Bản án số 207/2022/DS-PT ngày 04/10/2022 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 207/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 207/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 207/2022/DS-PT ngày 04/10/2022 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 207/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/10/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 207/2022/DS-PT
Ngày 02 – 8 – 2022
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê
Thị Màu – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2022/TLPT-DS ngày 25 tháng 4
năm 2022 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2022/DS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 93/2022/QĐ-PT ngày 01
tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1951 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm Hàng Vịnh, TT. Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Trần Viết L1, sinh năm 1979 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện N, tỉnh C ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Võ Chí L2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
(vắng mặt).
2/ Ông Võ Quốc H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp Bùng Binh, xã Hưng Mỹ,
huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).
3/ Bà Hà Kim L3, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng).
2
4/ Bà Trần Thị C1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp Xóm Lớn Trong, xã Hàng
Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
5/ Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp Láng Chiếu, xã Đất
Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
6/ Ông Văn Chí P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng).
7/ Ông Phạm Duy T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp Chà Là, xã Lâm Hải,
huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).
8/ Ông Đinh Văn K1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp Đồng Khởi, xã Tân Ân
Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
9/ Bà Trần Thị Bích D, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khóm Tắc Năm Căn, thị trấn
Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Xin vắng).
10/ Ông Trần Ngọc N1, sinh năm 1939; Địa chỉ: Khóm H, thị t, huyện N,
tỉnh C . (Xin vắng).
11/ Ông Đặng Văn C2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp Lung Đước, xã Tam
Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt);
12/ Ông Huỳnh Văn H4, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện N,
tỉnh C . (Xin vắng).
13/ Ông Văn Chí T2, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng);
14/ Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh
C . (Vắng mặt).
15/ Bà Võ Thị X, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khóm 5, thị t, huyện N, tỉnh C .
(Xin vắng).
16/ Bà Văn Thị C3, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh C .
(Vắng mặt).
17/ Ông Đặng Minh L4, sinh năm 1976 và bà Lê Thị L5, sinh năm 1978; Địa
chỉ: Ấp V, xã T, huyện N, tỉnh C . (Vắng mặt).
18/ Ông Trần Công L6, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khóm 4, thị t, huyện N, tỉnh
C . (Xin vắng).
19/ Ông Lê Tấn T3, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Khóm 2, thị t, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
3
20/ Anh Nguyễn Kim T4, sinh năm 1989 và bà Nguyễn Thị Kiều T5, sinh
năm 1967; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
21/ Ông Nguyễn Văn L7, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Kiều T5, sinh
năm 1967; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
22/ Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1982 và ông Nguyễn Văn K2, sinh năm
1960; Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng).
23/ Ông Bùi Công T6, sinh năm 1973 và bà Bùi Phước H6, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh C . (Xin vắng);
- Người kháng cáo: Ông Trần Viết L1 - Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 6 năm 2020 và trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà H1 yêu cầu ông L1 trả lại phần đất diện tích lấn chiếm là 2.400m
2
tọa lạc
tại khóm Hàng Vịnh, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Nguồn gốc đất của bà H1 và anh ruột bà là ông Nguyễn Văn Sừ nhận chuyển
nhượng của ông Phạm Bạch Đằng diện tích 95.000m
2
, phần đất bà và ông Sừ chia
đôi, có cắm ranh mốc là cây tràm bông vàng làm mốc giới ở phần đầu đất, cây me
nằm trên ranh đất và cắm trụ đá ở phần cuối đất. Bà H1 đã được Ủy ban nhân dân
huyện Ngọc Hiển (nay là huyện Năm Căn) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
diện tích 31.000m
2
, ngày 21/10/1992, vị trí tứ cận được xác định từ vị trí ranh đất
giữa ông Trịnh Văn Phải có gốc mắm, phần hậu đất là gốc cây nhào tính từ gốc
mắm đến vị trí gốc cây me giáp ranh nhà ông L1 là 70,6m.
Khoảng năm 2015, ông L1 vào gặp hỏi ý định kêu bà H1 chia lại ngang 02m
đất mặt tiền chạy lên thì bà H1 không đồng ý. Sau đó ông L1 làm tờ giấy trắng nói
với bà H1 là ký tên vào tờ giấy để ông L1 sang nền nhà, do lớn tuổi với nghĩ là tình
nghĩa nên bà đã ký vào. Đến khi Nhà nước quy hoạch thì mới phát hiện đất bị lấn
chiếm.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Viết L1 trình bày:
Năm 2000, cha ông là ông Trần Hoàng Chen với ông Hà Thành Tính, Hà
Quốc Danh hùn tiền mua đất của ông Hận diện tích 3,4ha, vị trí tứ cận: Đông giáp
rạch Ông Do; Tây giáp đất ông Thông; Nam giáp lộ thị trấn Năm Căn; Bắc giáp
đất bà H1. Ông Chen và ông Tính có thỏa thuận cắm mốc xác định bờ ranh của
4
mỗi bên là nữa bờ ranh, mặt rộng tại điểm cắm mốc là 4,3m chạy dài lên tới hậu,
bà H1 đồng ý. Ngày 15/5/2001, Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hiển cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là 17.088m
2
. Sau khi được cấp sổ thì ông L1 đã chuyển
nhượng cho nhiều người và các diện tích đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Diện tích đất của ông L1 hiện nay còn lại là 1.897,5m
2
và đất nằm
trong quy hoạch nên đã bị thu hồi diện tích 1.846,5m
2
còn thiếu 51m
2
so với giấy
chứng nhận được cấp. Ông L1 xác định không có lấn đất bà H1 nên không đồng ý
yêu cầu khởi kiện của bà H1. Ông xác định không có yêu cầu bà H1 ký giấy trắng
như bà H1 trình bày.
Ông L1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H1 do ông L1
không lấn chiếm đất của bà H1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: là những người nhận chuyển
nhượng phần đất của ông L1 trình bày
Các đương sự xác định có nhận chuyển nhượng đất từ ông L1, việc chuyển
nhượng là hợp pháp, ngay tình, được pháp luật công nhận đã cấp chứng nhận
quyền sử dụng đất, đất đã bị thu hồi nên việc tranh chấp giữa ông L1 với bà H1
không liên quan đến các đương sự nên không có ý kiến gì và không cung cấp thêm
tài liệu. Xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, kể cả xét xử và xin từ
chối nhận văn bản tố tụng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:15/2022/DS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1 đối với
ông Trần Viết L1. Buộc ông Trần Viết L1 trả lại cho bà Nguyễn Thị H1 giá trị đối
với ½ diện tích đất số tiền 36.834.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu của bà H1 đối với ông L1 trả diện tích đất còn lại
là 263,1m
2
, giá trị là 36.834.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/3/2022, ông Trần Viết L1 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn đối với diện tích đất 526,2m
2
tọa lạc tại khóm Hàng Vịnh, thị trấn
Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn giữ nguyên kháng cáo.
5
Phần tranh luận ông L1 trình bày: Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ông đã chuyển nhượng một phần cho các hộ dân và đã cắm mốc cụ thể,
có bà H1 ký tứ cận, những hộ dân nhận chuyển nhượng có người khoan cây nước ở
cuối hậu đất tức là trên phần đất đang tranh chấp hiện nay nhưng từ khi chuyển
nhượng đến nay bà H1 không có ý kiến gì và đất bị thu hồi còn thiếu so với giấy
chứng nhận được cấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn bà H1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông L1 giao trả phần đất diện
tích 526,2m
2
, giá trị là 140.000 đồng/m
2
, đất tọa lạc tại khóm Hàng Vịnh, thị trấn
Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Ông L1 xác định không có lấn đất ông bà
H1. Án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn
kháng cáo.
[2] Xét kháng cáo của ông L1, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần đất các đương
sự đang tranh chấp có diện tích 526,2m
2
.
Phần đất của bà H1: Năm 1985 bà H1 và anh ruột là ông Nguyễn Văn Sừ
nhận chuyển nhượng của ông Phạm Bạch Đằng diện tích 95.000m
2
. Sau khi nhận
chuyển nhượng đất thì bà và ông Sừ chia đôi, có cắm ranh mốc rõ ràng. Đến năm
1992 bà H1 được Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hiển (nay là huyện Năm Căn) cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 31.000m
2
Phần đất ông L1 quản lý có nguồn gốc từ cha ruột là ông Trần Hoàng Chen
tặng cho ông, năm 2000 cha ông là ông Trần Hoàng Chen với ông Hà Thành Tính,
ông Hà Quốc Danh hùn tiền mua đất của ông Hận diện tích 3,4ha. Thời điểm này
ông Chen, ông Tính và bà H1 đã thỏa thuận cắm mốc xác định ranh giới. Ngày
15/5/2001, ông L1 được Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hiển cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất diện tích là 17.088m
2
, trong quá trình quản lý ông L1 đã chuyển
nhượng cho nhiều người và các phần đất đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, ông L1 còn lại diện tích là 1.897,5m
2
.
[3] Các tài liệu chứng cứ thể hiện tại hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại
phiên tòa thể hiện: Phần đất tranh chấp ngang 03m, dài từ tiền đến hậu đất ông L1,
6
theo ông L1 trình bày hiện trạng phần đất tranh chấp trước đây là nữa con mương
và nữa cái bờ, đất tranh chấp do phía gia đình ông L1 quản lý, một thời gian thì
chuyển nhượng cho các hộ dân khác có cả phần đất tranh chấp hiện nay, sau khi
chuyển nhượng thì phần đất ông L1 còn lại diện tích là 1.897,5m
2
, ngày
12/12/2019, Nhà nước thu hồi diện tích là 1.846,5m
2
. Như vậy diện tích đất ông L1
bị thu hồi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L1 được cấp thì còn thiếu
51m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[4] Bà H1 xác định khi ông L1 chuyển nhượng cho nhiều người nhưng
không cho bà ký giáp ranh nên ông L1 lấn đất của bà, bà không hay biết đến khi
thu hồi đất thì diện tích đất bị thiếu nên bà mới phát hiện. Xét thấy, khi ông L1
chuyển nhượng đất thì những người nhận chuyển nhượng đã quản lý đất từ năm
2006, 2007 đến nay bà H1 cũng không có ý kiến gì, mặc dù bà H1 cũng ở liền kề
với phần đất tranh chấp nên việc bà H1 cho rằng không ký giáp ranh nên không
biết ông L1 chuyển nhượng cả phần đất của bà là không phù hợp, hơn nữa đối với
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K2, ông
Nguyễn Văn B có chữ ký của bà H1 ký giáp ranh
[4.1] Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L1, sau khi ông L1
chuyển nhượng cho nhiều người thì ông L1 cấp đổi sổ ngày 23/10/2010, diện tích
đất ông L1 còn lại là 5.183,7m
2
, thủ tục đổi sổ này có bà H1 ký xác nhận tứ cận.
[4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm ông L1 cung cấp thêm hai hình ảnh chụp trước
khi giải phóng mặt bằng, theo ông L1 lộ xi măng là do bà H1 xây dựng làm lối đi
cho khu nhà trọ của bà H1 và hết lộ xi măng bà H1 xây cột bê tông thể hiện rõ ranh
đất hai bên. Hình ảnh ông L1 cung cấp phù hợp với thực tế quản lý đất, trường hợp
phần đất tranh chấp là của bà H1 thì vì sao bà xây dựng lộ bê tông chừa lại đất
tranh chấp 03m để ông L1 quản lý từ trước đến nay là không phù hợp.
[4.3] Hơn nữa, theo ranh đất bà H1 chỉ để tiến hành đo đạc thì kết quả đo
đạc của Trung tâm công nghệ quan trắc Tài nguyên và Môi trường ngày
06/10/2020 thì phần đất ông L1 đang quản lý là 15.561,6m
2
, bà H1 đang quản lý là
30.046,3m
2
chưa tính phần đất tranh chấp với ông Bé, nếu cộng cả phần thỏa thuận
với ông Bé 1.082,4m
2
thì tổng diện tích bà H1 quản lý là 31.128,7m
2
là nhiều hơn
giấy chứng nhận bà H1 được cấp. Quá trình sử dụng đất, ngày 17/01/2020, Nhà
nước thu hồi phần đất của bà H1 diện tích là 29.241,1m
2
cho thấy bà H1 không biết
rõ ranh đất bà H1 quản lý nên diện tích đất thu hồi không trùng với diện tích đất bà
H1 xác định tại kết quả đo đạc của Trung tâm công nghệ quan trắc Tài nguyên và
7
Môi trường ngày 06/10/2020 thì phần đất bà H1 đang quản lý là 30.046,3m
2
(chưa
tính phần đất tranh chấp với ông Bé).
[5] Thực tế khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ
tầng kỷ thuật khu tái định cư Khu kinh tế Năm Căn, khi thực hiện thủ tục thu hồi
thì bà H1 cũng không khiếu nại gì đối với thủ tục đất của bà và của ông L1, trường
hợp bà H1 xác định phần đất tranh chấp là của bà thì khi Nhà nước thu hồi và bồi
thường cho ông L1 thì bà H1 phải thực hiện việc yêu cầu để thể hiện quyền của
người quản lý đất. Nhưng bà H1 không thực hiện việc yêu cầu khiếu nại gì trong
suốt thời gian thu hồi đất cho thấy bà H1 cũng không biết chính xác ranh đất của
bà ở vị trí nào nên việc xác định ranh đất trong quá trình thu hồi đất và trong bản
trích đo hiện trạng đã khác nhau về diện tích.
[6] Do đó, sau khi thu hồi đất thì diện tích đất của bà H1 bị thiếu nên bà H1
yêu cầu ông L1 trả lại diện tích 526,2m
2
là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của ông L1, sửa án sơ
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H1 theo đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H1 nên chi phí tố tụng, án
phí sơ thẩm bà H1 phải chịu.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc số tiền 10.161.000 đồng, do
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H1 nên bà H1 phải chịu toàn bộ chi phí
này, bà H1 đã nộp xong.
Án phí dân sự sơ thẩm bà H1 phải chịu, do bà H1 là người cao tuổi và có
đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ.
Ông L1 không phải chịu án phí sơ và phúc thẩm, có nộp tạm ứng được nhận
lại.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Viết L1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
15/2022/DS-ST ngày 16 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn
8
Tuyên xử: Không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1 về
việc yêu cầu ông Nguyễn Viết Luận giao trả lại giá trị phần đất 526,2m
2
, đất tọa
lạc khóm Hàng Vịnh, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc số tiền
10.161.000 đồng bà H1 phải chịu, bà H1 đã nộp xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H1 được miễn toàn bộ.
Án phí phúc thẩm: Ông L1 không phải chịu, ngày 07/3/2022 ông L1 có nộp
tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0015461 được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Năm Căn;
- Chi cục THADS huyện Năm Căn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Cẩm Đào
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 18/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 25/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 02/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm