Bản án số 20/2018/DS-ST ngày 27/07/2018 của TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 20/2018/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2018/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2018/DS-ST ngày 27/07/2018 của TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Nha Trang (TAND tỉnh Khánh Hòa) |
| Số hiệu: | 20/2018/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/07/2018 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp thừa kế tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Baûn aùn soá: 20/2018/DS-ST
Ngaøy: 27/7/2018
“ V/v: Tranh chấp về thừa kế”
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ NHA TRANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toaø: Baø TRẦN THỊ KIM LIÊN
- Các Hoäi thaåm nhaân daân: 1. OÂng NGUYỄN XUÂN VINH
2. Bà NGUYỄN THỊ XUÂN TÂM
- Thö kyù phieân toaø: Ông ĐÀO MINH TUẤN – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà
PHẠM THỊ TRANG – Kiểm sát viên
Trong các ngày từ 25/72018 đến 27/7/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Nha Trang mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số
451/2017/TLST-DS ngày 06/12/2017 về việc “Tranh chấp về thừa kế” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-DS ngày 18/05/2018; Quyết định
hoãn phiên tòa số 14/2018/QĐST-DS ngày 15/6/2018; Thông báo luật sư tham gia tố
tụng số 83/TA ngày 20/6/2018; Quyết định tạm ngưng phiên tòa số 20/2018/QĐST-
HPT ngày 5/7/2018; Thông báo dời ngày xét xử số 21/2018/TB-TA ngày 12/7/2018
giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: 1. Bà Lê Thị Kim Ph. Sinh năm: 1966. Có mặt
Địa chỉ: 15/9 M, phường P, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
2. Bà Lê Thị Kim O. Sinh năm: 1970. Có mặt
* Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ N. Sinh năm: 1958. Có mặt
Đồng địa chỉ: 01 Đ, phường X, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Vũ N:
Luật sư Đặng Văn Pháo - Văn phòng luật sư Đặng Văn Pháo - thuộc Đoàn luật
sư tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Thị Ngọc M. Sinh năm: 1962. Vắng mặt
2. Ông Nguyễn Thành Thiên H. Sinh năm: 1990. Có mặt
3. Ông Trịnh Minh S. Sinh năm: 1989. Có mặt
4. Ông Y Y. Sinh năm: 1991. Có mặt
Đồng địa chỉ: 01 Đ, phường X, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà
Lê Thị Kim Ph trình bày: Mẹ bà là Nguyễn Thị Th (chết năm 2016). Bà Th kết hôn
với ông Nguyễn Văn C có sinh 3 người con là: ông Nguyễn Vũ Ph, sinh năm 1956,
không có vợ con, chết tại trại giam A2 Đồng Găng vào năm 1976, không có giấy
chứng tử; ông Nguyễn Vũ N, sinh năm 1958 hiện tại đang ở 01 Đ, X, Nha Trang có
vợ là bà Trương Thị Ngọc M; ông Nguyễn Vũ Ng, sinh năm 1960 (chết năm
13/6/2016) không có vợ con.
Bà không nhớ mẹ bà kết hôn với ông Lê T năm nào, ông Lê T (chết năm
1972), cha mẹ bà có sinh 02 người con là bà và em Lê Thị Kim O. Cha mẹ bà không
có con riêng, hay con nuôi nào khác.
Nguồn gốc nhà và đất tại số 01 Đ, X, Nha Trang thuộc sở hữu của ông Nguyễn
Văn Ch và vợ là Hoàng Thị M lập giấy đoạn mãi nhà và đất lập ngày 02/5/1958 bán
lại cho ông Đoàn Văn C và bà Triệu Thị C. Năm 1982, mẹ bà mua lại của bà C và
ông C có chứng thực của chính quyền địa phương và UBND thành phố Nha Trang.
Vào ngày 27/01/1997, mẹ bà đã lập di chúc cho 02 người con là Lê Thị Kim Ph và Lê
Thị Kim O 01 căn nhà có diện tích 81 m
2
tại số 01 Đ có chứng thực của Phòng công
chứng nhà nước tỉnh Khánh Hòa. Sau khi mẹ bà chết, vào ngày 17/01/2017 bà và bà
O đã lập văn bản khai nhận di sản thừa kế có chứng thực của Công chứng. Nay bà đề
nghị Tòa án công nhận di chúc lập năm 1997 của mẹ bà là hợp pháp. Đối với phần
diện tích dư ra so với giấy tờ mua bán là 89,8m
2
phần đất này, có đông tây tứ cận, gia
đình bà không có lấn chiếm của ai, do khi mua bán mẹ bà và người bán chỉ ước
chừng đất 81m
2
và ba gian nhà. Phần đất này bà đề nghị chia theo pháp luật phần của
bà và bà O nhận chung bằng hiện vật, ông N yêu cầu nhận bằng hiện vật bà đồng ý
nhưng phải thanh toán giá trị chênh lệch cho bà và bà O đối với phần đất đã chia, đối
với phần tài sản trên đất như nhà đã cũ và cái giếng thì bà không yêu cầu chia, bà
không đồng ý cho ông N được giữ phần được hưởng của ông P. Đối với số tiền đo vẽ
nhà đất, bà không yêu cầu ông N phải thanh toán lại cho bà.
* Nguyên đơn bà Lê Thị Kim O trình bày: Bà thống nhất với lời khai của bà Ph.
* Bị đơn ông Nguyễn Vũ N trình bày: Ông thừa nhận thời điểm mở thừa kế, di
sản thừa kế và hàng thừa kế như lời bà Ph trình bày. Cha ông là Nguyên Văn C kết
hôn với bà Nguyễn Thị Th vào năm nào ông không biết và có sinh được 3 người con
là Nguyễn Vũ Ph (đã chết), Nguyễn Vũ N là ông và Nguyễn Vũ Ng (chết 2016).
Ngoài ra, mẹ ông có hai người con riêng là Lê Thị Kim Ph và Lê Thị Kim O.
Ông cũng xác nhận về nguồn gốc nhà đất tại 01 Đ là tài sản của bà Nguyễn Thị
Th. Tuy ông cũng có đóng góp vào việc mua bán nhà nhưng không có giấy tờ gì
chứng minh. Tại Tòa, ông thừa nhận di chúc do bà Th lập năm 1997 cho hai em Lê
Thị Kim Ph và Lê Thị Kim O là 81m
2
là
đúng sự thật. Số diện tích dôi dư ra là
89,8m
2
, ông đề nghị ông được nhận bằng hiện vật cùng với phần của ông Ph đồng
thời xin được nhận phần đất đã có nhà của ông và bà Trương Thị Ngọc M xây dựng.
Đối với phần tài sản trên đất như nhà đã cũ và cái giếng thì ông không yêu cầu chia.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Trương Thị Ngọc M trình bày tại biên bản lấy lời khai: Bà kết hôn với
ông Nguyễn Vũ N vào năm 1982 và sinh sống tại nhà 01 Đ từ đó cho đến nay. Về
3
nguồn gốc nhà đất tại 01 Đ, Nha Trang bà nghe chồng bà nói có dành dụm tiền mua
chung với bà Nguyễn Thị Th nhưng để cho bà Th đứng tên. Trong quá trình ở vợ
chồng bà có sửa chữa nhà, làm gác. Nay bà Lê Thị Kim O và Lê Thị Kim Ph kiện
chia di sản thừa kế tùy Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
2/ Ông Nguyễn Thành Thiên H trình bày: Cha ông là Nguyễn Vũ N, mẹ là
Trương Thị Ngọc M. Từ năm 1982 cho đến nay, cha mẹ ông có bỏ tiền ra xây dựng
sữa chữa nhà, lên gác. Ông không có bỏ tiền ra sửa chữa. Nay bà Lê Thị Kim O và Lê
Thị Kim Ph kiện chia di sản thừa kế tùy Tòa án giải quyết theo quy định của pháp
luật.
3/ Ông Trịnh Minh S trình bày: Cha ông là Trịnh Minh Sa hiện sống ở L, Nha
Trang. Hiện nay, ông đang sống tại nhà 01 Đ, Nha Trang, ông không có bỏ tiền ra sửa
chữa xây dựng gì. Nay bà Lê Thị Kim O và Lê Thị Kim Ph kiện chia di sản thừa kế
tùy Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
4/ Ông Y Y trình bày: Cha ông là Y Th, cha mẹ ông đã ly hôn. Hiện nay, ông
cùng mẹ đang sống tại nhà 01 Đ, Nha Trang, trong thời gian ở ông không có bỏ tiền
ra sửa chữa xây dựng gì. Nay bà Lê Thị Kim O và Lê Thị Kim Ph kiện chia di sản
thừa kế tùy Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Luật sư Đặng Văn Pháo – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
ông Nguyễn Vũ N phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử phân chia cho ông Nguyễn Vũ
N hưởng bằng hiện vật, được quản lý phần tài sản của ông Nguyễn Vũ Ph.
Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp Nha Trang đã nêu
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn bà Lê Thị Kim O và Lê Thị Kim Ph. Chia di sản thừa kế của bà Nguyễn
Thị Th cho các đương sự được hưởng bằng hiện vật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Y Y, ông Trịnh Minh S có đơn
yêu cầu vắng mặt. Tuy nhiên, tại phiên tòa các ông đề nghị được tham gia tố tụng,
Hội đồng xét xử chấp nhận; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị
Ngọc M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt mà không có người đại
diện tham gia phiên tòa. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ
luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà M theo quy định
của pháp luật.
Vào ngày 17/6/2018 Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang có tạm ngưng
phiên tòa để thu thập chứng cứ. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử công khai toàn bộ
chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự, Luật sư và
đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang không có ý kiến gì.
Về nội dung:
4
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Kim O và Lê Thị Kim Ph yêu cầu đề nghị
công nhận di chúc của bà Nguyễn Thị Th cho bà Lê Thị Kim O và Lê Thị Kim Ph
81m
2
tại 01 Đ, X, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và chia thừa kế theo pháp
luật đối với diện tích còn lại là 89,8m
2
.
Bị đơn ông Nguyễn Vũ N đồng ý các yêu cầu của nguyên đơn nhưng các
đương sự không thỏa thuận được số diện tích đất để chia.
Hội đồng xét xử xét:
[1] Về thời hiệu khởi kiện về thừa kế: Bà Nguyễn Thị Th chết năm 2016 và
nguyên đơn có đơn khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế vào năm 2017 là còn trong
thời hiệu khởi kiện.
[2] Xác định di sản của bà Nguyễn Thị Th:
Về nguồn gốc nhà đất: Theo giấy đoạn mãi đất và nhà lập ngày 16/4/1958 ông
Nguyễn Văn Ch và bà Hoàng Thị M ký tên đoạn mãi nhà đất cho bà Trần Thị C và
ông Đoàn C có chứng thực của Hội đồng xã Nha Trang Đông. Đến năm 1982 bà Trần
Thị C và con trai là Đoàn Văn K bán toàn bộ diện tích nhà và đất cho bà Nguyễn Thị
Th.
Bà Nguyễn Thị Th có hai đời chồng là ông Nguyễn Văn C và ông Lê T (chết
năm 1972). Năm 1982, bà mua nhà tại số 01 Đ, Nha Trang, vào năm 1982 với diện
tích nhà và đất 81m
2
có chứng thực của UBND Phường X và chấp thuận cho việc
mua bán của UBND thành phố Nha Trang vào ngày 12/01/1983. Đây là tài sản riêng
của bà Nguyễn Thị Th.
[3] Về hàng thừa kế:
Bà Nguyễn Thị Th kết hôn ông Nguyễn Văn C có sinh 3 người con là: ông
Nguyễn Vũ Ph, sinh năm 1956; ông Nguyễn Vũ N, sinh năm 1958; ông Nguyễn Vũ
Ng (C), sinh năm 1960 (chết năm 13/6/2016) không có vợ con. Theo theo lời khai
của các đương sự ông Nguyễn Vũ Ph chết năm 1976 tại Trại Giam A2, Đ, huyện
Diên Khánh. Theo bản khai danh sách nhân khẩu vào ngày 8/10/1976, hộ bà Nguyễn
Thị Th khai có con là Nguyễn Vũ Ph, sinh ngày 11/5/1956 (chết ở trại cải tạo); Theo
các công văn số 107/CV-TGA2 ngày 28/2/2018, công văn số 364/CV-TGA2 ngày
18/7/2018 của Trại giam A2 - Tổng cục VIII “Qua rà soát tài liệu lưu trữ, Trại giam
A2 không quản lý, giam giữ người chấp hành án tên là Nguyễn Vũ Ph...”; theo biên
bản xác minh ngày 18/6/2017 Công an phường X, thành phố Nha Trang cũng cho
biết không có thông tin gì về Nguyễn Vũ Ph. Tại phiên tòa các đương sự không cung
cấp chứng cứ về việc ông Ph đã chết và cũng không rõ hiện nay ông Ph đang ở đâu
và cũng không có yêu cầu giải quyết việc dân sự. Như vậy, các con của bà Nguyễn
Thị Th - những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm: Nguyễn Vũ Ph,
Nguyễn Vũ N, Lê Thị Kim Ph, Lê Thị Kim O.
[4] Xét về di chúc: Theo tờ di chúc do bà Lê Thị Kim Ph và Lê Thị Kim O
xuất trình được bà Nguyễn Thị Th lập vào ngày 27/01/1997 có chứng thực của Phòng
công chứng nhà nước tỉnh Khánh Hòa có nội dung: “Nay tôi lập tờ di chúc này để lại
cho hai con gái tôi là Lê Thị Kim Ph và Lê Thị Kim O một căn nhà tại 01 Đ, Nha
Trang có diện tích: 9x9=81m
2
”; Đến ngày 17/01/2017, bà Lê Thị Kim Ph và bà Lê
Thị Kim O đã lập văn bản khai nhận di sản thừa kế có lời chứng của công chứng
viên. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Vũ N cũng công nhận di chúc của bà Nguyễn Thị
5
Th. Như vậy, theo Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Tờ di chúc của bà Nguyễn
Thị Th là hợp pháp.
[5] Chia hiện vật: Tại phiên Tòa, nguyên đơn và bị đơn thừa nhận phần diện
tích nhà, đất 81m
2
tại 01 Đ, X, Nha Trang đã được bà Nguyễn Thị Th định đoạt cho
hai con gái là Lê Thị Kim Ph và Lê Thị Kim O. Theo di chúc lập năm 1997 bà Th đã
thể hiện “Nay tôi lập tờ di chúc này để lại cho hai con gái tôi là ... một căn nhà tọa lạc
tại 01 Đ, Nha Trang, Diện tích 9x9=81m
2
. Như vậy, đã thể hiện ý chí của bà Th cho
hai con gái là căn nhà có diện tích 81m
2
. Đối với phần diện tích đất còn lại là 89,1m
2
khi đo đạc thực tế, xác minh tại địa phương phần đất này được bà Th quản lý và sử
dụng từ năm 1983 đến nay diện tích đất này không có tranh chấp với những người sử
dụng đất liền kề diện tích đất nằm trong khuôn viên nhà 01 Đ, Nha Trang. Theo
Khoản 5 Điều 98 Luật đất đai năm 2013, Hội đồng xét xử chia phần còn lại là 89,8m
2
chia cho 04 kỷ phần thừa kế là: 89,8: 4 = 22,45m
2
là diện tích mỗi người được hưởng.
Bà Lê Thị Kim Ph và bà Lê Thị Kim O và ông Nguyễn Vũ N đề nghị nhận bằng hiện
vật (bà Ph và bà O nhận chung).
Xét: Qua lời trình bày của các đương sự và điều tra xác minh thì căn nhà 01 Đ,
X, Nha Trang có gia đình của ba người đang sinh sống gồm: Gia đình ông N, gia đình
bà Ph và gia đình bà O các đương sự đều không có chỗ ở nào khác. Như vậy, để đảm
bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự nên phân chia phần di sản thừa kế cho ba
người hiện vật là diện tích đất. Đối với ông Nam, hiện ông đang ở phần nhà phía bên
phải căn nhà 01 Đ, Nha Trang, phần này cũng có tài sản của ông N, bà M xây cất, sửa
chữa vào năm 1982. Cho nên, phân chia cho ông phần diện tích cụ thể như sau:
Do phần thừa kế của ông được hưởng chỉ là 22,45m
2
, tại phiên Tòa, bà P và bà
O cũng thống nhất giao cho ông N nhận hiện vật nếu quá phần diện tích được hưởng
thì phải thanh toán lại giá trị chênh lệch cho hai bà bằng tiền. Theo Quyết định số
32/2014/QĐ-UBND ngày 21/12/2014 của UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành diện tích
tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa thì Hội
đồng xét xử cho ông N được nhận 36,4m
2
(Ngang 3,24 m, chiều dài hết lô đất là
12,85m). Trên phần này có phần nhà do ông N và bà M xây cất nhà 3: DTXD 7m
2
,
nhà 4: DTXD 14,5m
2
, gác lững 7,7m
2
. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ph, bà O và ông
N không tranh chấp cái giếng, phần nhà tạm và phần nhà của bà Th để lại. Phía trước
phần nhà được giao cho ông N và bà Ph, bà O có phần diện tích đất được quy hoạch
giao thông 34,2m
2
. Như vậy, phần đất quy hoạch phải được giao cho người được
hưởng phần di sản liền kề. Do đó, ông N được nhận 8,7m
2
đất quy hoạch, phần nhà
đất ông được hưởng 36,4m
2
. Tổng cộng, ông N được nhận là 44,9m
2
.
Đối với phần của bà Ph và bà O được nhận 81m
2
do được hưởng thừa kế theo
di chúc của bà Th. Số diện tích đất hưởng theo pháp luật còn lại là 89,8m
2
- 44,9m
2
+
81m
2
=125,9m
2
là phần của bà Ph và O được nhận (trong đó có phần đất quy hoạch là
25,7m
2
); trên đất có phần nhà 1: 24,2m
2
, gác lững 6,2m
2
; nhà 2: DTXD 45,9m
2
, nhà
3: DTXD 3,3m
2
, nhà 4: DTXD 6,4m
2
.
Do phần đất các đương sự được nhận chưa có quyết định thu hồi đất của các cơ
quan có thẩm quyền neân caùc ñöông söï chæ quaûn lyù, söû duïng. Khi naøo nhaø nöôùc thu
hoài, ñeàn buø giaûi toûa thì giaûi quyeát theo quy ñònh cuûa Nhaø nöôùc.
6
Đối với kỷ phần thừa kế được hưởng của ông Nguyễn Vũ Ph; ông Nguyễn Vũ
N có yêu cầu đề nghị quản lý tài sản của ông Nguyễn Vũ Ph, bà Ph và bà O không
đồng ý.
Xét: Hiện nay, ông Nguyễn Vũ N không có thu nhập lại bị bệnh tai biến nên để
đảm bảo quyền lợi của của ông Ph nên tạm thời giao bà Ph được tạm giữ, quản lý kỷ
phần thừa kế của ông Ph có giá trị bằng tiền. Quyền và nghĩa vụ của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ sẽ được Tòa án giải
quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[6] Phần thanh toán:
Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá ngày 23/01/2018 xác định giá thị
trường của phần diện tích đất tại 01 Đ, X, Nha Trang là 55.000.000đ/m
2
.
Giá trị lô đất là 170,8m
2
x 55.000.000đ = 9.394.000.000đ (tổng giá trị lô đất).
Giá trị lô đất mà bà Ph và bà O được hưởng theo di chúc là 81m
2
x
55.000.000đ = 4.455.000.000đ.
Giá trị mỗi người được hưởng của lô đất chia theo pháp luật : (170,8m
2
- 81m
2
)
x 55.000.000đ : 4 = 1.234.750.000đ.
Giá trị lô đất mà bà Ph và bà O được hưởng theo pháp luật là 1.234.750.000đ x
2 = 2.469.500.000đ.
Ông Nguyễn Vũ N phải thanh toán lại cho bà Ph giá trị chênh lệch lô đất (phần
hưởng thừa kế của ông Nguyễn Vũ Ph) (44,9m
2
– 22,45m
2
)
x 55.000.000đ =
1.234.750.000đ
Giao cho bà Ph tạm giữ kỷ phần thừa kế của ông Nguyễn Vũ Ph có giá trị là
1.234.750.000đ. Sau khi trừ nghĩa vụ án phí dân sự sơ thẩm ông Ph phải nộp, số tiền
còn lại của ông Ph khi nào các đương sự có yêu cầu thì bà Ph có nghĩa vụ thanh toán
theo quy định của pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện các đương sự không tranh chấp phần nhà, cái giếng là
tài sản của bà Th để lại.
[7] Về chi phí đo vẽ, định giá: Ghi nhận sự tự nguyện bà Ph không yêu cầu ông
N phải thanh toán số tiền định giá, đo vẽ.
[8] Về án phí:
Bà Lê Thị Kim Ph và Lê Thị Kim O mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm là [(4.455.000.000đ + 2.469.500.000đ – 4.000.000.000đ) x 0.1% +
112.000.000]:2 = 57.462.000đ (tính tròn).
Ông Nguyễn Vũ N, ông Nguyễn Vũ Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
(1.234.750.000đ - 800.000.000đ) x 3% + 36.000.000đ = 49.042.500đ
Bà Lê Thị Kim O và ông Nguyễn Vũ N là hộ nghèo, là hộ cận nghèo hộ gia
đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ được miễn nộp toàn bộ tiền án
phí dân sự theo Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTYQH14 ngày 30/12/2016.
Bà Lê Thị Kim Ph phải chịu 57.462.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Ghi nhận sự
tự nguyện của bà Lê Thị Kim O đồng ý trừ số tiền tạm ứng án phí mà bà Ph và bà O
đã nộp 10.935.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2016/0007981 ngày 6/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha
Trang vào phần án phí mà bà Ph phải chịu. Như vậy, bà Ph phải nộp thêm
46.527.000đ

7
Ông Nguyễn Vũ Ph phải chịu 49.042.500đ án phí dân sự sơ thẩm; Bà Lê Thị
Kim Ph phải nộp thay cho ông Ph số tiền trên.
[9] Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 609, 611, 623, 624, 630, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân
sự năm 2015 .
- Căn cứ vào Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều
271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Khoản 5 Điều 98 Luật đất đai năm 2013.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày
5/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTYQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn các bà Lê Thị Kim Ph, Lê Thị Kim O về
“Tranh chấp di sản thừa kế” đối với bị đơn ông Nguyễn Vũ N.
2/ Tờ di chúc do bà Nguyễn Thị Th lập ngày 27/01/1997 là hợp pháp.
3/ Bà Lê Thị Kim Ph , Lê Thị Kim O đượ c quản lý , sử dụng phầ n diện tích đấ t
125,9m
2
(trong đó quy hoạch giao thông 25,7m
2
); trên đất có phần nhà 1: DTXD
24,2m
2
, gác lững 6,2m
2
; nhà 2: DTXD 45,9m
2
, nhà 3: DTXD 3,3m
2
, nhà 4: DTXD
6,4m
2
tại 01 Đ, phường X, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (Là phần có ký
hiệu B trong sơ đồ vị trí lô đất kèm theo).
4/ Ông Nguyễn Vũ N được quản lý , sử dụng phầ n diện tích đấ t 44,9m
2
(trong
đó quy hoạch giao thông 8,9m
2
); trên đất có nhà 3: DTXD 7m
2
, nhà 4: DTXD
14,5m
2
, gác lững 7,7m
2
của ông Nguyễn Vũ N và bà Trương Thị Ngọc M tại 01 Đ,
phường X, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (Là phần có ký hiệu A trong sơ đồ
vị trí lô đất kèm theo).
Do phần đất các đương sự được nhận chưa có quyết định thu hồi đất của các cơ
quan có thẩm quyền neân caùc ñöông söï chæ quaûn lyù, söû duïng. Khi naøo Nhaø nöôùc thu
hoài, ñeàn buø giaûi toûa thì giaûi quyeát theo quy ñònh cuûa Nhaø nöôùc.
5/ Ông Nguyễn Vũ N có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho ông
Nguyễn Vũ Ph số tiền 1.234.750.000đ (Một tỷ hai trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm
năm mươi ngàn đồng).
6/ Bà Lê Thị Kim Ph được quyền quản lý, giữ số tiền, thực hiện nghĩa vụ tài
chính và yêu cầu ông Nguyễn Vũ N giao số tiền của ông Nguyễn Vũ Ph theo Quyết
định của Tòa án.
7/ Bà Lê Thị Kim Ph và bà Lê Thị Kim O và ông Nguyễn Vũ N có trách nhiệm
liên hệ cơ quan chức năng để xác lập quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
8/ Về án phí:

8
Bà Lê Thị Kim Ph phải chịu 57.462.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được
trừ số tiền tạm ứng án phí mà bà Ph và bà O đã nộp 10.935.000đ theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0007981 ngày 6/12/2017 của Chi cục thi
hành án dân sự thành phố Nha Trang. Như vây, bà Ph phải nộp thêm 46.527.000đ
(Bốn mươi sáu triệu năm trăm hai mươi bảy ngàn đồng).
Bà Lê Thị Kim O và ông Nguyễn Vũ N được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
Bà Lê Thị Kim Ph có nghĩa vụ nộp thay cho ông Nguyễn Vũ Ph số tiền án phí
dân sự sơ thẩm là 49.042.500đ (Bốn mươi chín triệu không trăm bốn mươi hai ngàn
năm trăm đồng).
Quy định chung: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải
trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh
được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2006.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ;
thời hiệu thi hành án đựơc thực thiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận: TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP. Nha Trang. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án ND tỉnh Khánh Hòa.
- Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nha Trang.
- Các đương sự.
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Kim Liên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 12/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm