Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST ngày 15/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 196/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST ngày 15/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 196/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hà Thị N - Đường Phan D ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 9 - 2026
“V/v ly hôn và nuôi con chung giữa chị Nga
và anh Duyên”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Vũ Văn Sâm;
2.Bà Nguyễn Thị Tú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 8 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia
phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
443/2026/TLST- HNGĐ
ngày 05 tháng 8 năm 2026, về việc “Tranh chấp ly hôn
và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
201/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị N, sinh năm 1996
Căn cước công dân số ************, Cục Cảnh sát cấp ngày 14/9/2021
Nơi cư trú: Thôn H, xã L, tỉnh Hưng Yên
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị D
– Luật sư Công ty TNHH Một thành viên T, Đoàn Luật sư tỉnh H
Địa chỉ: Số F K, thôn A, xã H, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Anh Đường Phan D1, sinh năm 1991
Căn cước công dân số ************, Cục Cảnh sát cấp ngày 21/9/2022
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, tỉnh Hưng Yên.
(Tại phiên toà có mặt bà D; chị N và anh D1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Hà
Thị N và tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn bà Trần Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị N và anh Đ Phan Duyên tự do, tự nguyện
tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện
H, tỉnh Thái Bình nay là xã L, tỉnh Hưng Yên vào ngày 16/10/2018. Sau khi kết
hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh D1. Quá trình chung sống đến đầu
2
năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính
tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, cũng
thời gian đó vợ chồng ly thân. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng giữa chị N
và anh D1 không còn, chị N xin ly hôn anh D1.
Về con chung: Chị Hà Thị N và anh Đường Phan D1 có 01 con chung là
Đường Thị Quỳnh A sinh ngày 11/8/2020, hiện đang ở với chị N. Ly hôn, chị N
có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị N không yêu cầu anh D1
cấp dưỡng cho con. Hiện tại, chị N không có thai nghén gì.
Về tài sản: Chị Hà Thị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Hiện tại chị N đang làm công nhân gần nhà thu nhập khoảng 10.000.000
đồng/tháng (Mười triệu đồng một tháng).
Tại biên bản lấy lời khai và đơn xin giải quyết vắng mặt bị đơn anh
Đường Phan D1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận thời gian, điều kiện hoàn cảnh kết hôn,
thời gian, nguyện nhân mâu thuẫn và thời gian vợ chồng ly thân như chị Hà Thị
N đã trình bày là đúng. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh xác định tình cảm vợ
chồng giữa anh và chị N không còn, anh nhất trí ly hôn chị N.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị Hà Thị N
đã trình bày. Ly hôn, anh nhất trí để chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh
và chị N thoả thuận về việc cấp dưỡng cho con.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82
và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn: Xử cho công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị N và anh
Đường Phan D1; giao con chung Đường Thị Quỳnh A sinh ngày 11/8/2020 cho
chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng cho con; về
tài sản không đặt ra giải quyết; chị N nhận chịu cả tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên
về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng
đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều
81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử công nhận thuận tình
ly hôn giữa chị Hà Thị N và anh Đường Phan D1; Về con chung: xử giao con
chung Đường Thị Quỳnh A sinh ngày 11/8/2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng,
chị N không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con, anh D1 có quyền đi lại thăm
nom và giáo dục con chung mà không ai được cản trở; Về tài sản: Không đặt ra
giải quyết; Về án phí: chị Hà Thị N phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Chị Hà Thị N khởi kiện ly hôn và nuôi con chung với anh
Đường Phan D1, do anh D1 là bị đơn cư trú tại xã L, tỉnh Hưng Yên nên Tòa án
nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Chị N, anh D1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử
là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu
thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy
định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị N và anh Đường Phan D1 là vợ
chồng, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình nay là xã L, tỉnh
Hưng Yên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 16/10/2018 là hôn nhân hợp
pháp. Quá trình chung sống đến đầu năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không
thương yêu thông cảm cho nhau, cũng thời gian đó vợ chồng ly thân. Nay chị N
xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D1 không còn, chị xin ly hôn anh
D1, anh D1 cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn, anh
nhất trí ly hôn chị N. Mâu thuẫn chị N, anh D1 đã trầm trọng, mục đích hôn
nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình
thức, vì vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh D1 là phù hợp
với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con chung: Chị Hà Thị N và anh Đường Phan D1 có 01 con
chung là Đường Thị Quỳnh A sinh ngày 11/8/2020, đang ở với chị N. Ly hôn,
chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh
D1 cấp dưỡng cho con. Anh D1 nhất trí để chị N trực tiếp nuôi dưỡng con
chung, việc cấp dưỡng cho con hai bên tự thoả thuận. Xét nguyện vọng nuôi con
của chị N là chính đáng, con đang ở với chị N, được chị N và gia đình chăm sóc
chu đáo, chị N có đủ điều kiện để nuôi con, hơn nữa con chung giới tính nữ, lại
còn nhỏ cần có sự quan tâm chăm sóc của mẹ, để không ảnh hưởng đến việc
sinh hoạt của các con chung, do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị N giao con
chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng
cho con, anh D1 có quyền đi lại thăm nom giáo dục con chung là phù hợp với,
nguyện vọng của các con chung và phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83
Luật Hôn nhân gia đình.
[4] Về tài sản chung: Chị Hà Thị N và anh Đường Phan D1 không yêu cầu
Toà án giải quyết nên về tài sản chung Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí: Chị Hà Thị N nhận chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm theo quy
định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
4
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hà Thị N và bị đơn anh Đường
Phan D1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và
Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 35, khoản 1
Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị N
và anh Đường Phan Duyên .
2.Về nuôi con chung: Xử giao con chung là Đường Thị Quỳnh A sinh ngày
11/8/2020 cho chị Hà Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh D1
cấp dưỡng cho con. Anh D1 có quyền đi lại thăm nom giáo dục con chung mà
không ai được cản trở. Chị N, anh D1 có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi
dưỡng con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4.Về án phí: Chị Hà Thị N phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi
nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) chị N đã nộp theo biên lai thu số 0000716 ngày 05 tháng 8 năm 2026 tại
Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hưng Yên được chuyển thành tiền án phí
và trả lại chị N 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hà Thị N và bị đơn anh Đường
Phan D1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kề từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của
pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- Phòng THADS Khu vực 8 – Hưng Yên;
- Nơi ĐKKH: UBND xã Lê Quý Đôn, Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Duyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST Bản án số 196/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất