cung cấp cho Tòa án 01 Hợp đồng ủy quyền số 36/HĐ-UQ
ngày 16-6-2011, tại Văn phòng công chứng Đ (nay Văn phòng công chứng N)
giữa ông Nguyễn Thái H, Phạm Thị Thu Th với ông Nguyễn Hữu P (Bl 149-
151) 01 Hợp đồng ủy quyền giữa ông Phạm Nguyễn Quang T6 với ông
Nguyễn Hữu P ngày 09-4-2011 tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Rịa-Vũng Tàu
(Bl 144-147). Theo bà T2 người làm chứng ông Nguyễn Hữu P
Nguyễn Thị M thì sở dĩ có 02 hợp đồng ủy quyền này là sau khi T2 vay tiền
của ông T, ông D không khả năng trả lãi nữa nên đã gặp nhờ ông P lấy
danh nghĩa Công ty M của ông P để vay tiền Ngân hàng lấy tiền trả cho ông T và
ông D. Sau khi ông T ông D đồng ý thì đã cùng ông H, bà T1, M và ông P
đến Văn phòng công chứng Đ (nay Văn phòng công chứng N) đlập hợp đồng
ủy quyền cho ông P được toàn quyền sử dụng các thửa đất tranh chấp. Khi đến
Văn phòng công chứng Đ, ông T và ông D mang theo bản chính 02 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông H, bà T1. Tuy nhiên, ông T và ông D không
thừa nhận lời khai này của T2, ông P M. Cả ông T ông D đều khẳng
định không biết liên quan đến các hợp đồng ủy quyền trên không việc
hai người này mang bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Văn phòng
công chứng Đ như bà T2, ông P và bà M khai.
Xét, các hợp đồng ủy quyền nêu trên sự thỏa thuận giữa ông H, T1 với
ông P, không sự tham gia của ông T. Hợp đồng này sau đó cũng đã được các
bên liên quan thỏa thuận hủy bỏ do ông T không giao bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để làm thủ tục vay tiền. Như vậy, chính bị đơn, bà T2 và ông P
cũng đã thừa nhận là ông T không đồng ý với sự ủy quyền trên nên mới không
giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. vậy, lời khai của ông T v
việc ông không biết không đồng ý cho bị đơn dùng quyền sử dụng đất đã
chuyển nhượng cho ông T ủy quyền cho ông P thế chấp vay tiền là có căn cứ. Mặt
khác, nếu việc ông T đồng ý cho ông H, bà T1 hợp đồng ủy quyền nêu trên
thì điều đó cũng không nghĩa là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông H, T1 với ông T giả cách. trên thực tế, sau khi hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất thực sự, các bên vẫn thể thỏa thuận để cho
bên chuyển nhượng được nhận chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất đó theo giá
thỏa thuận. vậy, đây không phải căn cứ để hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn.
[2.2.5] Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng: Vì hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bị đơn không
thật nên thực tế bị đơn vẫn quản lý, sdụng các thửa đất tranh chấp không
căn cứ. qua xem xét, thẩm định tại chỗ lời khai của các bên đều thừa nhận
các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 tờ bản đồ số 02 T, huyện L hiện nay
đất trống, ngoài một sđoạn tường rào bao quanh thì trên các thửa đất này không
nhà cửa, cây cối, hoa màu khác. Còn trên thửa 117, 119 tờ bản đồ số 02
14
T, huyện L thì hiện ông H, T1 đang trồng lúa. Theo ông T, sau khi nhận đất từ
bị đơn, do ông xa và chưa có nhu cầu sử dụng nên chưa đầu tư xây dựng gì trên
các thửa đất này, việc ông H, bà T1 tự ý trồng lúa trên đất tranh chấp ông đã trình
báo chính quyền địa phương nhưng do ông chưa được sang tên quyền sử dụng đất
nên chưa được giải quyết.
[2.2.6] Về ý kiến của Luật cho rằng ông T không đủ điều kiện nhận
chuyển nhượng đất trồng lúa do không giấy xác nhận hộ trực tiếp sản xuất
nông nghiệp của cấp thẩm quyền: Căn cứ Đơn xin xác nhận hộ nông nghiệp
của ông T được Ủy ban nhân dân phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
xác nhận (Bl 128) thì ông T đủ điều kiện để được nhận chuyển nhượng đất
trồng lúa. Vì vậy, ý kiến của luật sư không được chấp nhận.
[2.2.7] Đối với lời khai của người làm chứng Võ Thị Như H1: Bà H1 khai có
nhận khoản tiền 1.800.000.000 đồng từ ông T tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh
P, (ông T rút tiền mặt ttài khoản tại Ngân hàng này giao cho ). Trước đó,
cho T2 vay tiền cầm 5-6 cuốn “sổ đỏ” của T2. Tuy nhiên, H1
không nhớ ngày tháng giao nhận, không biết sao ông T giao tiền cho mình (Bl
498). Lời khai này của bà H1 không phợp với Văn bản trả lời của Ngân hàng
Agribank Chi nhánh P về việc ông T không tài khoản tiền gửi thanh toán tại
Ngân hàng này (Bl 496). Vì vậy, lời khai này không có căn cứ để chấp nhận.
[2.2.8] Ngoài những chứng cứ lnêu trên, bị đơn, luật bảo vệ quyền
lợi cho bị đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan T2 không đưa ra
được chứng cứ, tài liệu nào khác chứng minh việc kết các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất ngày 12-01-2011 giữa ông T với vợ chồng ông H,
T1 chỉ là hợp đồng giả cách nhằm đảm bảo cho việc vay tiền của bà T2.
[2.2.9] Mặt khác, trong “Đơn xin tạm ngưng việc m thủ tục sang tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất” lập ngày 22-7-2011 (Bl 12), chính ông H, T1
cũng xác nhận: “Vào khoảng tháng 01-2011, tôi và chồng tôi là ông Nguyễn Thái H
hợp đồng chuyển nhượng 02 quyền sử dụng thửa số 303, 305, 306, 307,
314 tờ bản đồ số 02 diện ích 4.116 m
2
; Thửa đất 117, 119 tờ bản đồ số 02
diện tích 5.017 m
2
cho một người quen của mẹ ruột tôi Thành phố Hồ Chí
Minh. Do mẹ tôi giới thiệu nói với vợ chồng tôi hai thửa đất trên người
mua với giá n 3 tỷ đồng ”. Đồng thời, tại Biên bản hòa giải ngày 11-8-2011
của Ủy ban nhân dân xã T (Bl 10-11), ông H, bà T1 cũng trình bày: Ông H, bà T1
đồng ý với nội dung trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã công
chứng tại Văn phòng công chứng L, nhưng bên chuyển nhượng chưa nhận được số
tiền hai bên đã thoa thuận từ bên nhận chuyển nhượng anh Trần Anh T, số
tiền 600.000.000 đồng”. Tại các văn bản trên, bị đơn đều xác nhận có ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ngun đơn và đồng ý với nội dung các hợp
đồng chuyển nhượng đã ký, hoàn toàn không đề cập đến việc vay nợ của T2
và không hề khẳng định c hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký với
nguyên đơn là giả cách nhằm đảm bảo cho việc vay tiền của bà T2.
[2.2.10] Từ những căn cứ phân tích như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm
đủ căn cứ kết luận: Yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy 02 hợp đồng
15
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12-01-2011 giữa nguyên đơn bị
đơn là không căn cứ nên không được chấp nhận. Cấp thẩm tuyên không
chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn phù hợp quy định của pháp luật nên cần
giữ nguyên.
[2.3] Từ những căn cứ được nêu và phân tích tại mục [2.2] và [2.3], Hội đồng
xét xử thống nhất chỉ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản
án thẩm về phần thanh toán gtrị tường rào như đã nêu trên, các phần khác
giữ nguyên như án sơ thẩm.
[2.4] Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N1 và bà Lê Thị T7:
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N1 bà T7 đã rút đơn yêu cầu độc lập
nên Tòa án cấp thẩm ra Quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông
N1 T7 phù hợp. Hiện nay, hợp đồng thuê đất giữa ông N1, T7 với bị đơn
đã hết hạn vào năm 2016, ông N1 T7 đã tdi dời tài sản trên đất không yêu
cầu gì trong v án nên cấp sơ thẩm không giải quyết là phù hợp.
[2.5] Tại phiên tòa thẩm, bà Nguyễn Thị M cung cấp 02 tờ giấy viết tay
tạm ứng tiền mua bán đất (có chữ viết ba mặt giấy) ghi các ngày 15-8-2012, 24-
6-2013, 31-3-2011 giữa ông H, bà T1 và M (BL 521-522) nhưng không yêu
cầu về việc giải quyết vấn đề này. Tại phiên tòa phúc thẩm, M ông H, bà
T1 đều xác nhận nội dung các tờ giấy này chỉ ghi nhận việc M cho ông ông H,
T1 vay tiền bị đơn cam kết nếu sau khi Tòa án giải quyết xong vụ án này
bị đơn đòi lại được các thửa đất tranh chấp thì sẽ chuyển nhượng lại cho M.
Như vậy, đây chưa phải văn bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng các
thửa đất tranh chấp và bản thân bà M và ông H, bà T1 cũng không yêu cầu xem xét
giải quyết các thỏa thuận trên nên cấp thẩm không giải quyết phợp. Nếu
sau này các bên phát sinh tranh chấp thì quyền kiện vụ án khác theo quy định
của pháp luật.
[2.6] Về chi phí đo vẽ, định giá trong vụ án: Tổng cộng chi phí đo vẽ định g
2.500.000 đồng + 5.355.000 đồng = 7.855.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông
T được chấp nhận nên ông H, bà T1 phải chịu toàn bộ chi phí trên. Ông T đã nộp tạm
ng đủn ông H, T1 có nghĩa vụ hn trả cho ông T 7.855.000 đồng.
[2.7] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận một phần, yêu cầu phản tố của
ông H, bà T1 không được chấp nhận nên ông H, T1 phải chịu án phí dân s
thẩm không giá ngạch theo quy định, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng
tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông T phải chịu án phí trên số tiền giá trị hàng rào phải trả cho ông H, T1
59.980.000 đồng x 5% = 2.999.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 14.200.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp. Ông T được nhận số tiền tạm ứng án phí còn dư.
[2.8] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận một phần nên ông
H, T1 không phải chịu án phí dân sphúc thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm đã nộp.
16
Vì các lẽ trên,
QUYẾTĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật t tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thái H, Phạm Thị
Thu T1, sửa một phần bản án sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 228, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; c điều: 688, 689, 690,
691, 697, 698, 699, 700, 701 702 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26, Điều 27,
Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T về việc “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất” đối
với vợ chồng ông Nguyễn Thái H và bà Phạm Thị Thu T1.
2. Buộc ông Nguyễn Ti H bà Phạm ThThu T1 nghĩa vụ tiếp tục thc
hiện Hợp đồng chuyn nhượng quyền sdụng đất ngày 12-01-2011 vi ông Trần
Anh T tại n png công chứng L (có s công chứng 107,quyn số 01 TP/CC-
SCC/GD ngày 12-01-2011) đối với c tha đất số 303, 305, 306, 307, 314 tờ bản
đồ số 02, T, huyn L, tỉnh Bà Rịa-Vũngu Hp đồng chuyn nng quyn s
dụng đất ký ngày 12-01-2011 với ông Trần Anh T tại n phòng công chứng L (có s
công chứng 108, quyển số 01 TP/CC-SCC/GD ngày 12-01-2011) đối vi c tha
đất số 117, 119 tbản đs02, T, huyn L, tỉnh Bà Rịa-Vũng u.
3. Ông Trần Anh T trách nhiệm liên hệ quan nhà nước thẩm quyền
để đăng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 tờ
bản đồ số 02, T, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (diện ch 4005,1 m
2
đất nông
nghiệp) các thửa đất số 117, 119 tờ bản đồ số 02, T, huyện L, tỉnh Rịa-
Vũng Tàu (diện tích 5014,6 m
2
đất nông nghiệp).
Diện tích vị trí các thửa đất số 303, 305, 306, 307, 314 được xác định theo
đồ vị trí ngày 12-11-2015; diện tích và vị trí các thửa đất số 117, 119 được xác
định theo đồ vị trí ngày 28-12-2011 của Văn phòng đăng quyền sử dụng đất
huyện L (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L), kèm theo bản án.
4. Ông Trần Anh T được sở hữu toàn bộ hàng rào gắn liền với c thửa đất số
303, 305, 306, 307, 314 tờ bản đồ số 02, T, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu,
nhưng phải thanh toán cho ông Nguyễn Thái H Phạm Thị Thu T1 số tiền
59.980.000 (năm mươi chín triệu, chín trăm tám mươi ngàn) đồng.
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thái H Phạm Thị
Thu T1 về việc yêu cầu hủy b02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
số công chứng 107 108 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12-01-2011 tại
Văn phòng công chứng L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, đối với các thửa đất số 303, 305,
306, 307, 314 và các thửa đất số 117, 119 cùng tờ bản đồ s 02, xã T, huyện L, tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu.
17
6. Về chi phí đo vẽ, định giá: Ông Nguyễn Thái H Phạm Thị Thu T1
phải hoàn trả cho ông Trần Anh T số tiền 7.855.000 (bảy triệu, tám trăm năm mươi
lăm ngàn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui
định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
7. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thái H, Phạm Thị Thu T1 phải nộp
300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự thẩm, được khấu trừ vào số tiền
200.000 (hai trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 018460
ngày 20-8-2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền. Ông H, T1
còn phải nộp 100.000 (một trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm.
Ông Trần Anh T phải nộp 2.999.000 (hai triệu, chín trăm chín mươi chín
ngàn) đồng án phí dân ssơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 14.200.000 (mười
bốn triệu, hai trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 014627
ngày 23-11-2011 biên lai thu tiền số 024021 ngày 18-02-2014 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa-Vũng Tàu. Ông T được hoàn trả lại
11.201.000 (mười một triệu, hai trăm lẻ một ngàn) đồng tạm ứng án phí còn dư.
8. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Thái H, Phạm Thị Thu T1 không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông H, bà T1 số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002614 ngày 03-12-
2019 của Chi cc Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
9. Bản án dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03-02-
2021).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BR-VT;
- TAND H. Long Điền, tỉnh BR-VT;
- VKSND H. Long Điền, tỉnh BR-VT;
- Chi cục THADS H. Long Điền, tỉnh BR-VT;
- Các đương sự;
- Lưu: Tòa Dân sự, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Cao Minh Vỹ
18
19
Tải về
Bản án số 21/2021/DS-PT Bản án số 21/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất