Bản án số 20/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 20/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 20/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mai Thị Đ-Lưu Văn N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------
Bản án số 20/2026/DS-PT
Ngày 12-01-2026
V/v: “T/c đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Giang
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị ơng Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Tô Hoàng Ơn – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công
khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 559/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 12
năm 2025 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số
46/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7
Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 966/2025/QĐXXPT-DS ngày 15
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Mai Thị Đ, sinh năm 1946
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Văn N, sinh năm 1950 (có mặt)
Cùng cư trú số A, khóm C, phường N, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Lưu Văn N1, sinh năm 1954; trú số 30, khóm C,
phường N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H;trú số A,
khóm C, phường N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Mai Thị Đ .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hvụ án nội dung Bản án dân sự thẩm số 46/2025/DSST
ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 Cần Thơ thể hiện:
2
Phần trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 12 năm
2024 và trong quá trình tố tụng như sau:
Ngày 28 tháng 01 năm 2004, nguyên đơn cho bị đơn vay 03 (ba) chỉ
vàng 24K với lãi suất 30.000 đồng/tháng. Bị đơn chỉ đóng tiền lãi cho nguyên
đơn được 01 (một) tháng rồi ngưng không trả nữa. Sau đó, bị đơn tự nguyện trả
thêm cho nguyên đơn 01 (một) chỉ vàng 24K để nâng số vàng vay lên thành 04
(bốn) chỉ vàng 24K.
Ngày 02 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn được biết bị đơn mới trúng số
nên đến nhà đòi lại số vàng cho vay nhưng bị đơn không đồng ý trả.
Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phải liên đới trả lại 04 (bốn) chỉ vàng 24K.
Phần trình bày của bị đơn trong quá trình tố tụng như sau:
Bị đơn thống nhất vào ngày 28 tháng 01 năm 2004, bị đơn vay của
nguyên đơn 03 (ba) chỉ vàng 18K, sau thống nhất trả thêm 01 (một) chỉ vàng
18K nữa thành 04 (bốn) chỉ vàng 18K. Còn về lãi suất, hai bên thỏa thuận bị đơn
trả lãi mỗi vụ lúa Đông Xuân 1.000.000 đồng (một triệu đồng), mỗi vụ lúa
Thu 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) duy trì việc đóng lãi đầy đủ
từ năm 2006 đến năm 2021.
Đến cuối năm 2021, bị đơn mới hỏi ý kiến nguyên đơn về việc trả nợ vàng
thành trả nợ tiền và được nguyên đơn đồng ý. Giá vàng 18K thời điểm đó giá
5.160.000 đồng/chỉ nên 04 (bốn) chỉ vàng 18K sẽ là 20.640.000 đồng. Bị đơn
tự nguyện cộng cả tiền vốn lãi để cho tròn thành 22.000.000 đồng (hai mươi
hai triệu đồng) chia ra làm 03 (ba) lần trả như sau: lần một trả vào ngày 21
tháng 02 năm 2021 với số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), lần
hai trả vào ngày 23 tháng 02 năm 2021 với số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu
đồng), lần ba trả vào ngày 06 tháng 7 năm 2021 với số tiền 3.000.000 đồng
(ba triệu đồng). Tất cả các lần trtiền đều được nguyên đơn tên lăn tay
xác nhận vào biên nhận đầy đủ.
Tuy nhiên, không hiểu sao từ khi hay tin bị đơn trúng số thì nguyên đơn
lại đòi vàng nữa. Bị đơn khẳng định bị đơn đã trả đầy đ số vàng vay của
nguyên đơn nên không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sthẩm số 46/2025/DSST ngày 20 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ đã tuyên:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Đ về việc
buộc bị đơn ông Lưu Văn N1 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị H trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Mai Thị Đ 04
(bốn) chỉ vàng 18K (tương đương 34.500.000 đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên ván phí, quyền kháng cáo thi
hành án theo quy định.
Đương sự kháng cáo:
3
Ngày 03 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn Mai Thị Đ kháng cáo toàn bộ
Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DSST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 7 Cần Thơ. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa
bản án trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn,
buộc bị đơn ông Lưu Văn N1 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị H trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Mai Thị Đ 04
(bốn) chỉ vàng 18K.
Tại phiên tòa dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp
nhận yêu cầu kháng cáo, sửa Bản án dân sự thẩm số 46/2025/DSST ngày 20
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ.
Bị đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 46/2025/DSST ngày 20 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ.
Phần phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật ttụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của người tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục: Hội đồng xét xử các đương sự chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: qua xét hỏi công khai tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ đủ căn cứ xác định bị đơn đã trả đủ số vàng vay cho
nguyên đơn.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố
tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DSST ngày 20 tháng
8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật:
Từ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp
luật của vụ án tranh chấp đòi lại tài sản đúng theo quy định tại khoản 2
Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về thủ tục kháng cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 tháng 9 năm 2025, nguyên đơn Mai
Thị Đ kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 46/2025/DSST ngày 20
tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 Cần Thơ trong thời hạn
kháng cáo 15 (mười lăm) ngày theo quy định tại Điều 272, khoản 1 Điều 273
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung:
4
Các đương sự đều thống nhất giữa hai bên chỉ thực hiện 01 (một) giao
dịch dân sự duy nhất giao dịch cho vay 03(ba) chỉ vàng, sau cộng thêm tiền
lãi thành 01(một) chỉ vàng, tổng cộng là 04 (bốn) chỉ vàng; chỉ không thống nhất
về loại vàng. Nguyên đơn cho rằng cho bị đơn vay bằng loại vàng 24K nhưng bị
đơn không đồng ý cho rằng được nguyên đơn cho vay bằng loại vàng 18K
(sợi dây chuyền). Do nguyên đơn không chứng minh được loại vàng cho vay
loại vàng gì nên chỉ chấp nhận loại vàng vay giữa hai bên là vàng 18K.
Bị đơn cho rằng đã trả cho nguyên đơn bằng tiền tương đương gtrị với
04 (bốn) chỉ vàng 18K thời điểm năm 2021 như sau: lần một trả vào ngày 21
tháng 02 năm 2021 với số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) có xác
nhận của nguyên đơn “chị 5 Đính có nhận của Mười N2 số tiền 15.000.000 đồng
(mười lăm triệu đồng)”, lần hai trả vào ngày 23 tháng 02 năm 2021 với số tiền là
4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) có xác nhận của nguyên đơn “tôi Mai Thị Đ
nhận số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) của cậu 10 Nhỏ”, lần ba trả vào
ngày 06 tháng 7 năm 2021 với số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) xác
nhận của nguyên đơn “chị 5 Đínhnhận của 10 Nhỏ số tiền là 3.000.000 đồng
(ba triệu đồng)”.
Các biên nhận do bđơn cung cấp để làm chứng cứ loại trừ nghĩa vụ đều
được nguyên đơn xác nhận là đúng chữ ký và lăn tay của nguyên đơn.
Như vậy, bị đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ của người vay tnăm 2021
nhưng nguyên đơn vẫn tiếp tục khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ
không đúng quy định pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.
[3]. Nhận định đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đồng nhất với nhận
định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn không được chấp nhận yêu
cầu kháng cáo nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do người cao
tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm đ
khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên án:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Mai Thị Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s46/2025/DSST ngày 20 tháng 8
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Đ về
việc yêu cầu bị đơn ông Lưu Văn N1 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
5
Nguyễn Thị H liên đới trả nợ 04 (bốn) chỉ vàng 24K.
2. Về án phí:
Nguyên đơn bà Mai Thị Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân
sự phúc thẩm.
Bản án này có hiệu lực thi hành ngày 12 tháng 01 năm 2026.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi nh
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a
Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT X
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND TPCT;
- TAND KV7;
- Phòng THADS KV7;
- Lưu hồ sơ, lưu án.
Nguyễn Thị Thùy Trang
Tải về
Bản án số 20/2026/DS-PT Bản án số 20/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 20/2026/DS-PT Bản án số 20/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất