Bản án số 18/2020/HSPT ngày 20/01/2020 của TAND tỉnh Đắk Lắk về cố ý gây thương tích
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2020/HSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2020/HSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2020/HSPT ngày 20/01/2020 của TAND tỉnh Đắk Lắk về cố ý gây thương tích |
|---|---|
| Tội danh: | 104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 18/2020/HSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/01/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 18/2020/HSPT
Ngày: 20-01-2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Thẩm phán: Ông Văn Công Dần
Ông Hoàng Kim Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn
Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên;
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 418/2019/HSPT ngày 16 tháng 12 năm
2019 đối với bị cáo Vũ Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ
thẩm số 29/2019/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư
Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo: Vũ Văn H, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú:
thôn 01, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa:
8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông:
Vũ Văn D và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Trần Văn B, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 02, xã H,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NÔI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 24/8/2018, tại nhà ông Trương Văn T1 ở thôn 03, xã B,
huyện C, tỉnh Đắk Lắk tổ chức uống rượu và có mời vợ chồng ông Thòng A P và bà
Hồ Thị Bích T2, vợ chồng ông Trần Văn B và bà Hoàng Thị H1, Nguyễn Văn T3, Lục
Văn C, Mã Văn X, Trương Quang T4, Trương Quang B, Hoàng Minh Đ.
Một lúc sau bà T2 xin phép mọi người uống hết 01 ly rượu nữa thì gia đình bà
cùng gia đình ông B đi về trước. Khi bà T2 uống xong ly rượu thì T3 nói “Uống hết
rượu trong ly rồi nuốt luôn cái ly” nên giữa bà T2và T3 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô
sát, sau đó gia đình ông B và ông P đi về. T3 gọi điện thoại cho bạn là Hà Văn T5 và
2
nói T3 bị đánh vào đưa T3 đi bệnh viện, rồi T3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát
47T1-199.34 đuổi theo nhóm ông B.
Khi T5 đang điều khiển xe máy đến chỗ T2 thì gặp Nguyễn Tiến H2, Vũ Văn H
và Đoàn Văn N nên T5 rủ đi cùng thì những người này đồng ý.
Khi nhóm ông B đi đến khu vực ngã ba gần quán tạp hóa của bà Nông Thị Đ
thuộc thôn 03, xã B, huyện C thì thấy T3 chạy ra đứng giữa đường, hai tay cầm 02 chai
thủy tinh đập bể phần đáy tạo thành vật sắc nhọn, tay phải cầm chai thủy tinh giơ lên
hướng phần đã bị bể về phía mặt ông B và nói “Tụi mày không về được đâu, tụi mày
phải chết” không cho nhóm của ông B đi qua và dùng hai chai thủy tinh đang cầm trên
tay xông về hướng ông B, ông B nhặt 01 cây gậy gỗ muồng ở bên đường dí vào ngực
T3 để cản lại nhưng T3 vẫn tiếp tục lao vào đánh ông B, dùng chân đá trúng vào cháu
Trần Hoàng Khánh Đ2 (con ông B). Sợ gây nguy hiểm cho vợ, con nên ông B dùng tay
phải cầm gậy muồng đánh vào chai thủy tinh của T3 khiến chai thủy tinh bị vỡ thêm
một phần, mảnh vỡ văng trúng vào người của T3, T3 vẫn tiếp tục xông vào thì ông B
dùng gậy đánh trúng vào tay trái đang cầm chai thủy tinh của T3 làm gậy muồng bị
gãy thành 02 khúc nên ông B lùi lại và vứt gậy xuống lề đường. Thấy vậy, ông P đi lại
can ngăn nhưng T3 vẫn tiếp tục cầm 02 chai thủy tinh đã vỡ đánh ông B nên ông P
nhặt một cây gậy gỗ cà phê ở bên đường đánh một phát từ trên xuống hướng vào tay
cầm chai thủy tinh của T3 nhưng do T3 đang xông lên đâm ông B nên gậy đã trúng vào
đầu của T3.
Lúc này, N điều khiển xe máy chở H chạy đến vị trí đang đánh nhau, N dừng xe
lại thì H xông vào đánh ông P và ông B nên ông P và ông B bỏ chạy. Ông P được bà
H1 dùng xe máy chở đi khỏi khu vực đánh nhau còn ông B chạy vào trong quán tạp
hóa của bà Nông Thị Đ thì bị H và T3 mỗi người cầm một cây gậy tre khô đuổi theo và
đánh liên tiếp vào người ông B làm ông B ngã xuống nền nhà. Thấy vậy, T3 ôm đánh
ông B bằng tay ở dưới nền nhà, giật đứt sợi dây chuyền của ông B đang đeo ở cổ và
cầm cái nanh heo bọc bạc trên sợi dây chuyền đâm trúng vào ngực ông B 02 cái, còn H
dùng gậy tre đánh trúng vào mũ bảo hiểm đang đội trên đầu của ông B đồng thời dùng
chân đá trúng vào vùng hông bên phải của ông B 01 cái. Sau đó, H đưa T3 đi điều trị
thương tích tại Bệnh viện còn ông B được ông T4 đến đưa đi điều trị thương tích.
Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1079/PY-TgT ngày 19/9/2018 của Trung
tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận Trần Văn B bị “Đa thương, gãy xương chính mũi và
gãy 01 xương sườn, tổng tỉ lệ thương tích là 13% tạm thời 06 tháng. Vật tác động:
Cứng, tày”.
Tại Bản kết luận pháp y bổ sung số 1175/PY-TgT ngày 12/10/2018 của Trung
tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận Trần Văn B bị: “Gãy xương chính mũi 09%; gãy 01
xương sườn 04%; tổng tỉ lệ thương tích là 13%, tạm thời 12 tháng. Vật tác động: Cứng,
tày”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2019/HSST ngày 06/11/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Cư Kuin quyết định:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2019.
3
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/11/2019, bị cáo Vũ Văn H kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội đã thực hiện như nội dung vụ án tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất,
mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân
dân huyện Cư Kuin xét xử bị cáo Vũ Văn H về tội “ Cố ý gây thương tích” theo
khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo
là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Cấp sơ
thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại
phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự nào mới. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu
khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 15 giờ 40
phút ngày 24/8/2018, tại khu vực ngã ba thuộc thôn 03, xã B, huyện C, bị cáo Vũ
Văn H đã vô cớ dùng gậy và chân cùng Nguyễn Văn T3 đánh gây thương tích 13%
cho ông Trần Văn B. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây
thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt
đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi
Lẽ, bị cáo phạm tội với hai tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy
hiểm và có tính chất côn đồ. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công
tác điều tra và bị bắt theo quyết định truy nã thể hiện sự coi thường pháp luật. Cấp sơ
thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách hình sự cho bị cáo khi quyết định
hình phạt. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm
nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên
mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
4
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị
cáo Vũ Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn H, giữ nguyên Bản án hình sự
sơ thẩm số 29/2019/HSST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin,
tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
[2] Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây
thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam
ngày 15/8/2019.
[3] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc
thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDTC; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TANDCC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Cư Kuin;
- VKSND huyện Cư Kuin; Nguyễn Thị Hằng
- Công an huyện Cư Kuin;
- Chi cục THADS huyện C;
- Những người TGTT;
- Bị cáo;
- Cổng thông tin điện tử tòa án;
- Lưu hồ sơ.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng