Bản án số 184/2023/HS-ST ngày 23/05/2023 của TAND Q. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 184/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 184/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 184/2023/HS-ST ngày 23/05/2023 của TAND Q. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Thủ Đức (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 184/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 184/2023/HS-ST
Ngày: 23/5/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
2. Bà Bùi Thị Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức
(địa chỉ: số 18 đường số 6, khu phố 5, phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ
lý số 144/2023/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 171/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:
1/ Lê Quang T (tên gọi khác: M), sinh năm 1992; Giới tính: Nam; nơi
sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 475/9F đường H, khu phố x,
phường V, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Nhà không số (kế bên
nhà 606/44/17), đường Q, khu phố y, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn
hóa: 2/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Con ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị N;
Vợ Phạm Thị Thúy H, bị cáo có 01 con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo
bị bắt, tạm giam ngày 23/9/2022 (có mặt)
2/ Võ Thành D (tên gọi khác: D), sinh năm 1967; Giới tính: Nam; nơi
sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 255/6/40 đường N, phường
X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số 563 đường Q, khu phố m,
phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:
Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông
Võ Văn H1 (chết) và bà Nguyễn Thị H2 (chết); Vợ Vũ Thị T1, bị cáo có 01 con
sinh năm 1996;; Tiền án: không; Tiền sự: không;
2
Nhân thân:
- Ngày 12/7/1994, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 11
tháng tù về tội “Tàng trữ vũ khí trái phép” theo Bản án số 715/HSST. Bị cáo
chấp hành xong hình phạt ngày 14/7/1994.
- Ngày 29/12/2006, Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số
82/2006/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/02/2009; nộp án
phí hình sự sơ thẩm ngày 12/5/2008;
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 23/9/2022 (có mặt).
- Bị hại:
1/ Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 35 Đường x, khu phố y, phường H, thành phố T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
2/ Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: số 35 Đường x, khu phố y, phường H, thành phố T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: số 4 đường z, khu phố k, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh.
2/ Anh Cao Minh M, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: 565A đường Q, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 23 giờ ngày 23/7/2022, Lê Quang T đi bộ về ngang qua nhà
số số 35 Đường x, khu phố y, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
thì phát hiện tại trước nhà có để 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu xanh biển
số 47D1-178.52 và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen, đỏ biển số
59G2-182.80 dựng trong sân nhà số số 35 Đường x, khu phố y, phường H, thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy
tiền tiêu xài. T tìm gần cửa cổng căn nhà thấy một cây sắt tròn dài khoảng 50cm
nên nhặt lấy để phá chốt cửa rồi mở cửa cổng đi vào bên trong, sau đó lần lượt
dẫn bộ 02 xe mô tô biển số 47D1-178.52 và xe mô tô biển số 59G2-182.80 về
nhà trọ tại phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (cách nơi lấy xe
khoảng 500 mét) để cất giấu. Vài ngày sau, T điều khiển xe mô tô biển số 59G2-
3
182.80 đi cùng B (không rõ nhân thân) đến gặp Võ Thành D tại tiệm sửa xe, địa
chỉ số số 563 đường Q, khu phố m, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh, T nói cho D biết xe mô tô trên là do T trộm cắp được nên nhờ D bán giúp
và hứa cho D tiền khi bán được xe, D đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe đi cùng
với B đến nhà của chị Nguyễn Thị Hồng N (sinh năm 1973) tại địa chỉ số số 4
đường z, khu phố k, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để bán xe
cho chị N với giá 2.000.000 đồng và mang về đưa cho T, sau đó D được T cho
lại D 100.000 đồng từ việc bán xe. Khoảng 01 tháng sau, T mang xe mô tô hiệu
Honda Vision biển số 47D1-178.52 đến bán cho một người không rõ nhân thân
lai lịch tại chợ đầu mối Thủ Đức với giá 3.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 353-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 30/9/2023
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Uỷ ban nhân dân thành phố Thủ
Đức kết luận: Xe mô tô Honda Wave RSX màu đen, đỏ biển số 59G2-182.80 trị
giá 5.833.000 đồng và xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xanh, biển số
47D1-178.52 trị giá 13.833.000 đồng. Tổng cộng là 19.666.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh, Lê Quang T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, T còn
khai nhận khoảng tháng 9/2022, T cùng với P (chưa rõ lai lịch) lấy trộm 01 xe
ba gác tại phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và bán cho
một người phụ nữ (không rõ lai lịch) tại Quận 12 với giá 2.000.000 đồng và
cùng với một người tên P1 (chưa rõ lai lịch) lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Yamaha
Sirius (không rõ biển số) tại huyện G, tỉnh Tiền Giang, bán được số tiền
1.700.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh, Võ Thành D khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, D
còn khai nhận giới thiệu cho anh Cao Minh M (sinh năm 1994; cư trú: 565A
đường Q, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) mua xe mô tô hiệu
Honda Airblade màu vàng, đen biển số 59C2-532.17 của người tên “Đ” (chưa rõ
lai lịch) với giá 3.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh, chị Nguyễn Thị Hồng N khai nhận: Khi Võ Thành D giới thiệu
chị N mua xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, biển số 59G2-182.80,
D không nói cho chị N biết nguồn gốc của xe mô tô trên. Sau đó chị N đã bán lại
xe mô tô biển số 59G2-182.80 cho một người tên “Đ” (không rõ lai lịch) do D
giới thiệu với giá 2.500.000 đồng, sau khi bán được xe thì chị N cho D số tiền
100.000 đồng. Chị N không biết tài sản trên là do T trộm cắp mà có.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh, anh Cao Minh M khai nhận: Khi Võ Thành D giới thiệu anh M
mua xe mô tô hiệu Honda Airblade màu vàng, đen biển số 59C2-532.17, D và
người bán không nói cho anh M biết nguồn gốc của xe mô tô trên.
Kết quả xác minh xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xanh, biển số
47D1-178.52 do chị Nguyễn Thị P đứng tên chủ sở hữu.
4
Kết quả xác minh xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, biển số
59G2-182.80 do chị Trần Thị H đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị H cho
biết đã bán lại xe mô tô trên cho anh Nguyễn Văn T2 vào năm 2018, không làm
thủ tục sang tên.
+ Vật chứng thu giữ:
Tạm giữ của chị Nguyễn Thị Hồng N:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 66F1-183.50, số
khung: XDY300127, số máy: 33E-0370513 do chị Nguyễn Thị Hồng N mua lại
của chị Mai Thị Cẩm H1, chị H1 xác nhận có bán xe mô tô trên cho chị N. Ngày
19/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra Quyết
định xử lý tài sản trả lại xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Hồng N.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số 59X2-573.36, số
khung 5261DY-191607, số máy: JC52E-1171417. Xác minh được biết xe mô tô
trên do chị Nguyễn Thị Thanh D đứng tên chủ sở hữu và bị mất trộm tại trước
nhà số B7 đường L, phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã chuyển xe mô tô trên
theo hồ sơ vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 18/9/2022 tại trước nhà số B7
đường L, phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 6B3-489.61, do chị
Nguyễn Thị Hồng N cầm cố của một người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch). Kết
luận giám định số 49/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự
Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: số khung, số máy mài mất số, không
xác định được số nguyên thủy. Tiến hành xác minh chủ sở hữu đối với xe có biển
số 60B3-489.61 do anh Phan Thanh T (sinh năm 1995, nơi cư trú: tổ 1, xã P,
huyện T, tỉnh Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu đối với xe mô tô hiệu Honda
Wave màu xanh đen bạc, số khung RLHJA3900HY120528, số máy:
JA39E0120584. Anh T cho biết bị mất trộm xe trên tại phường H, thành phố
Thủ Đức vào năm 2019 nhưng anh T không đến cơ quan Công an trình báo.
Tạm giữ của anh Cao Minh M:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 60H6-5303, số khung:
FT110-000000218, số máy: HD1P53FMH-00005018 do anh Cao Minh M cầm
cố của một người tên S (không rõ lai lịch). Kết luận giám định số 50/KL-KTHS
ngày 21/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh
kết luận: số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh, số khung, số máy như
trên là của xe mô tô nhãn hiệu MAJESTY của anh Phạm Văn D1 (sinh năm
1974; thường trú: thôn B, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai), anh D1 đã bán lại xe
mô tô trên cho một người (không rõ lai lịch), không làm thủ tục sang tên.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu vàng, đen, biển số 59C2-532.17,
số khung: RLHJF2706BY372239, số máy: JF27E-1220049. Kết luận giám định
số 51/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành
phố Hồ Chí Minh kết luận: số khung, số máy không thay đổi. Tuy nhiên số
khung, số máy của xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký xe mô tô.
5
Xác minh xe mô tô có biển số 59C2-532.17 là xe mô tô hiệu Honda Wave do chị
Nguyễn Thị N1 (cư trú: 106A đường P, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí
Minh) đứng tên chủ sở hữu. Hiện tại, xe mô tô trên gia đình chị Nguyễn Thị N1
vẫn đang sử dụng.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn
T2 yêu cầu bị cáo Lê Quang T bồi thường giá trị hai chiếc xe mô tô bị T chiếm
đoạt theo Kết luận định giá tài sản.
[2] Bản cáo trạng số 142/CT-VKS-TĐTĐ ngày 03/4/2023 của Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê
Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Võ Thành D về tội “Tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
[3] Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quyền công tố
luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử
tuyên bị cáo Lê Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Lê Quang T với
mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị tuyên bố bị cáo Võ Thành D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Võ Thành D với mức án từ 01 năm đến 01 năm
06 tháng tù.
Về vật chứng vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đúng theo quy định
của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Quang T
bồi thường cho bị hại theo đúng quy định pháp luật.
- Bị cáo Lê Quang T và Võ Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh
luận, bào chữa gì và nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ
6
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai
của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được đủ cơ sở
xác định:
Vào khoảng 23 giờ ngày 23/7/2022, Lê Quang T đã có hành vi lén lút lấy
trộm 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xanh, biển số 47D1-178.52 trị giá
13.833.000 đồng của chị Nguyễn Thị P và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX
màu đen đỏ, biển số 59G2-182.80 trị giá 5.833.000 đồng của anh Nguyễn Văn
T2 đang dựng trong sân nhà tại địa chỉ số 35 Đường x, khu phố y, phường H,
thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, Lê Quang T đem xe mô tô biển
số 59G2-182.80 đến gặp Võ Thành D nói cho D biết xe mô tô trên là tài sản do
T trộm cắp mà có và nhờ D giới thiệu bán xe. Võ Thành D biết rõ xe do Lê
Quang T trộm cắp tài sản mà có nhưng vẫn giới thiệu cho chị Nguyễn Thị Hồng
N mua lại xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ, biển số 59G2-182.80
với giá 2.000.000 đồng. Đối với xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xanh,
biển số 47D1-178.52, Lê Quang T đã bán cho một người không rõ nhân thân lai
lịch tại chợ đầu mối Thủ Đức với giá 3.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Lê Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài
sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Võ Thành D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm
đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây
ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Các bị cáo biết rõ hành vi
phạm tội của mình sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý,
thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần xử phạt
nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi, hậu quả mà các bị cáo gây ra, áp
dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian
nhất định nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tác dụng cải tạo, giáo
dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với hành vi trộm cắp 01 xe ba gác tại phường L, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh và 01 xe mô tô hiệu Sirius (không rõ biển số) tại huyện
G, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức đã
tiến hành xác minh nhưng không có ai đến trình báo, Lê Quang T không xác
định được địa điểm cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và
tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm
7
nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Riêng bị cáo Lê Quang T phạm
tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự được quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Võ Thành D có nhân thân
xấu, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt.
[5] Đối với chị Nguyễn Thị Hồng N, khi mua xe mô tô hiệu Honda Wave
RSX màu đen đỏ, biển số 59G2-182.80 không biết đây là tài sản do Lê Quang T
trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý chị N về hành vi “Tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017.
Đối với anh Cao Minh M, khi mua và cầm cố các xe mô tô hiệu Honda
Wave màu xanh, biển số 60H6-5303 và xe mô tô hiệu Honda Airblade màu
vàng, đen, biển số 59C2-532.17, anh M không biết đây là tài sản do người khác
phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý anh M về hành vi “Tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về xử lý vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 66F1-183.50, do chị
Nguyễn Thị Hồng N mua lại của chị Mai Thị Cẩm H, chị H xác nhận có bán xe
mô tô trên cho chị N. Ngày 19/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố Thủ Đức ra Quyết định xử lý tài sản trả lại xe mô tô trên cho chị
Nguyễn Thị Hồng N.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 6B3-489.61. Kết luận
giám định số 49/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công
an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: số khung, số máy mài mất số, không xác
định được số nguyên thủy, Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 60H6-5303, số khung:
FT110-000000218, số máy: HD1P53FMH-00005018; 01 xe mô tô hiệu Honda
Airblade màu vàng, đen, biển số 59C2-532.17, số khung:
RLHJF2706BY372239, số máy: JF27E-1220049, Hội đồng xét xử xét thấy cần
phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng một thời gian, nếu không có
chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn
Văn T2 yêu cầu Lê Quang T bồi thường giá trị hai chiếc xe mô tô bị Lê Quang T
chiếm đoạt theo Kết luận định giá tài sản.
Kết luận định giá tài sản số 353-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 30/9/2023
của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Uỷ ban nhân dân thành phố Thủ
8
Đức kết luận: Xe mô tô Honda Wave RSX màu đen, đỏ biển số 59G2-182.80 trị
giá 5.833.000 đồng và xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xanh, biển số
47D1-178.52 trị giá 13.833.000 đồng.
Xét yêu cầu bồi thường của bị hại là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp
nhận buộc bị cáo Lê Quang T bồi thường số tiền 13.833.000 đồng cho chị
Nguyễn Thị P và bồi thường số tiền 5.833.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T2.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
+ Bị cáo Lê Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Bị cáo Võ Thành D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có”.
2. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Quang T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
23/9/2022.
3. Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Thành D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
23/9/2022.
4. Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017; Các Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Quang T có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị P số
tiền 13.833.000 (mười ba triệu tám trăm ba mươi ba ngàn) đồng; bồi thường cho
anh Nguyễn Văn T2 số tiền 5.833.000 (năm triệu tám trăm ba mươi ba ngàn)
đồng; tổng cộng số tiền là 19.666.000 (mười chín triệu sáu trăm sáu mươi sáu
ngàn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Giao cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh, cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn
06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với: 01 xe mô tô
hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 60H6-5303, số khung: FT110-000000218,
số máy: HD1P53FMH-00005018 và 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu
9
vàng, đen, biển số 59C2-532.17, số khung: RLHJF2706BY372239, số máy:
JF27E-1220049. Hết thời hạn nêu trên, nếu không xác định được chủ sở hữu
hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu
đỏ, biển số 6B3-489.61, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy;
(Theo Phiếu nhập kho số NK23/163C ngày 11/4/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
6. Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án:
Bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự
sơ thẩm và 983.300 (chín trăm tám mươi ba ngàn ba trăm) đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
Bị cáo Võ Thành D phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
7. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo
Lê Quang T, Võ Thành D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên
tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành
án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a,
Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XT X SƠ THẨM
- TAND TP.HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp TP.HCM;
- VKSND TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND Tp. Thủ Đức;
- Cơ quan CSĐT Công an Tp. Thủ Đức; (đã ký)
- Nhà tạm giữ Công an Tp. Thủ Đức;
- Cơ quan THA.HS Công an Tp. Thủ Đức;
- Chi cục THA.DS Tp. Thủ Đức;
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu: Hồ sơ, VT. Trần Quốc Lưu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng