Bản án số 2/2026/LĐ-ST ngày 20/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 2/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 2/2026/LĐ-ST ngày 20/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 2/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/03/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 10 - Sao vàng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 02/2026/LĐ-ST
Ngày: 20 - 3 - 2026
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng
lao động vô hiệu
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thoa.
Ông Vũ Văn Thi.
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư Tòa án nhân dân khu vực
2 Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Đặng Gia Duy và bà Lê Thị Minh H - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải
Phòng xét xử sơ thẩmng khai vụ án thụ lý số: 05/2025/TLST-LĐ ngày 25 tháng
12 năm 2025 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 02/2026/QĐXXST-LĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A khu dân
N, phường K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- B đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: Thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng;
người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Kim T Giám đốc; người đại diện theo
ủy quyền: Ông Trần Văn Đ - Giám đốc nhà máy S1 (Giấy ủy quyền ngày
22/01/2026); có văn bản xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Phạm Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C, xã K, thành phố Hải
Phòng; xin vắng mặt tại phiên tòa.
+ Bảo hiểm hội thành phố H; địa chỉ: Số B đường H, phường H, thành
phố Hải Phòng; người đại diện theo pháp luật: Trần Thị H1 Giám đốc; người
đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Lan H2 Phó giám đốc; có văn bản xin vắng
mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn
trình bày: Năm 2009, chị M cho chị Phạm Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C,
K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) mượn toàn bộ
giấy tờ cá nhân để ký hợp đồng lao động số 0980382 ngày 26/11/2009 với Công ty
TNHH S tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc với tên Phạm Thị M từ tháng
12 năm 2009 đến tháng 3 năm 2011 thì thôi do chị L nghỉ việc. Cũng trong thời
gian này, chị M hợp đồng lao động vào làm công nhân tại Công ty TNHH J
địa chỉ tại khu công nghiệp N - Hải Phòng tham gia đóng bảo hiểm bắt buộc từ
tháng 10 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011.
Chính do trên, hiện tại 02 số bảo hiểm hội đều đứng tên Phạm
Thị M đó là: Sổ bảo hiểm số: 3110004617 của chị M sổ bảo hiểm số:
3109102240 của chị L nhưng đứng tên Phạm Thị M. Do vậy chị M gặp rất nhiều
khó khăn trong việc giải quyết chế độ bảo hiểm hội theo quy định. Để đảm bảo
quyền lợi của mình, chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động
số 0980382 ngày 26/11/2009 được giao kết giữa chị: Phạm Thị L (lấy tên Phạm
Thị M) với Công ty TNHH S hợp đồng hiệu. Chị M không yêu cầu Tòa án
giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu này nhận chịu cả án phí lao động
thẩm.
Tại văn bản số: 01.01/2026/CVSV ngày 09/01/2026, Công ty TNHH S trình
bày: Công tyký hợp đồng lao động số: 0980382 ngày 26/11/2009 với người lao
động (theo giấy tờ nhân) Phạm Thị M, sinh ngày 28/4/1992; Số CMND:
142526934 cấp ngày 15/5/2007; ĐKTT: Hiến Thành, K, Hải Dương. Công ty
TNHH S cho người lao động với sổ bảo hiểm hội: 3109102240 ttháng
12/2009. Quá trình kết hợp đồng lao động đóng bảo hiểm hội, Công ty
TNHH S chỉ căn cứ vào các giấy tờ có trong hồ sơ do người lao động cung cấp nên
không thể xác minh chính xác được người hợp đồng lao động đúng người
nhân thân như trong hồ hay không. Công ty TNHH S đã chấm dứt hợp đồng
lao động với người lao động Phạm Thị M, báo giảm quá trình bảo hiểm hội vào
tháng 4 năm 2011 chốt trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động mang tên
Phạm Thị M. Do trụ sở làm việc của ng ty thay đổi, người lao động đã nghỉ việc
từ lâu nên hồ sơ nhân sự, hợp đồng lao động cũng như các giấy tờ khác liên quan
đến người lao động Phạm Thị M hiện không còn lưu giữ nên Công ty không thể
cung cấp hợp đồng lao động nêu trên cho Tòa án.
Nay Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng thụ vụ án về việc: “Yêu cầu
tuyên bhợp đồng lao động vô hiệu”, Công ty TNHH S nhất trí với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn xin phép được vắng mặt trong suốt các hoạt động tố tụng
tại phiên a. Công ty TNHH S đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật.
3
Tại bản tự khai ngày 28/12/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phạm Thị L trình bày: Năm 2009, chị L mượn toàn bộ hồ (sơ yếu lịch, căn
cước công dân ...) của chị Phạm Thị M, sinh năm 1992; ĐKTT: Thôn A, H,
huyện K, tỉnh Hải Dương (cô họ) để hợp đồng lao động số 0980382 ngày
26/11/2009 với Công ty TNHH S tham gia đóng bảo hiểm hội bắt buộc với
tên Phạm Thị M từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 3 năm 2011 thì chị L nghỉ việc.
Trong thời gian này chị M cũng hợp đồng lao động làm việc tham gia bảo
hiểm bắt buộc ttháng 10 năm 2010. Chính do trên dẫn đến việc chị M hiện
tại 02 số bảo hiểm hội mã số là: 3110004617 3109102240 nên chị M gặp
rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết chế độ bảo hiểm hội theo quy định.
Nay chị M khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động số 0980382
ngày 26/11/2009 được giao kết giữa chị L (lấy tên Phạm Thị M) với Công ty
TNHH S hợp đồng hiệu thì chị Liên hoàn T1 nhất trí. Chị L không yêu cầu
Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu này.
Do bận công việc xa, nên chị L xin phép được vắng mặt tại các hoạt
động tố tụng tại Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa.
Tại Văn bản ngày 25/11/2025, Bảo hiểm hội thành phố H trình bày: Qua
kiểm tra, rà soát danh sách tham gia Bảo hiểm xã hội và dữ liệu trên hệ thống phần
mềm quản , Bảo hiểm hội thành phố Hải Phòng xác nhận Phạm Thị M,
sinh ngày 28/4/1992, schứng minh nhân dân: 142526934, số 3109102240
thời gian đóng bảo hiểm hội từ tháng 12/2009 đến tháng 3/2011. Nay chị M
yêu cầu khởi kiện, Bảo hiểm hội thành phố H đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Xác minh tại Bảo hiểm xã hội cơ sở A cung cấp: Chị Phạm Thị M, sinh năm
1992 số bảo hiểm xã hội 3110004617 tại Bảo hiểm hội sở A. Chị M
tham gia đóng bảo hiểm hội tại Công ty TNHH J từ tháng 10 năm 2010 đến
tháng 02 năm 2011. Đóng bảo hiểm thất nghiệp ttháng 10 năm 2010 đến tháng
02 năm 2011. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí, tử tuất đến tháng 02
năm 2011 là 05 tháng. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vào quỹ bảo hiểm thất
nghiệp đến tháng 02 năm 2011 là 05 tháng.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ vụ án đúng theo quy định của
pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp
hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của các đương sự các tài liệu chứng cứ
đã được Tòa án thu thập đủ sở xác định: Năm 2009, chị Phạm Thị L mượn
hồ nhân của chị Phạm Thị M để hợp đồng lao động số 0980382 ngày
26/11/2009 với Công ty TNHH S và tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
thất nghiệp ... với thời hạn 01 năm 04 tháng. Việc làm của chị L thể hiện cung
4
cấp thông tin không trung thực, sử dụng hồ để đi làm vi phạm nguyên tắc
giao kết hợp đồng lao động được quy định tại Bộ luật Lao động Luật bảo hiểm
xã hội. Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật
Lao động năm 2019; ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đề nghị
Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng
lao động số 0980382 ngày 26/11/2009 được xác lập giữa người lao động chị Phạm
Thị M (trên thực tế người lao động Phạm Thị L) với Công ty TNHH S
hiệu.
- Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện nộp án phí lao động của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao
động hiệu giữa nguyên đơn chị Phạm Thị M với bị đơn Công ty TNHH S
nhà máy tại A, thành phố Hải Phòng. Đây tranh chấp về lao động; căn cứ
khoản 5 Điều 32; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị
quyết số 01/2025/NQ-TP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Hải Phòng.
[2] Về thủ tục uỷ quyền: Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo
pháp luật của bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Bảo hiểm hội
thành phố H) ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Xét việc uỷ quyền thực
hiện bằng văn bản, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thủ tục uỷ quyền,
nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc uỷ quyền này.
[3] Về thủ tục tố tụng tại phiên toà: Bị đơn những người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đều xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227;
khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt những người này.
[4] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ
án đã xác định: Năm 2009, chPhạm Thị L mượn hồ cá nhân của chị Phạm Thị
M (cô họ) để hợp đồng lao động số 0980382 ngày 26/11/2009 với Công ty
TNHH S và tham gia đóng bảo hiểm hội bắt buộc từ tháng 12 năm 2009 đến
tháng 3 năm 2011 với tên Phạm Thị M, sinh ngày 28/4/1992; số BHXH:
3109102240. Việc chị L sử dụng hồ sơ cá nhân của chị M để giao kết các hợp đồng
lao động với Công ty TNHH S hành vi lừa dối về mặt ch thể khi giao kết hợp
đồng lao động đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng
quyền lợi ích hợp pháp của nhau, quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm
1994. Vi phạm điều kiện hiệu lực của giao dịch dân sự, quy định tại Điều 122
Bộ luật Dân sự năm 2005. Do vậy hợp đồng lao động được hai bên giao kết là hợp
5
đồng không hiệu lực. Căn cứ các Điều 122, 127, 128, 129, 136 Bộ luật Dân sự
năm 2005, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố
hợp đồng lao động số 0980382 ngày 26/11/2009 được giao kết giữa chị Phạm Thị
L (lấy tên Phạm Thị M) với Công ty TNHH S là hợp đồng vô hiệu.
[5] Về hậu quả pháp của giao dịch dân sự hiệu: Do các đương sự đều
không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu. Đây quyền quyết
định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự,
nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Người lao động đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế
độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
[6] Án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên
Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 5; khoản 5 Điều 32; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, 147;
khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271 và Điều 273 ;
Căn cứ Điều 122, 127, 128, 129, 136 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 9 ; Điều 15; khoản 1 Điều 16; Điều 49, 50 và Điều 190 ;
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng
lao động số 0980382 ngày 26/11/2009 được giao kết giữa chị Phạm Thị L (lấy tên
Phạm Thị M) với Công ty TNHH S là hợp đồng vô hiệu.
- Về án phí lao động thẩm: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) án phí lao động thẩm. Chị M đã nộp đủ số tiền này tại Thi
hành án dân sự thành phố Hải Phòng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008643
ngày 25/12/2025.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể tngày
tuyên án.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi
6
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 2 – Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Thi hành án dân sự;
- Các đương sự;
- Lưu: HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Chỉnh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
Vũ Văn Thi Nguyễn Thị Thoa
Nguyễn Văn Chỉnh
Tải về
Bản án số 2/2026/LĐ-ST Bản án số 2/2026/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 2/2026/LĐ-ST Bản án số 2/2026/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất