Bản án số 207/2022/DS-PT ngày 04/10/2022 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 207/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 207/2022/DS-PT ngày 04/10/2022 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 207/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/10/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 207/2022/DS-PT
Ngày 02 8 2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên tòa: m Ngọc Trâm,Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê
Thị Màu Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 83/2022/TLPT-DS ngày 25 tháng 4
năm 2022 v vic: Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sthẩm số: 15/2022/DS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 93/2022/QĐ-PT ngày 01
tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:Nguyễn Thị H1, sinh năm 1951 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm Hàng Vịnh, TT. Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Trần Viết L1, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện N, tỉnh C ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Chí L2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
(vắng mặt).
2/ Ông Quốc H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp Bùng Binh, xã Hưng Mỹ,
huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).
3/ Kim L3, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng).
2
4/ Trần Thị C1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp Xóm Lớn Trong, Hàng
Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
5/ Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp Láng Chiếu, Đất
Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
6/ Ông Văn Chí P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Ô, Đ, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng).
7/ Ông Phạm Duy T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp CLà, Lâm Hải,
huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).
8/ Ông Đinh n K1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp Đồng Khởi, Tân Ân
Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
9/ Trần Thị Bích D, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khóm Tắc Nămn, thị trn
Nămn, huyn Năm Căn, tỉnh Mau (Xin vắng).
10/ Ông Trần Ngọc N1, sinh năm 1939; Địa chỉ: Khóm H, thị t, huyện N,
tỉnh C . (Xin vắng).
11/ Ông Đặng Văn C2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp Lung Đước, Tam
Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt);
12/ Ông Huỳnh Văn H4, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện N,
tỉnh C . (Xin vắng).
13/ Ông Văn Chí T2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp Ô, Đ, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng);
14/ Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh
C . (Vắng mặt).
15/ Thị X, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng).
16/ Văn Thị C3, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp Ô, Đ, huyện N, tỉnh C .
(Vắng mặt).
17/ Ông Đặng Minh L4, sinh năm 1976 và bà Lê Thị L5, sinh năm 1978; Địa
chỉ: Ấp V, xã T, huyện N, tỉnh C . (Vắng mặt).
18/ Ông Trần Công L6, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện N, tỉnh
C . (Xin vắng).
19/ Ông Tấn T3, sinh năm 1946 và Nguyễn Thị N2, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Khóm 2, thị t, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
3
20/ Anh Nguyễn Kim T4, sinh năm 1989 Nguyễn Thị Kiều T5, sinh
năm 1967; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
21/ Ông Nguyễn n L7, sinh năm 1965 Nguyễn ThKiều T5, sinh
năm 1967; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
22/ Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1982 và ông Nguyễn Văn K2, sinh năm
1960; Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
23/ Ông i Công T6, sinh năm 1973 và i Phước H6, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng);
- Người kháng cáo: Ông Trần Viết L1 - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 6 m 2020 trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị H1 trình bày:
H1 yêu cầu ông L1 trả lại phần đất diện tích lấn chiếm là 2.400m
2
tọa lạc
tại khóm Hàng Vịnh, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Nguồn gốc đất của bà H1 và anh ruột bà là ông Nguyễn Văn Sừ nhận chuyển
nhượng của ông Phạm Bạch Đằng diện tích 95.000m
2
, phần đất ông Sừ chia
đôi, cắm ranh mốc cây tràm bông vàng làm mốc giới phần đầu đất, cây me
nằm trên ranh đất cắm trụ đá phần cuối đất. H1 đã được Ủy ban nhân dân
huyện Ngọc Hiển (nay là huyện Năm Căn) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
diện tích 31.000m
2
, ngày 21/10/1992, vị trí tứ cận được xác định tvị trí ranh đất
giữa ông Trịnh Văn Phải gốc mắm, phần hậu đất là gốc cây nhào tính từ gốc
mắm đến vị trí gốc cây me giáp ranh nhà ông L1 là 70,6m.
Khoảng năm 2015, ông L1 vào gặp hỏi ý định kêu H1 chia lại ngang 02m
đất mặt tiền chạy lên thì H1 không đồng ý. Sau đó ông L1 làm tờ giấy trắng nói
với bà H1 là ký tên vào tờ giấy để ông L1 sang nền nhà, do lớn tuổi với nghĩ là tình
nghĩa nên đã vào. Đến khi Nhà nước quy hoạch thì mới phát hiện đất bị lấn
chiếm.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Viết L1 trình bày:
Năm 2000, cha ông ông Trần Hoàng Chen với ông Thành Tính,
Quốc Danh hùn tiền mua đất của ông Hận diện tích 3,4ha, vị trí tứ cận: Đông giáp
rạch Ông Do; Tây giáp đất ông Thông; Nam giáp lộ thị trấn Năm Căn; Bắc giáp
đất H1. Ông Chen ông Tính thỏa thuận cắm mốc xác định bờ ranh của
4
mỗi bên nữa bờ ranh, mặt rộng tại điểm cắm mốc 4,3m chạy dài lên tới hậu,
bà H1 đồng ý. Ngày 15/5/2001, Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hiển cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất 17.088m
2
. Sau khi được cấp sổ thì ông L1 đã chuyển
nhượng cho nhiều người và các diện tích đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Diện tích đất của ông L1 hiện nay còn lại 1.897,5m
2
đất nằm
trong quy hoạch nên đã bị thu hồi diện tích 1.846,5m
2
còn thiếu 51m
2
so với giấy
chứng nhận được cấp. Ông L1 xác định không lấn đất H1 nên không đồng ý
yêu cầu khởi kiện của H1. Ông xác định không yêu cầu H1 ký giấy trắng
như bà H1 trình bày.
Ông L1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của H1 do ông L1
không lấn chiếm đất của bà H1.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: những người nhận chuyển
nhượng phần đất của ông L1 trình bày
Các đương sxác định nhận chuyển nhượng đất từ ông L1, việc chuyển
nhượng hợp pháp, ngay tình, được pháp luật công nhận đã cấp chứng nhận
quyền sử dụng đất, đất đã bị thu hồi nên việc tranh chấp giữa ông L1 với H1
không liên quan đến các đương sự nên không có ý kiến gì và không cung cấp thêm
tài liệu. Xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, kể cả xét xử và xin từ
chối nhận văn bản tố tụng.
Tại Bản án dân sự thẩm số:15/2022/DS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 đối với
ông Trần Viết L1. Buộc ông Trần Viết L1 trả lại cho Nguyễn Thị H1 giá trị đối
với ½ diện tích đất số tiền 36.834.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà H1 đối với ông L1 trả diện tích đất còn lại
là 263,1m
2
, giá trị là 36.834.000 đồng.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/3/2022, ông Trần Viết L1 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn đối với diện tích đất 526,2m
2
tọa lạc tại khóm Hàng Vịnh, thị trấn
Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
5
Phần tranh luận ông L1 trình bày: Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ông đã chuyển nhượng một phần cho các hộ dân đã cắm mốc cụ thể,
có bà H1 ký tứ cận, những hộ dân nhận chuyển nhượng có người khoan cây nước ở
cuối hậu đất tức trên phần đất đang tranh chấp hiện nay nhưng từ khi chuyển
nhượng đến nay H1 không ý kiến đất bị thu hồi còn thiếu so với giấy
chứng nhận được cấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội
đồng xét xử những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, sửa bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân dân huyện m Căn theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà H1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông L1 giao trả phần đất diện
tích 526,2m
2
, giá trị 140.000 đồng/m
2
, đất tọa lạc tại khóm Hàng Vịnh, thị trấn
Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Ông L1 xác định không có lấn đất ông
H1. Án thẩm chp nhận mt phn yêu cu khi kiện của ngun đơn n b đơn
kháng cáo.
[2] Xét kháng cáo của ông L1, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần đất các đương
sự đang tranh chấp diện tích 526,2m
2
.
Phần đất của bà H1: m 1985 H1 và anh ruột ông Nguyễn Văn Sừ
nhận chuyển nhượng của ông Phạm Bạch Đằng diện tích 95.000m
2
. Sau khi nhận
chuyển nhượng đất thì ông Sừ chia đôi, cắm ranh mốc ràng. Đến năm
1992 H1 được Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hiển (nay là huyện Năm Căn) cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 31.000m
2
Phần đất ông L1 quản nguồn gốc tcha ruột ông Trần Hoàng Chen
tặng cho ông, năm 2000 cha ông là ông Trần Hoàng Chen với ông Thành Tính,
ông Quốc Danh hùn tiền mua đất của ông Hận diện tích 3,4ha. Thời điểm này
ông Chen, ông Tính H1 đã thỏa thuận cắm mốc xác định ranh giới. Ngày
15/5/2001, ông L1 được Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hiển cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất diện tích là 17.088m
2
, trong quá trình quản ông L1 đã chuyển
nhượng cho nhiều người các phần đất đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, ông L1 còn lại diện tích là 1.897,5m
2
.
[3] Các tài liệu chứng cứ thể hiện tại hồ lời trình bày của đương sự tại
phiên tòa thể hiện: Phần đất tranh chấp ngang 03m, dài từ tiền đến hậu đất ông L1,
6
theo ông L1 trình bày hiện trạng phần đất tranh chấp trước đây nữa con mương
nữa cái bờ, đất tranh chấp do phía gia đình ông L1 quản lý, một thời gian thì
chuyển nhượng cho các hộ dân khác cả phần đất tranh chấp hiện nay, sau khi
chuyển nhượng thì phần đất ông L1 n lại diện tích là 1.897,5m
2
, ngày
12/12/2019, Nhà nước thu hồi diện tích là 1.846,5m
2
. Như vậy diện tích đất ông L1
bị thu hồi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L1 được cấp thì còn thiếu
51m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[4] H1 xác định khi ông L1 chuyển nhượng cho nhiều người nhưng
không cho giáp ranh nên ông L1 lấn đất của bà, không hay biết đến khi
thu hồi đất thì diện tích đất bị thiếu nên mới phát hiện. Xét thấy, khi ông L1
chuyển nhượng đất thì những người nhận chuyển nhượng đã quản đất từ năm
2006, 2007 đến nay H1 cũng không ý kiến , mc H1 cũng liền kề
với phần đất tranh chấp nên việc H1 cho rằng không giáp ranh nên không
biết ông L1 chuyển nhượng cả phần đất của là không phù hợp, hơn nữa đối với
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K2, ông
Nguyễn Văn B chữ ký của bà H1 ký giáp ranh
[4.1] Giấy chứng nhận quyền s dụng đất của ông L1, sau khi ông L1
chuyển nhượng cho nhiều người thì ông L1 cấp đổi sngày 23/10/2010, diện tích
đất ông L1 còn lại là 5.183,7m
2
, thủ tục đổi sổ nàybà H1 ký xác nhận tứ cận.
[4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm ông L1 cung cấp thêm hai hình ảnh chụp trước
khi giải phóng mặt bằng, theo ông L1 lộ xi măng do H1 xây dựng làm lối đi
cho khu nhà trọ của bà H1 và hết lộ xi măng bà H1 xây cột bê tông thể hiện rõ ranh
đất hai bên. Hình ảnh ông L1 cung cấp phù hợp với thực tế quản lý đất, trường hợp
phần đất tranh chấp của H1 thì sao xây dựng lộ tông chừa lại đất
tranh chấp 03m để ông L1 quản lý từ trước đến nay là không phù hợp.
[4.3] Hơn nữa, theo ranh đất H1 chỉ để tiến hành đo đạc thì kết quả đo
đạc của Trung tâm công nghệ quan trắc Tài nguyên Môi trường ngày
06/10/2020 thì phần đất ông L1 đang quản lý là 15.561,6m
2
, H1 đang quản lý là
30.046,3m
2
chưa tính phần đất tranh chấp với ông , nếu cộng cả phần thỏa thuận
với ông 1.082,4m
2
thì tổng diện tích H1 quản 31.128,7m
2
nhiều hơn
giấy chứng nhận H1 được cấp. Quá trình sử dụng đất, ngày 17/01/2020, Nhà
nước thu hồi phần đất của H1 diện tích là 29.241,1m
2
cho thấy bà H1 không biết
rõ ranh đất bà H1 quản lý nên diện tích đất thu hồi không trùng với diện tích đất
H1 xác định tại kết quả đo đạc của Trung tâm ng nghệ quan trắc Tài nguyên
7
Môi trường ngày 06/10/2020 thì phần đất H1 đang quản 30.046,3m
2
(chưa
tính phần đất tranh chấp với ông Bé).
[5] Thực tế khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ
tầng kỷ thuật khu tái định Khu kinh tế m Căn, khi thực hiện thủ tục thu hồi
thì bà H1 cũng không khiếu nại gì đối với thtục đất của bà và của ông L1, trường
hợp H1 xác định phần đất tranh chấp của thì khi Nnước thu hồi và bồi
thường cho ông L1 thì H1 phải thực hiện việc yêu cầu để thể hiện quyền của
người quản đất. Nhưng H1 không thực hiện việc yêu cầu khiếu nại trong
suốt thời gian thu hồi đất cho thấy bà H1 cũng không biết chính xác ranh đất của
vị trí nào nên việc xác định ranh đất trong quá trình thu hồi đất trong bản
trích đo hiện trạng đã khác nhau về diện tích.
[6] Do đó, sau khi thu hồi đất thì diện tích đất của H1 bị thiếu nên H1
yêu cầu ông L1 trả lại diện tích 526,2m
2
là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của ông L1, sửa án
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H1 theo đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H1 nên chi phí tố tụng, án
phí sơ thẩm bà H1 phải chịu.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc stiền 10.161.000 đồng, do
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của H1 nên H1 phải chịu toàn bộ chi phí
này, bà H1 đã nộp xong.
Án phí dân sự thẩm H1 phải chịu, do bà H1 người cao tuổi
đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ.
Ông L1 không phải chịu án phí phúc thẩm, có nộp tạm ứng được nhận
lại.
[9] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bluật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Viết L1. Sửa bản án dân sự thẩm số
15/2022/DS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn
8
Tuyên xử: Không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H1 về
việc yêu cầu ông Nguyễn Viết Luận giao trả lại giá trị phần đất 526,2m
2
, đất tọa
lạc khóm Hàng Vịnh, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đo đạc số tiền
10.161.000 đồng bà H1 phải chịu, bà H1 đã nộp xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H1 được miễn toàn bộ.
Án phí phúc thẩm: Ông L1 không phải chịu, ngày 07/3/2022 ông L1 có nộp
tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0015461 được nhận lại.
c quyết định khác của bản án thm không bị kháng o, kháng ngh
hiu lực pp luật k t ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng ngh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Năm Căn;
- Chi cục THADS huyện Năm Căn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Cẩm Đào
9
Tải về
Bản án số 207/2022/DS-PT Bản án số 207/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất