Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 23-05-2023 của TAND huyện Bạch Thông (TAND tỉnh Bắc Kạn) về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 20/2023/HS-ST Bắc Kạn
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 20/2023/HS-ST Bắc Kạn
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 23-05-2023 của TAND huyện Bạch Thông (TAND tỉnh Bắc Kạn) về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản |
|---|---|
| Tội danh: | 232.Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bạch Thông (TAND tỉnh Bắc Kạn) |
| Số hiệu: | 20/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Triệu Phúc Đ, Hoàng Thông T tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẠCH THÔNG
TỈNH BẮC KẠN
Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày 23 - 5 - 2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Giang
Bà Nguyễn Thị Gấm
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Thuận - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Bạch Thông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Dư và bà Lý Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 23/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc
Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-
HS ngày 30/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-
HS ngày 26/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2023/QĐST-HS ngày
10/5/2023 đối với các bị cáo:
Triệu Phúc Đ (tên gọi khác: Không); sinh ngày 17/01/1997 tại huyện B,
tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn;
nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Kim Th và bà Triệu
Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01 - Bản án số 17/2016/HSST
ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt bị cáo 24 tháng
tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng”; về trách nhiệm dân sự
buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 28.313.500 đồng, trong đó bồi thường
cho UBND huyện Bạch Thông 21.301.000 đồng, bồi thường cho Ban Quản lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ 7.012.500 đồng; phải chịu 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm và 1.415.675 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo kháng cáo.
Bản án số 27/2016/HSPT ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử
phạt 18 tháng tù. Đến ngày 24/10/2022, bị cáo chưa chấp hành xong nghĩa vụ
bồi thường cho UBND huyện Bạch Thông với số tiền còn phải bồi thường là
14.717.175 đồng và chưa bồi thường cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên
2
Kim Hỷ số tiền 7.012.500 đồng; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
“Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
Hoàng Thông T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 08/12/1994 tại huyện
Bạch T, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT: Thôn 8, tổ 4, xã B, huyện B, tỉnh Bình
Phước; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Nguyên M và bà Hoàng Thị Đ; vợ
là Hoàng Thị A; có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 01 - Bản án số
17/2016/HSST ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông xử phạt
30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng về tội “Vi phạm
quy định về khai thác và bảo vệ rừng”. Về trách nhiệm dân sự phải bồi thường
tổng số tiền 29.998.600 đồng, trong đó bồi thường cho UBND huyện Bạch
Thông 10.608.300 đồng, bồi thường cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên
Kim Hỷ 19.390.300 đồng; phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và
1.499.930 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đến ngày 24/10/2022, bị cáo chưa bồi
thường cho UBND huyện Bạch Thông số tiền 2.532.855 đồng, chưa bồi thường
cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ số tiền 19.390.300 đồng; hiện
đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt.
* Nguyên đơn dân sự:
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Tiến S - Chức vụ: Trưởng phòng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện (Văn bản ủy quyền số: 217/UBND-
NNPTNT ngày 13/02/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B) (Có đơn xin
xét xử vắng mặt)
- Ban Quản lý Khu bảo tồng thiên nhiên K
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ma Khắc D, Chức vụ: Phụ trách Trạm
kiểm lâm C - Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên K (Văn bản ủy quyền số
48/QĐ-KBT ngày 09/02/2023 Giám đốc Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
K) - Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Sằm Phúc Đ1, sinh năm 1991; trú tại: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Bắc
Kạn - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Nguyễn Như H, sinh năm 1990; trú tại: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh
Thái Nguyên - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:
Sằm Phúc K, sinh năm 1994; trú tại: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Bắc
Kạn - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 24/10/2022, tại thôn L, xã C, huyện B, tỉnh
Bắc Kạn, Tổ công tác Công an huyện Bạch Thông phối hợp với Công an xã C,
huyện Bạch Thông bắt quả tang Sằm Phúc K (sinh năm 1994; trú tại: Thôn L, xã
C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển
kiểm soát (BKS) 97B1 - 595.19 chở Hoàng Thông T (sinh năm 1994; nơi
ĐKHKTT: Thôn 8, tổ 4, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Thôn L, xã C,
huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đang vận chuyển 01 khúc gỗ nghiến hình trụ tròn chiều
dài 52,3cm, đường kính 18cm có khối lượng 0,013m
3
, được bọc ngoài bằng một
chiếc áo khoác màu trắng. K, T khai nhận khúc gỗ nghiến trên là của K, T và
Triệu Phúc Đ (sinh năm 1997; trú tại: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn)
khai thác ngày 22/10/2022 tại thôn L, xã C, huyện B. Sau đó đem cất giấu. Đến
ngày 24/10/2022 chở ra ven đường Quốc lộ 3B thuộc xã C, huyện N bán cho
Nguyễn Như H (sinh năm 1990; trú tại: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái
Nguyên) thì bị bắt quả tang.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Sằm Phúc K, Hoàng Thông T,
Triệu Phúc Đ, Nguyễn Như H phát hiện, tạm giữ tại nhà Đ 02 khúc gỗ nghiến,
01 khúc gỗ tròn đường kính 33cm, dày 06cm có khối lượng 0,005m
3
, khúc 02 có
hình dạng phức tạp nặng 19,5kg có khối lượng 0,019m
3
. Phát hiện, thu giữ nhà
H 02 khúc gỗ nghiến hình trụ tròn có tổng khối lượng 0,047m
3
, khúc 01 đường
kính 29 cm, dài 34cm; khúc 02 đường kính 27cm, dài 45 cm.
Quá trình điều tra, đã xác định được:
Vào năm 2019, Triệu Phúc Đ đi lên khu vực đất nông nghiệp thuộc
khoảnh 18, tiểu khu 379, xã C, huyện B nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng, nhặt
được 01 khúc gỗ nghiến có hình dạng phức tạp nặng 19,5kg có khối lượng
0,019m
3
mang về nhà cất giấu.
Tháng 9/2022, Đ đi lên khu vực đất nông nghiệp thuộc khoảnh 18, tiểu
khu 379, xã C, huyện Bạch T nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng, nhặt được 01
khúc gỗ nghiến tròn đường kính 33cm, dày 06cm có khối lượng 0,005m
3
mang
về nhà cất giấu.
Ngày 20/10/2022, Đ rủ K lên khu vực rừng thuộc lô 16, khoảnh 12, tiểu
khu 379, xã C, huyện B, là rừng tự nhiên, quy hoạch là rừng đặc dụng, trạng thái
rừng tự nhiên núi đá rộng thường xanh nghèo kiệt do Ban Quản lý Khu bảo tồn
thiên nhiên K quản lý để khai thác gỗ nghiến, K đồng ý. K mang theo 01 máy
cưa lốc nhãn hiệu Master 365 có lam và xích dài 75cm. Đến nơi phát hiện 01
cây gỗ nghiến còn sống, thân thẳng đứng, lá còn xanh. Đ, K thay nhau sử dụng
cưa máy cưa cắt phần thân, rễ cây gỗ rồi đẽo được 03 khúc gỗ nghiến (khúc 1 có
đường kính 35cm, dài 20cm; khúc 2 có kích thước 83cm x 50cm x 07cm; khúc 3
có đường kính 35cm, dài 20cm) và để lại 07 tấm gỗ có tổng khối lượng 0,196m
3
.
Sau đó Đ, K vận chuyển khúc 01 và khúc 03 có tổng khối lượng 0,038m
3
. Khúc
4
02 bị mục rỗng và 07 tấm gỗ trong quá trình cắt, đẽo để lại hiện trường có tổng
lượng là 0,158m
3
. Cùng ngày 20/10/2022, Đ, K đi lên khu rừng thuộc lô 1,
khoảnh 2, tiểu khu 200A, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn là rừng tự nhiên, quy
hoạch là rừng đặc dụng, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh
giàu, do Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K quản lý (thôn L, xã C, huyện B
nhận giao khoán) phát hiện một cây gỗ nghiến đã đổ trước đó có một khúc gỗ có
thể khai thác nên Đ, K thay nhau dùng máy cưa cắt khúc gỗ ra, rồi đẽo được 01
khúc kích thước 40cm, dài 10cm, khối lượng 0,012m
3
rồi mang ra khỏi hiện
trường, tại hiện trường còn lại 02 tấm gỗ trong quá trình cắt, đẽo có tổng khối
lượng 0,02m
3
. Sau khi khai thác xong, tối ngày 22/10/2022 và 23/10/2022, Đ
cùng K sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 97B1 - 595.19 chở 03
khúc gỗ nghiến (tổng khối lượng 0,05m
3
) mang ra ven đường quốc lộ thuộc thôn
N, xã C, huyện N cất giấu với mục đích để bán. Tuy nhiên, sau khi các đối
tượng bị bắt quả tang, khám nghiệm nơi cất giấu thì phát hiện 03 khúc gỗ trên đã
bị mất, không biết người lấy.
Ngày 22/10/2022, Đ rủ K, T lên khu rừng thuộc lô 77, khoảnh 13, tiểu
khu 379, xã C, huyện B, là rừng tự nhiên, quy hoạch là rừng đặc dụng, trạng thái
rừng gỗ tự nhiên núi đó lá rộng thường xanh trung bình, do Ban Quản lý Khu
bảo tồn thiên nhiên K quản lý với mục đích khai thác gỗ nghiến. Đến nơi, cả
nhóm thấy 01 cây gỗ nghiến còn sống, thân thẳng đứng, lá còn xanh có thể khai
thác lấy gỗ. Đ, K thay nhau dùng cưa máy cắt vào thân cây được một khúc, T hộ
kê để Đ, K đẽo được khúc gỗ có đường kính 18cm, dài 52,3cm khối lượng
0,013m
3
rồi mang về cất giấu ở bụi cây ven đường. Ngày 23/10/2022, Đ và
Nguyễn Như H gọi điện hẹn nhau khoảng 19 giờ ngày 24/10/2022 H lên xã C,
huyện N xem gỗ nên chiều 24/10/2022, Đ nói với K cùng nhau vận chuyển khúc
gỗ có khối lượng 0,013m
3
mang sang xã C, huyện N tiêu thụ. Khi K, T đi đến
cuối thôn L, xã C thì bị Công an bắt quả tang.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 14/02/2023
của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Bạch
Thông kết luận: Khối lượng gỗ nghiến 0,005m
3
có giá trị là 15.000 đồng; khối
lượng gỗ nghiến 0,019m
3
có giá trị là 57.000 đồng; khối lượng gỗ nghiến
0,196m
3
có giá trị là 588.000 đồng; khối lượng gỗ nghiến 0,032m
3
có giá trị
96.000 đồng; khối lượng gỗ nghiến 0,013m
3
có giá trị 39.000 đồng. Tổng giá trị
là 795.000đ (bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKSBT ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn truy tố Triệu Phúc Đ, Hoàng Thông
T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại
điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông giữ
nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
5
- Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Triệu Phúc Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Hoàng Thông T từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện Ủy ban nhân dân huyện B không
yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không xem xét. Buộc Triệu Phúc Đ, Sằm
Phúc K phải liên đới bồi thường cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K với
số tiền 150.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu
Yamaha Exciter 150, BKS 97B1-595.19; 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Realme, màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng niêm phong trong phong bì ký hiệu
“ĐTK”; 01 điện thoại động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, màn hình cảm ứng,
cũ, đã qua sử dụng niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Đ”.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác màu trắng, đã cũ bẩn.
+ Trả lại cho Sằm Phúc Đ1 01 chiếc cưa màu cam, cũ, đã qua sử dụng
nhãn hiệu Master 365 có lam và xích.
+ Trả lại Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K: 01 khúc gỗ nghiến
đường kính 33cm, dày 06cm có khối lượng 0,005m
3
; 01 khúc gỗ nghiến hình
dạng phức tạp nặng 19,5kg có khối lượng 0,019m3; 01 khúc gỗ nghiến hình trụ
tròn dài 52,3cm, đường kính 18cm có khối lượng 0,013m
3
.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo Đ để đảm bảo nghĩa vụ
bồi thường của bị cáo Đ.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14, miễn án phí
cho các bị cáo.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K yêu cầu Triệu Phúc Đ và
Sằm Phúc K phải liên đới bồi thường 03 khúc gỗ không thu hồi được với số tiền
là 150.000 đồng. Bị cáo Đ tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại này cho Ban
Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K, không yêu cầu Sằm Phúc K phải liên đới
bồi thường.

6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã truy
tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của nguyên đơn
dân sự; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ
sở kết luận: Với mục đích khai thác, tàng trữ gỗ để sử dụng và bán kiếm lời nên
Triệu Phúc Đ đã nhiều lần thực hiện hành vi khai thác, tàng trữ, mua bán gỗ
nghiến nhóm IIA. Hoàng Thông T có hành vi khai thác, mua bán gỗ nghiến
(nhóm IIA). Cụ thể: Năm 2019 và tháng 9/2022, Đ đã tàng trữ gỗ nghiến tại khu
vực đất nông nghiệp thuộc khoảnh 18, tiểu khu 379, xã C, huyện B nằm ngoài
quy hoạch 03 loại rừng 02 khúc gỗ nghiến có tổng khối lượng 0,024m
3
. Ngày
20/10/2022, Đ khai thác cây gỗ nghiến tại lô 16, khoảnh 12, tiểu khu 379 xã C,
huyện B và lô 1, khoảnh 2, tiểu khu 200A, xã K, huyện N tổng khối lượng
0,228m
3
, sau khi khai thác vận chuyển 0,05m
3
gỗ nghiến xã C, huyện N tập kết
để bán thì bị mất. Ngày 22/10/2022, Đ, T khai thác gỗ nghiến tại lô 77, khoảnh
13, tiểu khu 379 xã C khối lượng gỗ 0,013m
3
. Đến ngày 24/10/2022, T vận
chuyển gỗ đi bán thì bị bắt quả tang. Tổng khối lượng gỗ Đ, T khai thác, tàng
trữ giá trị 795.000 đồng.
Trước khi thực hiện hành vi khai thác, tàng trữ, vận chuyển, mua bán gỗ
nghiến trên, Triệu Phúc Đ và Hoàng Thông T không làm thủ tục xin phép cơ quan
chức năng có thẩm quyền và không được cơ quan chức năng nào cấp phép cho khai
thác gỗ tại khu rừng trên. Hành vi khai thác, tàng trữ, vận chuyển, mua bán gỗ
nghiến của Đ, T dưới mức quy định tại điểm e, điểm k khoản 1 Điều 232 Bộ luật
Hình sự. Tuy nhiên Đ, T đã bị kết án về tội “Vi phạm quy định về khai thác và bảo
vệ rừng” chưa được xóa án tích nên hành vi của Đ, T đã phạm tội “Vi phạm quy
định về khai tác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232
Bộ luật hình sự.
Như vậy, Cáo trạng số 16/CT-VKSBT ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bạch Thông truy tố các bị cáo Đ, T về tội “Vi phạm quy định về
khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật
Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
7
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc
trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000
đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt
tù từ 01 năm đến 03 năm:
...
m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ
hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc giá trị dưới mức quy định tại một
trong các điểm từ điểm a đến điểm l khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về một rong các hành vi quy định tại Điểm này hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
...
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng”.
Xét tính chất, hành vi của các bị cáo gây ra đã xâm phạm đến chế độ về
quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước, tổn hại đến môi trường vì vậy cần buộc
các bị cáo phải chịu một hình phạt nhất định nhằm giáo dục các bị cáo và phòng
ngừa chung.
[3]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với các bị cáo:
- Bị cáo Triệu Phúc Đ có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội “Vi phạm quy
định về khai thác và bảo vệ rừng”, chưa được xóa án tích. Quá trình điều tra,
truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo; có ông nội là Triệu Nguyên T là
thương binh, được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba; ngày 09/5/2023
bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch
Thông để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm
nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo
thực hiện hành vi khai thác, tàng trữ, mua bán trái phép gỗ nghiến nhiều lần nên
phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy
định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Hoàng Thông T có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Vi phạm
quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, chưa được xóa án tích. Quá
trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo; bị cáo có bác ruột
là Hoàng Văn P là liệt sĩ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Huân
chương giải phóng hạng Ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy các bị cáo không phân công,
bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đ là người khởi
xướng, rủ rê bị cáo T và là người thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên phải
chịu mức hình phạt cao hơn. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, từng bị kết án về
8
tội “Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng” nên cần buộc phải đi chấp
hành án tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe
phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị
áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
[4]. Hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét thấy các bị cáo có thu nhập
không ổn định; sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên
không có khả năng thi hành. Vì vậy, HĐXX không áp dụng.
[5]. Đối với hành vi của những người khác trong vụ án:
Đối với Sằm Phúc K có hành vi khai thác 0,241m
3
, vận chuyển 0,063m
3
trái
phép gỗ nghiến sang xã C, huyện N để tập kết bán, xét thấy khối lượng gỗ chưa đủ
định lượng cấu thành tội phạm; năm 2016 bị kết án về tội “Vi phạm quy định về
khai thác và bảo vệ rừng” nhưng đã được xóa án tích nên CQCSĐT đã chuyển hồ
sơ đến Hạt Kiểm lâm Ban Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên K xử lý hành chính theo
thẩm quyền là đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Như H có hành vi đặt, hẹn xem 04 khúc gỗ nghiến có tổng
khối lượng 0,063m
3
với Triệu Phúc Đ và tàng trữ 02 khúc gỗ nghiến có khối lượng
0,047m
3
, chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm và chưa có tiền án, tiền sự về
hành vi nêu trên nên CQCSĐT chuyển hồ sơ đến Hạt Kiểm lâm huyện Đ, tỉnh Thái
Nguyên xử lý hành chính theo thẩm quyền là đúng pháp luật.
Đối với Sằm Phúc Đ1 là chủ sở hữu chiếc máy cưa nhãn hiệu Master 365 có
lam và xích dài 75cm, nhưng không biết Kiều sử dụng cưa máy để khai thác gỗ
nghiến trái phép nên CQCSĐT không xem xét xử lý hành vi của Đ1 là đúng pháp
luật.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, đại diện Ủy ban
nhân dân huyện B có đơn yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Tuy
nhiên, trong đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 22/5/2023, đại diện Ủy ban nhân
dân huyện Bạch Thông có ý kiến không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Do
vậy, HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K yêu cầu
Triệu Phúc Đ và Sằm Phúc K phải liên đới bồi thường số gỗ bị mất không thu
hồi được là 150.000 đồng. Bị cáo Đ nhất trí bồi thường số tiền trên, không yêu
cầu Sằm Văn K phải liên đới bồi thường và đại điện Ban Quản lý Khu bảo tồn
thiên nhiên K nhất trí. Xét thấy thỏa thuận trên là tự nguyên, không trái pháp
luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận.
[7]. Về vật chứng:
- 01 khúc gỗ nghiến tròn đường kính 33cm, dày 06cm có khối lượng
0,005m
3
; 01 khúc gỗ nghiến có hình dạng phức tạp nặng 19,5kg có khối lượng
0,019m
3
; 01 khúc gỗ nghiến hình trụ tròn chiều dài 52,3cm, đường kính 18cm
có khối lượng 0,013m
3
bị cáo Đ nhặt tại khu vực nằm ngoài quy hoạch ba loại
rừng nhưng địa bàn xã C thuộc địa phận quản lý của Ban Quản lý Khu bảo tồn
thiên nhiên K và đại diện Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K có yêu cầu trả
9
lại nên cần trả lại cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K để xử lý theo
thẩm quyền.
- 01 chiếc áo khoác màu trắng là tài sản của Hoàng Thông T dùng để bọc
gỗ, vận chuyển đi tiêu thụ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 97B1 - 595.19 số khung
RLCUG0610GY322796, số mày G3D4E338879; 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Realme, màu xanh, màn hình cảm ứng, cũ, đã qua sử dụng là tài sản của
Sằm Phúc K sử dụng vào việc liên lạc và vận chuyển gỗ khai thác trái phép nên
cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11 màu trắng, màn hình cảm ứng,
cũ, đã qua sử dụng là tài sản của Triệu Phúc Đ sử dụng liên lạc bán gỗ cho
Nguyễn Như H và gọi điện cho Sằm Văn K đi bán gỗ cho H nên cần tịch thu hóa
giá nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 máy cưa lốc màu cam, cũ, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Master 365 có
lam và xích dài 75cm là tài sản của Sằm Phúc Đ1. Việc Sằm Phúc K mang máy
cưa đi khai thác gỗ trái phép ông Đ1 không biết. Trong đơn xin xét xử vắng mặt,
ông Đ1 không yêu cầu phải trả lại nên cần hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) chiếc cưa lốc màu cam, cũ, đã qua sử dụng, nhãn hiệu
Husvarna 353 có lam xích dài 75cm thu của Triệu Phúc Đ không có liên quan
đến hành vi phạm tội nên CQCSĐT đã trả lại cho Đ là đúng pháp luật.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, màn hình cảm ứng,
cũ, đã qua sử dụng thu của Hoàng Thông T xét thấy không có liên quan đến
hành vi phạm tội nên CQCSĐT đã trả lại cho T là đúng pháp luật.
- 10 tấm, khúc gỗ nghiến có tổng khối lượng 0,178m
3
CQCSĐT đã trả lại
cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K là đúng pháp luật.
- 03 khúc gỗ nghiến có tổng khối lượng 0,05m
3
Đ và K đã mang ra khỏi
hiện trường, không thu hồi được.
- 02 khúc gỗ nghiến hình trụ tròn gồm: Khúc 01 có đường kính 29cm, dài
34cm; khúc 02 đường kính 27cm, dài 45cm có tổng khối lượng 0,047m
3
thu giữ
tại nhà Nguyễn Như H CQCSĐT đã chuyển đến Hạt Kiểm lâm huyện Đ, tỉnh
Thái Nguyên cùng hồ sơ để xử lý hành chính theo thẩm quyền.
- Số tiền 200.000 đồng bị cáo Đ nộp theo Biên lai thu số 0000528 ngày
09/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông để đảm bảo nghĩa
vụ bồi thường nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường cho bị
cáo Đ. Số tiền còn thừa trả lại cho bị cáo Đ.
[8]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại xã C, huyện
B là xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí
nên miễn án phí cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
10
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Triệu Phúc Đ phạm “Tội vi phạm quy định về khai thác,
bảo vệ rừng và lâm sản”.
Xử phạt bị cáo Triệu Phúc Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo đi chấp hành án.
* Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Hoàng Thông T phạm “Tội vi phạm quy định về khai
thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thông T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo đi chấp hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật
Dân sự 2015:
Ghi nhận sự thỏa thuận bị cáo Triệu Phúc Đ tự nguyện bồi thường cho
Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi
nghìn đồng).
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ
luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên K: 01 (một) khúc gỗ
nghiến tròn đường kính 33cm, dày 06cm có khối lượng 0,005m
3
; 01(một) khúc
gỗ nghiến có hình dạng phức tạp nặng 19,5kg có khối lượng 0,019m
3
; 01 (một)
khúc gỗ nghiến hình trụ tròn chiều dài 52,3cm, đường kính 18cm có khối lượng
0,013m
3
.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo khoác màu trắng đã cũ bẩn.
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu
Yamaha exciter 150, màu xanh, biển kiểm soát 97B1-595.19, số khung
RLCUG0610GY322796, số máy G3D4E338879. Xe dán nhiều họa tiết, không
có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động
nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình cảm ứng, cũ, đã qua sử dụng niêm
phong trong phong bì ký hiệu “ĐTK”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 11 màu trắng, màn hình cảm ứng, cũ, đã qua sử dụng niêm phong trong
phong bì ký hiệu “ĐT Đ”; 01 (một) máy cưa lốc màu cam, cũ, đã qua sử dụng,
nhãn hiệu Master 365 có lam và xích dài 75cm.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày
28/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông và Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Bạch Thông).
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai
thu số 0000528 ngày 09/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bạch
11
Thông để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Triệu Phúc Đ. Số tiền còn
thừa trả lại cho bị cáo Đ.
* Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Triệu Phúc Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều
6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
* Quyền kháng cáo: Các bị cáo, nguyên đơn dân sự Ban Quản lý Khu bảo
tồn thiên nhiên K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án sơ thẩm. Nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện B, những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sằm Phúc K, Sằm Phúc Đ1, Nguyễn Như H có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- VKSND Bạch Thông;
- VKSND tỉnh Bắc Kạn;
- CA huyện Bạch Thông;
- Bị cáo, đương sự;
- TA tỉnh Bắc Kạn;
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn;
- Chi cục THADS huyện Bạch Thông;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thế Doanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng