Bản án số 18/2020/HNGĐ-ST ngày 22/06/2020 của TAND huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh về ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2020/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2020/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2020/HNGĐ-ST ngày 22/06/2020 của TAND huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh về ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Cầu Kè (TAND tỉnh Trà Vinh) |
| Số hiệu: | 18/2020/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | cho ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST
Ngày:
22-6-2020
V/v ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đinh Thị Tình;
Ông Trần Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham
gia phiên tòa: Ông Thạch Săm Át - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/202019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12
năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-
HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1956 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Hòa A, xã An Phú T, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1955 (vắng có đơn).
Địa chỉ: Ấp Hòa A, xã An Phú T, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 12 năm 2019 và trong quá trình xét
xử, nguyên đơn bà Trần Thị Đ trình bày: Bà và ông Hiếu chung sống với nhau
vào năm 1976 không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có 03 con chung
tên Võ Văn Dĩ, sinh năm 1978, Võ Thị Sen, sinh năm 1984 và Võ Thị Cúc, sinh
năm 1995 hiện nay đã trưởng thành.
Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc xin ly hôn là do tính tình không hợp
nhau, thường xuyên cự cải, vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc do ông
Hiếu đi uống rượu say về thường xuyên chửi bới thô tục, đập phá nhà cửa và
được địa phương nhiều lần nhắc nhở đồng thời làm tờ cam kết nhưng ông vẫn
2
không sửa đổi tính tình, hôn nhân trầm trọng không thể kéo dài. Cách đây hơn
05 năm bà đã nộp đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhưng do ông Hiếu cam kết
không đi uống rượu say về chửi bới thô tục, đập phá nhà cửa nên bà đã rút đơn
nhưng về nhà ông Hiếu vẫn không sửa đổi mặc dù bà có nhiều lần khuyên ngăn.
Nay bà không còn tình cảm với ông Hiếu. Bà và ông Hiếu đã cất nhà ở riêng nhà
ai người đó ở, không còn chung sống với nhau từ năm 2010 cho đến nay. Nay bà
yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Đ yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn H. Về con
chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản
chung: Bà Đèo không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Bà Đèo khai bà và ông
Hiếu không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Võ Văn H là bị đơn vắng mặt, có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng
mặt và có lời khai như sau: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Đèo về thời
gian chung sống, ông và bà Đèo chung sống với nhau vào năm 1976 mà không
đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có 03 con chung tên Võ Văn Dĩ, sinh
năm 1978, Võ Thị Sen, sinh năm 1984 và Võ Thị Cúc, sinh năm 1995 hiện nay
đã trưởng thành.
Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp
nhau, vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc do ông thường xuyên đi uống
rượu say về thì ông với bà Đèo có lời qua tiếng lại dẫn đến cự cải lớn tiếng, ông
có chửi bới thô tục, đập phá nhà cửa của bà Đèo và được địa phương nhiều lần
nhắc nhở và làm tờ cam kết nhưng ông vẫn không sửa đổi. Cách đây hơn 05
năm bà Đèo đã nộp đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhưng do ông cam kết không
đi uống rượu say về chửi bới thô tục, đập phá nhà cửa nên bà Đèo đã rút đơn
nhưng về nhà ông vẫn không sửa đổi mặc dù bà Đèo có nhiều lần khuyên ngăn.
Ông và bà Đèo đã cất nhà ở riêng nhà ai người đó ở, không còn chung sống với
nhau từ năm 2010 cho đến nay.
Nay bà Đèo yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý mà xin đoàn tụ lại để
nuôi dạy con. Nếu phải ly hôn thì về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung: Ông Hiếu không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Về nợ chung: Ông Hiếu khai ông và bà Đèo không có nợ ai nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng
thì nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28; 35;
147; 273 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2
Điều 53 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nghị quyết
3
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Đ. Cho bà Trần Thị
Đ được ly hôn với ông Võ Văn H.
Về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản: Bà Đèo và ông Hiếu không yêu cầu nên không xem xét
giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
Về án phí: Bà Đèo là người cao tuổi nên được miễn án phí hôn nhân sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào
các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn
khởi kiện của bà Trần Thị Đ. Lời trình bày của các đương sự và các tài liệu có
trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Ly hôn” theo
quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn trong vụ án là ông Võ Văn H có hộ khẩu thường trú tại huyện Cầu
Kè, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại các Điều 35; 36 và Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Văn H là bị đơn trong vụ án vắng mặt
nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 của
Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ Văn H.
[3] Về hôn nhân: Xét thấy, cả bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H đều khai
nhận ông và bà chung sống vào năm 1976 nhưng không đăng ký kết hôn. Tuy
nhiên, theo quy định pháp luật thì hôn nhân của bà Đèo và ông Hiếu được xác
lập trước ngày 03/01/1987 nên được công nhận là hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc yêu cầu ly hôn là do bất đồng quan
điểm sống, thường hay cự cải, ông Hiếu thường xuyên đi uống rượu say về chửi
bới thô tục, đập phá nhà cửa, bà Đèo và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc
nhở nhưng ông Hiếu vẫn không sửa đổi tính tình. Bà Đèo và ông Hiếu đã mạnh
ai người đó sống không quan tâm lẫn nhau từ năm 2010 cho đến nay.
Tại phiên tòa hôm nay bà Đèo yêu cầu ly hôn với ông Hiếu nhưng ông
Hiếu không thống nhất ly hôn mà yêu cầu đoàn tụ. Vấn đề này thấy rằng việc
ông Hiếu yêu cầu được đoàn tụ là không có căn cứ. Bởi lẻ, sau khi thụ lý vụ án,
Tòa án đã nhiều lần hòa giải động viên bà Đèo và ông Hiếu tạo điều kiện cho
nhau để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Mặc khác, ông Hiếu cũng
4
thừa nhận là vợ chồng có bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, thường
hay cự cải, do ông Hiếu thường xuyên đi uống rượu say về chửi bới thô tục, đập
phá nhà cửa, bà Đèo và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở nhưng ông
Hiếu vẫn không sửa đổi. Từ khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án ông Hiếu
cũng không có đến gặp bà Đèo để trao đổi xin được đoàn tụ cho thấy ông Hiếu
không có thiện chí đoàn tụ. Đồng thời ông Hiếu cũng không đưa ra được giải
pháp để đoàn tụ. Từ đó, xét thấy mâu thuẫn giữa bà Đèo và ông Hiếu đã lâm vào
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được cho nên bà Đèo yêu cầu ly hôn với ông Hiếu là có cơ sở chấp
nhận.
[4] Về con chung: Bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H đều khai các con
chung là Võ Văn Dĩ, Võ Thị Sen và Võ Thị Cúc đã trưởng thành nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[5] Về tài sản: Bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H không yêu cầu nên Tòa
án không xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H khai không có nên Tòa
án không xem xét.
[7] Về án phí: Bà Trần Thị Đ là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn
nộp tiền án phí nên được miễn án phí hôn nhân sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của vị
đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 36; 39; 147; 271; 228 và khoản 1 Điều 273
của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ. Cho bà
Trần Thị Đ được ly hôn với ông Võ Văn H.
Về con chung: Bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H đều khai các con chung
là Võ Văn Dĩ, Võ Thị Sen và Võ Thị Cúc đã trưởng thành nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản: Bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H không yêu cầu nên không
xem xét.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Đ và ông Võ Văn H khai không có nên không
xem xét.
Về án phí: Bà Trần Thị Đ là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp
tiền án phí nên bà Đèo được miễn án phí hôn nhân sơ thẩm.
5
Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Võ Văn H vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Cầu Kè;
- TAND tỉnh Trà Vinh;
- CCTHADS huyện Cầu Kè;
- Đương sự;
- UBND xã An Phú T;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Thị Tuyển
6
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Đinh Thị Tình Trần Quốc Tuấn
CHỦ TỌA
Mai Thị Tuyển
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng