Bản án số 19/2020/HS-PT ngày 10/02/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng về tội cố ý gây thương tích

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2020/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 19/2020/HS-PT ngày 10/02/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng về tội cố ý gây thương tích
Tội danh: 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sóc Trăng
Số hiệu: 19/2020/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 19/2020/HS-PT.
Ngày 10-02-2020.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Thẩm phán: Bà Tăng Thị Thúy Nga
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư phiên tòa: Cao Thị Mỹ Nhiên-Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh c Trăng tham gia phiên tòa:
Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 ngày 10 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Sóc Trăng t xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số
83/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Văn Tuấn K, Văn
T do kháng cáo của bị o K đối với Bản án hình sự thẩm số
32/2019/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh
Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Văn Tuấn K (Tên gọi khác: T); Sinh năm 1989 tại huyn M, tnh Sóc
Trăng; Nơi trú: p T, th trn M, huyn M, tỉnh Sóc Trăng; Giới tính: Nam;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn T, sinh năm 1965 NLC1, sinh
năm 1960; Anh, chị, em ruột 02 người, lớn sinh năm 1985, nhỏ bcáo;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cấm đi khỏi nơi trú từ ngày 12/12/2017
cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
2. Văn T; Sinh năm 1965 tại huyn M, tnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: p T, thị
trn M, huyn M, tnh c Trăng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ
học vấn: 9/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Văn H, sinh năm 1940 và Thị B, sinh năm 1940; Anh, chị, em ruột: có 02
người, lớn sinh năm 1961, nhỏ bị cáo; vợ NLC1, sinh năm 1960
02 người, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1989; Tiền án: Không; Tiền sự:
Không. Bị cấm đi khỏi nơi trú tngày 18/3/2019 cho đến nay. (Bị cáo có
mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Bùi Khắc T - Luật sư Công ty Luật
2
TNHH BKT thuộc Đoàn luật thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: S A Đ,
phường B, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị hại:
1. Ông Ngô Trường A, sinh năm 1985. Nơi trú: Số 92, tỉnh lộ 934, Ấp
T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có đơn)
2. Ông Triệu Vũ S, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Ấp T, thị trấn M, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có đơn)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:Nguyễn Thị Hồng
V, sinh năm 1959. Nơi trú: p T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có
mặt)
- Người làm chứng:
1. Bà NLC1, sinh năm 1960; (có mặt)
2. Ông NLC2, sinh năm 1985; (vắng mặt)
3. Ông NLC3, sinh năm 1975; (có mặt)
4. Ông NLC4, sinh năm 1970; (vắng mặt)
5. Bà NLC5, sinh năm 1989; (vắng mặt, có đơn)
6. Bà NLC6, sinh năm 1962; (vắng mặt, có đơn)
7. Ông NLC7, sinh năm 1960; (vắng mặt)
8. Bà NLC8, sinh năm 1939; (vắng mặt)
9. Bà NLC9, sinh năm 1970; (vắng mặt)
10. Bà NLC10, sinh năm 1979. (vắng mặt, có đơn)
Cùng nơi cư trú: Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu trong h vụ án din biến ti phiên tòa, ni dung
v án được tóm tắt như sau:
Gia đình bà NLC6, ông Triu S (em ruột bà NLC6) với gia đình
NLC1 liền k với nhau tại Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh c Trăng và có
mâu thuẫn trong sinh hot. Vào khong 06 gi ny 05/02/2017 Ngô Trường
A con rể NLC6 ttrong n NLC6 kéo xe đy đi qua bên l đối diện, ng
c Văn Tuấn K là con ruột NLC1 cũng t nhà đi qua bên lđối din đ ly
xe tô đi làm. Khi thấy K, A đi lại hi ngày m qua mày chửi vợ tao cái
, K trả lời “chuyện xảy ra ri nói gì nữa thì giữa A K xảy ra ci,
c y K có dùng tay đánh tng vào vùng mặt của A một i, sau đó A và K
ng tay đánh qua lại với nhau.
Từ pa bên l đối din nn qua thấy A và K đánh nhau nên pa bên
gia đình của A NLC5 (vcủa A), Triệu Vũ S (cậu vcủa A) và bà NLC6
(mẹ vcủa A) tbên nhà chy qua chỗ A và K đánh nhau, lúc đi t NLQ6 có
3
cầm trên tay một miếng ván gỗ (loại n ép màu xanh). Cùng c này phía
n gia đình của K cũng nn qua bên lộ đối diện thấy đánh nhau nên
NLC1 (mruột K), n T (cha rut K) NLC2 (anh rut K) ng t n nhà
chy qua ch A và K đánh nhau. Sau đó tt cnhng người này dùng tay xô
t, giằng co, nắm kéo nhau được một lúc t ngh, hai n b v nhà và thời
đim này không ai bị thương tích . Khi v thì A, NLC5, NLC6 đi v
tớc, rng S vẫn còn n lộ đối din.
Về đến nhà của NLC6, A cầm trên tay một y a thầu, NLC6 cm
trên tay một cây lau nhà, NLC5 không cầm hung khí , tt cả đi qua, đi lại
tớc cửa nhà. c này nhng người n gia đình của K, gồm K cm trên tay
một kc cây kim loi (hình hộp chnhật), NLC2 cầm trên tay một kc cây
tre; riêng T, NLC6, NLC3 (cậu ruột K), NLC4 (cậu ruột K) Nguyễn Thị
Hồng V ( ruột K) không cầm hung khí , tất c ln lượt đi qua trước cửa
nhà NLC6. Sau đó các thành viên nói tn của hai bên gia đình tiếp tục cự
i, tiếp tc xô t qua lại với nhau, b lấn át nên phía bên A (A, NLC5,
NLC6) phải dạt vào trong n. Thấy vy S t bên l cầm miếng ván g của
NLC6 đem qua lúc đầu chy v b dưới lộ nha trước n bà NLC6 đ đi o
trong nhà lấy hung khí khác. Khi đó Văn T đã lượm miếng ván g này cầm
trên tay rồi đi vào trong n của ông Sơn đứng trước ca tim tạp hóa.
Từ trong nhà ca mình, S cầm một khúc y kim loại trên tay chạy ra
đứng dưới l nha trước cửa thì pa bên gia đình của K kéo qua ch ông S
đang đứng. S hai tay cm khúc cây kim loại đưa lên và i“tao kng sợ y
đâu thì bị K cầm khúc y kim loại đánh một cái tng vào khúc y kim
loi của ông S trượt trúng vào tay phải của ông S làm cho khúc cây kim loại
ông S đang cầm tn tay bị rớt xuống đất, ông S bị thụt i vsau té ngửa
tớc cửa tiệm tp hóa, khi đó T đang đứng gần đó cầm miếng ván g đưa
lên đánh trúng vào ng đầu của ông S liên tiếp hai i làm cho miếng ván g
bị gãy làm hai rớt xuống đt. c này A, NLC5, NLC6 t bên n bà NLC6
chy qua chỗ ông S đhỗ trợ ông S t NLC2 cầm khúc y tre ng nhào vô
nhưng được NLC5 can nn n NLC2 ch đánh trúng NLC6 một cái
(kng y ra tơng ch), NLC4 nhào ng tay đánh trúng vào cánh tay
trái ca ông S hai cái (không gây ra thương ch) và đánh tng vào vùng vai
của ông A một cái (không gây ra thương ch), n NLC2 cũng ợm khúc
y kim loại ca ông S đã b rớt khi bị K đánh nhào vô nhưng được mọi
người can ngăn, kéo ran kng đánh trúng ai.
Sau khi xô xát đánh nhau tại nhà của ông S, A tnhà ông S đi về đng
trên hàng ba nhà NLC6 thì bị Kh cầm kc y kim loại chồm tới đánh
tng vào ng đầu A một cái. Sau đó được can ngăn những người n gia
đình của Khải bỏ về. Trước khi v bà Nguyễn ThHồng Vn dùng tay đổ
một số đ tạp hóa của ông S. Sau đó A đi vào trong nhà NLC6 ly ra một
y dao cầm tn tay đthủ cho đến khi Cơ quan ng an đến. Toàn b diễn
biến s việc xô xát đánh nhau ti nhà của ông S, bà NLC6 được camera của
gia đình ông S, NLC6 ghi nhận lại, chép vào USB và đĩa nhựa giao nộp
cho quan Công an huyện M. Hậu quả, Triệu S Ngô Trường A bị
4
thương phải điều trị ti Bệnh viện đa khoa c Trăng từ ngày 05/02/2017 đến
ngày 13/02/2017 thì xuất viện.
Đối với bà NLC1, vào ny 06/02/2017 đi chụp X.Quang ti png
khám phát hiện bị gãy xương mu trái nhưng Quang không nằm
vin điều trị. Sau đó, o ngày 10/02/2017 NLC1 đến Bệnh vin đa khoa
tỉnh c Tng nhập viện điều trị đến ny 17/02/2017 xuất viện.
Trong ngày 05/02/2017 tiếp nhận tin báo về tội phạm của NLC5, Công an
thị trấn Mỹ Xuyên đã tiến hành lập biên bản về tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm chuyển cho Công an huyện M xử tin báo về tội phạm. Đến ngày
19/7/2017, ông Triệu S Ngô Trường A đơn yêu cầu xử hình sự đối
với Văn Tn Tuấn K.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 57/TgT-PY, ngày
22/3/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng đã kết luận: Triệu S bị tổn
thương cơ thể 11% ở ngón 1 bàn tay phải và 03% ở vùng đỉnh trán phải. Tổng tỷ
lệ tổn thương cơ thể là 14%. Các tổn thương do vật tày gây ra.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 56/TgT-PY, ngày
22/3/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng đã kết luận: Ngô Trường A bị
tổn thương cơ thể 08% ở vùng đỉnh trái. Tổn thương do vật tày gây ra.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 137/TgT-PY, ngày
14/7/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng đã kết luận: NLC1 bị tổn
thương cơ thể 16% gãy ngành ngồi mu trái do ngã ngồi nên gãy, không xác định
được vật gây thương tích. Bản kết luận giám định pháp y vthương tích số:
101/TgT, ngày 20/6/2019 của Viện pháp y quốc gia Phân viện thành phố Hồ Chí
Minh kết luận: Tổn thương gãy xương mu trái của NLC1 do vật tày tác
động vào vùng xương mu trái gây nên. Theo phim X-Quang ngày 06/02/2017
xác định bà NLC1 bị gãy xương mu trái, gãy ơng này thể hiện đang can
xương trên phim, đây là tổn thương cũ xảy ra trước ngày 05/02/2017.
Tại Bản kết luận giám định số: 1390/C54B, ngày 02/4/2018 của Phân viện
Khoa học hình sự, Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Miếng gỗ
(loại n ép u xanh) là hung khí nguy hiểm.
Tại Bản kết luận giám định số: 1392/C54B, ngày 23/5/2018 của Phân viện
Khoa học hình sự, Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không phát
hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa các tập tin hình ảnh (Video) trong USB và
đĩa nha gửi giám định.
* Tại Bản án hình sự thẩm số 32/2019/HSST ngày 31 tháng 10 năm
2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Văn Tuấn K bị cáo Văn T phạm tội Cố ý y
thương tích”.
2. Căn cứ điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bluật Hình sự năm 2015 được sửa
đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 33, Điều 53 Bluật
Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị
5
quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật
hình sự s100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số
12/2017/QH14.
- Xử phạt bị cáo Văn Tuấn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo
thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt
bị cáo thi hành án.
3. Về trách nhiện dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 42 Bộ luật hình sự năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, các Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590
Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Văn Tuấn K bị cáo Văn T liên đới bồi
thường cho ông Triệu S stiền 12.486.446 đồng. Buộc bị cáo Văn Tuấn K
bồi thường cho ông Ngô Trường A số tiền 8.693.227 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn giải quyết về xử vật chứng, án phí
quyền kháng cáo của bị cáo người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 07/11/2019, bị cáo Văn Tuấn K bị cáo Văn T kháng cáo toàn
bộ bản án thẩm để minh oan cho các bị cáo cấp thẩm xem xét đánh giá
chứng cứ không khách quan, toàn diện, chính xác và đầy đủ.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Văn Tuấn K thay đổi một phần kháng cáo thừa nhận ngày
05/02/2017 tại Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng bị cáo dùng thanh
sắt đánh trúng vào đầu gây thương tích cho bị hại Ngô Trường A khi bị hại
Triệu Vũ S ng cây tuýp sắt đánh bị cáo thì bị cáo có ng cây sắt đánh lại
trúng vào cây sắt của bị hại Sơn nhưng không đánh trúng vào tay của bị hại
Triệu S thương tích tay của bị hại S không phải do bị cáo gây ra sau
khi ẩu đã với nhau 04-05 ngày sau bị cáo mới nghe nói bị hại S bị y ngón tay,
sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã khắc phục toàn bộ phần trách nhiệm dân sự cho
bị cáo Ngô Trường A với số tiền 8.693.227đồng theo bản án thẩm, bị cáo
bị cáo T cũng đã khắc phục cho bị hại S 10.000.000 đồng. Từ đó bị cáo xin được
giảm án và được hưởng án treo.
- Bị cáo Văn T thừa nhận dùng miếng ván ép đánh vào đầu gây thương
tích cho bị hại Triệu S; Về phần trách nhiệm dân sự sau khi xét xử thẩm
bị cáo và bị cáo Khải đã nộp cho Chi cục thi hành án huyện M số tiền
10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại S nên bcáo kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm căn cứ vào Điều 357 ca B lut T tng hình s năm 2015, chấp
nhn mt phn kháng cáo ca b cáo Văn Tuấn K chp nhn toàn b kháng
cáo ca b cáo Văn T sa bản án sơ thẩm theo hướng gim án cho b cáo Khi t
6
06-09 tháng tù; gim án cho b cáo Văn T 03 tháng cho b cáo T được
ng án treo.
- Tại phiên tòa người bào cha cho b cáo Văn Tuấn K b cáo Văn T
trình bày:
+ Đối vi b cáo Văn T: V ti danh thng nht với án thẩm b cáo
phm tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 B lut Hình s năm 2015 (sa
đổi, b sung năm 2017); v khung hình pht b cáo ch gây thương tích cho b
hi S 03% bng miếng ván ép hung khí nguy him nên b cáo ch phm ti
“C ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 B lut Hình s năm
2015 (sửa đổi, b sung năm 2017); về tình tiết gim nh: Ti phiên tòa phúc
thm hôm nay b cáo đã thành khẩn khai báo và cùng vi b cáo K khc phc
đưc cho b hi S 10.000.000 đồng; b cáo phm ti lần đu thuộc trường hp ít
nghiêm trng; b cáo phm ti do tinh thn b kích động do hành vi trái pháp lut
ca nạn nhân; trước khi phm ti b cáo nhân thân tt không tin án, tin
s theo quy định tại điểm b, đ, p, h khon 1, khoản 2 Điều 46 B lut Hình s
năm 1999 (sửa đổi, b sung năm 2009). Đi vi b cáo Thành đủ điu kin
ởng án treo theo quy đnh tại Điều 65 B lut Hình s năm 2015 (sửa đổi, b
sung năm 2017) Ngh quyết Ngh quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018
ca Hội đồng thm phán Tòa án nhân dân ti cao. T đó, đề ngh Hi đồng xét
x căn cứ đim e khoản 1 Điều 357 B lut T tng hình s; áp dụng điểm đ
khoản 1 Điều 134 B lut Hình s năm 2015 (sửa đổi, b sung năm 2017); điểm
b, đ, p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 B lut Hình s năm 1999 (sửa đổi, b sung
năm 2009), chp nhn toàn b kháng cáo ca b cáo Văn T gim án cho b cáo
và cho b cáo T được hưởng án treo.
+ Đối vi b cáo Văn Tuấn K: V ti danh ti phiên tòa phúc thm hôm
nay b cáo n Tuấn K tha nhận thương tích 08% ca b hi Ngô Trường A
do b cáo gây ra nên thng nht vi cấp thẩm là b cáo phm tội “Cố ý gây
thương tích” theo Điều 134 B lut Hình s năm 2015 (sửa đổi, b sung năm
2017); Đối với thường tích 11% ngón 1 bàn tay phi ca b hi S thì b cáo K
không tha nhn do b cáo gây ra b o ch đánh trúng vào cây st ca b hi
S, theo chng c có trong h sơ thì không đủ căn cứ kết lun b cáo K gây ra vết
thương bàn tay phi ca b hại Sơn nên bị o ch phm ti “C ý gây thương
tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 B lut Hình s năm 2015 (sửa đổi b sung
năm 2017); V tình tiết gim nh: Ti phiên tòa phúc thm hôm nay b cáo K
cũng đã thành khn khai báo, b cáo khc phc toàn b phn trách nhim dân s
cho b hi A và cùng vi b cáo T khc phục được cho b hi S 10.000.000 đồng,
b cáo phm ti lần đu thuc trường hp ít nghiêm trng, b cáo phm ti do
tinh thn b kích động do hành vi trái pháp lut ca nn nhân, trước khi phm ti
b cáo nhân thân tt không tin án tin s theo quy đnh tại điểm b, đ, p, h
khon 1, khoản 2 Điều 46 B lut Hình s năm 1999 ( sửa đi, b sung năm
2009). Đối vi b cáo K đủ điu kiện hưởng án treo theo quy đnh tại Điều 65
B lut Hình s năm 2015 (sửa đổi, b sung năm 2017) Ngh quyết Ngh
quyết 02/2018/NQ-TP ngày 15/5/2018 ca Hội đồng thm phán Tòa án nhân
dân ti cao. T đó, đề ngh Hi đồng xét x căn c đim e khoản 1 Điều 357 B
7
lut T tng hình s; áp dụng điểm a khoản 1 Điu 134 B lut Hình s năm
2015 (sửa đổi, b sung năm 2017; điểm b, đ, p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46 B
lut Hình s năm 1999 ( sửa đổi, b sung năm 2009), chp nhn toàn b kháng
cáo ca b cáo Văn Tuấn K gim án cho b cáo cho b cáo K được hưởng án
treo.
+ Đề ngh Hội đồng xét x cp phúc thm kiến ngh x v hành vi gây
ri trt t công cộng đi vi những ngưi trong phía gia đình b hi. Kiến ngh
cơ quan điều tra xem xét lại hành gây vi gây thương tích đi vi bà NLC1 nhm
không b lt ti.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liu trong h vụ án đã được
tranh tụng tại phiên a, Hội đng xét xử nhận định n sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo phạm vi t x phúc thẩm: t
Đơn kháng cáo của bị cáo n Tuấn K n T lập nộp cho a án nhân dân
huyện M, tỉnh c Trăng vào ngày 07/11/2019 đúng quy định về ngưi kháng
o, thời hn kng cáo, hình thức, ni dung kháng cáo theo quy định của các điều
331, 332 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay
bị cáo Văn T bị cáo Văn Tuấn K thay đổi kháng cáo thành xin giảm án
hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng
cáo của các bị cáo Văn T Văn Tuấn K vviệc xin giảm án và xin hưởng án
treo.
[2] Về hành vi phạm tội ca bị cáo Văn Tuấn K Văn T n sau:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Văn T thừa nhận vào
khoảng 07 giờ ngày 05/02/2017, tại Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh c Trăng
bị cáo Văn T ng miếng ván ép đánh vào đầu bị hại Triệu Vũ S; bị cáo Văn
Tuấn K thừa nhận cũng vào thời gian tại địa điểm nêu trên khi bị hại S ng
ống tuýp sắt đánh bị cáo thì bị cáo dùng thanh sắt đánh lại ông S trúng vào
ông tuýp sắt ông S đang cầm, sau đó bị cáo ng thanh sắt đánh trúng đầu
của bị hại Ngô Trường A.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 57/TgT-PY, ngày
22/3/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng đã kết luận: Triệu S bị tổn
thương cơ thể 11% ở ngón 1 bàn tay phải và 03% ở vùng đỉnh trán phải. Tổng tỷ
lệ tổn thương cơ thể là 14%. Các tổn thương do vật tày gây ra.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 56/TgT-PY, ngày
22/3/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng đã kết luận: Ngô Trường A bị
tổn thương cơ thể 08% ở vùng đỉnh trái. Tổn thương do vật tày gây ra.
Tại Bản kết luận giám định số: 1390/C54B, ngày 02/4/2018 của Phân viện
Khoa học hình sự, Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Miếng gỗ
(loại n ép u xanh) là hung khí nguy hiểm.
8
Lời thừa nhận của bcáo Thành về việc gây thương ch cho bị hại Triệu
S phần lời thừa nhận tội của bị cáo Văn Tuấn K về thương tích của bị hại
Ngô Trường A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người
làm chứng và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
.
[2.2]
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bcáo Văn
Tuấn K cho rằng thương tích 11% bàn tay phải của bị hại S không phải do
bị cáo gây ra. Xét thấy, bị cáo thừa nhận khi bị hại S dùng ống tuýp sắt đánh bị
cáo thì bị cáo dùng thanh sắt đánh lại trúng vào cây tuýp sắt do bị hại Sơn
đang cầm, làm ng tuýp sắt của bị hại S rớt xuống đất bhại Sơn ngữa về
phía sau; tại phiên tòa tòa hôm nay bị cáo cũng cho rằng không thấy ai khác
đánh vào tay của bị hại S sau khi đánh nhau không thấy tay của bị hại S bị
thương 03-04 ngày sau thì mới nghe nói bị hại S bị thương tay. Tuy nhiên,
n cứ vào hồ bệnh án của bị hại S do Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng lập
thể hiện bhại S nhập viện lúc 10 giờ 33phút ngày 05/02/2017, xuất viện lúc 9
giờ 28 phút ngày 13/02/2017; tình trạng bệnh khi vào viện vết thương đầu,
y đốt 1 ngón 1 tay phải. Từ đó cho thấy bị cáo K ng thanh sắt đánh vào
ống tuýp sắt bị hại S đang cầm, ngoài ra không người nào khác đánh vào
vùng tay của bị hại S, thương tích ở tay của bị hại S là liền sau khi bị cáo K đánh
vào ống tuýp sắt do bị hại S đang cầm, nên căn cứ xác định thương tích 11%
bàn tay phải của bị hại S bcáo K gây ra. Bị cáo K và bị cáo T cùng gây
thương thương tích cho bị hại S tổng cộng là 14% nên các bị cáo phải chịu trách
nhiệm chung với vai trò đồng phạm. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị
cáo Văn T Văn Tuấn K phạm tội “Cố ý gây thường tích” theo quy định tại
điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm án của bị cáo Văn Tuấn K: Khi xét xử sơ thẩm
bị o không thừa nhận hành vi phạm tội không khắc phục phần trách nhiệm
dân sự nên khi lượng hình, Hội đồng xét xử thẩm đã áp dụng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền
sự theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) đúng đầy đủ. Tuy nhiên, sau khi xét xử thẩm bị cáo
nộp cho Chi cục thi hành án huyện M số tiền 8.693.227 đồng khắc phục cho bị
hại A; bị cáo K cùng với bị cáo Văn T nộp cho Chi cục Thi hành án huyện M
10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại Triệu Vũ S; ngoài ra, trong vụ
án này nguyên cớ dẫn đến việc đánh nhau xuất phát từ phía các bị hại nên bị
hại cũng mt phần lỗi, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại
điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng bổ sung các tình tiết
giảm nhẹ này chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Văn Tuấn K phù hợp quy định pháp luật,
thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống
tội phạm cho toàn xã hội.
[4] t về kháng o xin ng án treo của bị o n Tuấn K: Xét điều
kiện để hưởng án treo của bị cáo K thì thấy, bị cáo bị xử phạt tù không quá 03
9
năm, bị cáo nhân thân tốt, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình snăm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1
Điều 48 của Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Căn cứ theo
quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bcáo Văn Tuấn K không đủ điều
kiện được hưởng án treo bị cáo chỉ 01 tình tình tiết giảm nhẹ khắc phục
hậu qucho bị hại được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự
1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009). Ngoài ra, loại tội phạm “Cý gây thương
tích chiều hướng gia tăng địa phương, cần xử tù giam đề phòng chống
tội phạm nhằm phục vụ chính trị địa phương nên kháng cáo xin đượng hưởng
án treo của bị cáo K là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo xin giảm án của bị cáo Văn T: Trong giai đoạn điều tra
cũng như tại phiên tòa thẩm bị cáo T không thừa nhận hành vi phạm tội
không khắc phục phần trách nhiệm dân sự nên khi lượng hình, Hội đồng xét xử
thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình scho bị cáo là bị cáo
nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của
Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đúng đầy đủ. Tuy
nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cùng với bị cáo Văn Tuấn K nộp cho Chi
cục thi hành án huyện M số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị
hại Triệu Vũ S; tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo
ăn năn hối cải; trong vụ án này nguyên cớ dẫn đến việc đánh nhau xuất phát
từ phía các bị hại n các bị hại cũng một phần lỗi, đây là các tình tiết giảm
nhẹ mới theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình
sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp
dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo 02 tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình
sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) không tình tiết tăng nặng nên
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) để xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt; ngoài ra trong vụ án
này bị hại Triệu S bị thương tích 14 % trong đó phần thương tích của bị cáo
gây ra cho bị hại chỉ 03% nên cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T. Từ
những phân tích trên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt của bị cáo T, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Văn T có căn
cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] t về kháng o xin được ng án treo của bị o n T: Xét điều
kiện để hưởng án treo của bị cáo T thì thấy, bị cáo bị xử phạt không quá 03
năm, bị cáo nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 1 Điều 46 không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009); bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Văn
T đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định của Nghị quyết 02/2018/NQ-
HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối việc
10
cách ly bị o ra khỏi đời sống hội không cần thiết mà cho bcáo được
hưởng án treo cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
thẩm áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bsung năm 2009);
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Văn T.
[7] Về phần trách nhiệm dân sự: Án thẩm buộc bị cáo Văn Tuấn K
bị cáo Văn T liên đới bồi thường cho ông Triệu S số tiền 12.486.446 đồng.
Buộc bị cáo Văn Tuấn K bồi thường cho ông Ngô Trường A số tiền
8.693.227đồng. Tại phiên Tòa hôm nay các bcáo Văn Tuấn K bị cáo Văn T
đồng ý liên đới bồi thường cho ông Triệu S số tiền 12.486.446 đồng. Bị o
Văn Tuấn K đồng ý bồi thường cho ông Ngô Trường A số tiền 8.693.227đồng
nên buộc bị cáo Văn Tuấn K và bị cáo Văn T liên đới bồi thường cho ông Triệu
S số tiền 12.486.446 đồng. Buộc bị cáo Văn Tuấn K bồi thường cho ông
Ngô Trường A số tiền 8.693.227đồng.
[8] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về việc sửa bản án thẩm theo hướng
giảm hình phạt cho các bị cáo Văn Tuấn K, Văn T và cho bị cáo T hưởng án treo
có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Lời đề nghị của Luật bào chữa cho bị cáo Văn T về việc áp dụng
cho bị cáo Thành các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật
Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), giảm án cho bcáo Văn T
cho bị cáo T được hưởng án treo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Lời đnghị của vị luật bào chữa cho bị cáo Văn Tuấn K về việc
giảm án cho bị cáo K là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Không chấp nhận lời đề nghị của vị luật sư về việc cho bcáo Khải
hưởng án treo với lý do như đã phân tích ở đoạn [4].
[12] Lời đề nghị của vị luật bào chữa cho rằng bị cáo Khải không gây
thương tích cho bị hại S các bị cáo K, T chỉ phạm tội Cố ý gây thương tích”
theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 không căn cứ như đã
phân tích ở đoạn [2].
[13] Đối với lời đề nghị của vị luật bào chữa cho các bị cáo K, T về
việc áp dụng cho các bị cáo K, T tình tiết giảm nhẹ như: các bị cáo phạm tội lần
đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo phạm tội do tinh thần bị kích
động do hành vi trái pháp luật của nạn nhân theo quy định tại điểm đ, h khoản 1
Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là không có căn
cứ chấp nhận các bị cáo bị xét xử tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khung hình phạt từ 02 đến 06 năm
tội rất nghiêm trọng. Trong vụ án này phía bị hại chỉ một phần lỗi đây
tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa
đổi, bổ sung năm 2009) chứ chưa đủ căn cứ để áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ là
các bị cáo phạm tội do tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của nạn
nhân theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa
đổi, bổ sung năm 2009).
11
[14] Đối với đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị xvề hành
vi gây rối trật tự công cộng đối với những người trong phía gia đình bị hại; Kiến
nghị quan điều tra xem xét lại hành gây vi gây thương tích đối với NLC1
nhằm không bỏ lọt tội của vị luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ nên
Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[15] Tiếp tc quản s tiền 5.000.000 đồng do bị cáo Văn Tuấn K np
cho Chi cục thi nh án huyện M theo biên lai s 000573 ngày 07/01/2020; s
tin 10.000.000 đồng do bị o Văn Tuấn K b cáo Văn T đã nộp cho Chi
cục thi nh án huyện M theo bn lai số 000574 ngày 07/01/2020 và số tin
3.693.227 đồng do bị cáo n Tuấn K đã nộp cho Chi cục thi hành án dân sự
huyện M theo bn lai s 000576 ngày 03/02/2020 để đảm bảo thi hành án.
[16] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm h khoản 2 Điều 23 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án, do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Văn Tuấn K, Văn
T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[17] Các phần khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào đim c, e khon 1 Điu 357 ca B lut T tng hình s
năm 2015.
Chp nhn kháng cáo xin gim án ca b cáo Văn Tuấn K (Tch). Không
chp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo ca b cáo Văn Tuấn K (Tch).
Chp nhn toàn b kháng cáo xin gim án xin ng án treo ca b cáo
Văn T.
Sa quyết định v hình phạt đối vi b cáo Văn Tuấn K (Tch) và b cáo
Văn T ca Bn án hình s thẩm s 32/2019/HSST ngày 31 tháng 10 năm
2019 ca Tòa án nhân dân huyn M, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 33;
Điều 53 của Bluật nh snăm 1999 (sửa đổi, bsung năm 2009); điểm b
khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về
việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số
điều theo luật số 12/2017/QH14 đối với bị cáo Văn Tuấn K (Tịch).
Xử phạt bị cáo Văn Tuấn K (T) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng về tội “Cố
ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo
tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo thi hành án.
12
3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017); điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều
20, Điều 33, Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009); Điều 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017); Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối điểm b khoản 1 Điều 2 Nghquyết số 41/2017/QH14
ngày 20/6/2017 của Quốc Hội v việc thi hành Bộ luật hình sự số
100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số
12/2017/QH14 đối với bị cáo Văn T.
Xử phạt bị cáo Văn T 01(một) năm 06 (sáu) tháng vtội “Cố ý gây
thương tích”. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo thời gian thử thách là 03 năm tính
từ ngày 10 tháng 02 năm 2020.
Giao bị cáo n T cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc
Trăng giám sát, giáo dục bcáo Thành trong thời gian thử thách. Trong trường
hợp bị cáo thay đổi nơi trú thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về
thi hành án hình sự,
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về trách nhiện dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 42 Bộ luật hình sự năm
1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, các Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590
Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Văn Tuấn K (Tịch) và bị cáo Văn T liên
đới bồi thường cho ông Triệu S số tiền 12.486.446 đồng. Buộc bị cáo n
Tuấn K (T) bồi thường cho ông Ngô Trường A số tiền 8.693.227đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật và các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án,
thì hàng tháng các bị cáo còn phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian
chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Tiếp tục quản stiền 5.000.000 đồng do bcáo Văn Tuấn K (T) nộp
cho Chi cục thi hành án huyện M theo biên lai số 000573 ngày 07/01/2020; số
tiền 10.000.000 đồng do bị cáo Văn Tuấn K (T) bị cáo Văn T đã nộp cho Chi
cục thi nh án huyện M theo biên lai số 000574 ngày 07/01/2020; stiền
3.693.227 đồng do bị cáo Văn Tuấn K (T) đã nộp cho Chi cục thi hành án dân
sự huyện M theo biên lai số 000576 ngày 03/02/2020 để đảm bảo thi hành án.
5. V án phí hình s phúc thm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khon 2
Điu 136 ca B lut T tng hình s năm 2015 điểm h khoản 2 Điều 23 ca
Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 ca Ủy ban Thường v
Quc hội, quy đnh v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí
l phí Tòa án. Các b cáo Văn Tun K (T) Văn T không chu án phí hình
s phúc thm.
6. Các phần khác của bản án hình sự thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
13
7. Bn án phúc thm này có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Sóc Trăng (01);
- TAND huyn M(02);
- VKSND huyn M(01);
- CQTHAHS- Công an M (01)
- CSĐT- Công an huyn M; (01)
- Chi cc THADS huyn M(01);
- PHSNV - Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
- B cáo; BH; NBC, NLQ (06);
- PKTNV-THA - TAND tỉnh Sóc Trăng (01);
- CQTHAHS - Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
- Sơ Tư pháp (01);
- Lưu HSVA, THS, THCTP (04);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Đã ký tên và đóng dấu
Nguyn Thành Hu
Tải về
Bản án số 19/2020/HS-PT Bản án số 19/2020/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất