Bản án số 178/2023/HS-ST ngày 12/12/2023 của TAND TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai về tội trộm cắp tài sản (trộm điện thoại)

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 178/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 178/2023/HS-ST ngày 12/12/2023 của TAND TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai về tội trộm cắp tài sản (trộm điện thoại)
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Long Khánh (TAND tỉnh Đồng Nai)
Số hiệu: 178/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/12/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
TỈNH ĐỒNG NAI
______________
Bản án số: 178/2023/HS-ST
Ngày: 12/12/2023
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH-TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Thanh Tâm
Ông Đinh Văn Thông
Thư Tòa án ghi biên bản phiên a: Nguyễn Phi Hải, Cán bộ Tòa án nhân
dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Long Khánh,
tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 161/2023/HSST ngày
05/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/QĐXXST-HS ngày 07 tháng
11 năm 2023 Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/HSST- ngày 28/11/2023
đối với bị cáo:
Trần Thanh L (tên gọi khác: Đ); sinh năm 1984 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: tổ 3,
khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh ĐN.Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 5/12; Nghnghiệp: Không;
con ông Trần Văn L, (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có
Tiền án:
Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị L (nay thành phố L) xử phạt 08 tháng
tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 31/2017/HSST ngày 19/01/2017.
Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thịL (nay là thành phố L) xử phạt 01 năm 06
tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 16/2017/HSST ngày 25/12/2017.
Năm 2020, bị Tòa án nhân dân thị xã L (nay là thành phố L) xử phạt 02 năm 06
tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 79/2020/HSST ngày 25/8/2020.
Tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Năm 2003, bị Chủ tịch y ban nhân dân tỉnh ĐN áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở giáo dục P.
- 2 -
Năm 2008, bị Tòa án nhân dân thị L (nay thành phố L) xử phạt 08 tháng
về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 131/2008/HSST ngày 24/11/2008. Chấp
hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2009.
Năm 2009, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp xử hành
chính đưa vào cơ sở giáo dục Huy Khiêm, chấp hành xong ngày 25/5/2011.
Năm 2011, bị Chủ tịch y ban nhân dân tỉnh ĐN áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở giáo dục P, chấp hành xong ngày 17/11/2013.
Tạm giam: từ ngày 20/6/2023 cho đến nay.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo L: Trần Thị L, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số
946, tổ 3, khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh ĐN.
- Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1976. Địa chỉ:
Số 17/8D, khu phố 1, phường T H, thành phB, tỉnh ĐN (Luật thuộc Công ty Luật
TNHH Hi-Law)
- Bị hại:
1/ Anh Lại Đức M, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp Sa Cá, BA, huyện L, tỉnh
ĐN.
2/ Anh Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu ph4, phường X, thành
phố L, tỉnh ĐN.
(Bị cáo, luật bào chữa cho bị cáo mặt, người đại diện hợp pháp, người bị
hại vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Trần Thanh L đối tượng đã nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa
được xóa án tích lại tiếp tục hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể như
sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 ngày 20/02/2023, L đi xe đạp từ nhà thuộc tổ 3, khu phố
C, phường S, thành phố L, tỉnh ĐN đến các nhà trọ tại khu phố S để tìm xem ai
hở trong việc quản tài sản thì trộm cắp mang bán ly tiền tiêu xài nhân. Đến
khoảng 00 giờ 45 cùng ngày, L đi ngang qua nhà trọ Phương Thảo, sau khi quan t
thấy mọi người đã ngủ say, L dựng xe đạp bên lề đường rồi đi bộ vào bên trong dãy
phòng trọ. Khi đi đến phòng số 10 của ông Lại Đức M thì thấy cửa phòng chỉ khép hờ,
ông M đang nằm ngủ trên võng trong phòng để 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Oppo 254 màu xám đang cắm sạc pin ở gần cửa phòng. L đẩy cửa bước vào phòng lấy
trộm điện thoại thì bị ông M phát hiện n L cầm điện thoại bỏ chạy ra phía sau nhà
trọ. Thấy ông M đuổi theo, L ném điện thoại vào bụi y sả rồi chạy vòng ra phía
trước lấy xe đạp tẩu thoát. Ông M đuổi không kịp L cũng không biết việc L m
điện thoại vào bụi y sả nên lấy xe máy chạy đi tìm L để đòi lại điện thoại nhưng
không gặp L.
Sau khi thực hiện vụ trộm thứ nhất L tiếp tục điều khiển xe đạp đến nhà trọ Nam
Hiền thuộc khu phố S để tìm tài sản trộm cắp. Tại đây, L dựng xe đạp bên lề đường rồi
đi bộ vào y phòng trọ thấy phòng số 11 của ông Nguyễn Ngọc Th, lúc này cửa
- 3 -
phòng đang mở hé. L quan sát bên trong phòng thì thấy ông Th đang nằm ngủ ới
nền nhà và để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy4 màu đen trong rổ nhựa gần
đó. L đẩy cửa ớc vào phòng lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra đường
lấy xe đạp chạy về nhà. Trên đường về, L bị ông M phát hiện nên đã chặn xe của L lại.
Ông M kiểm tra trên người L thấy 02 điện thoại nhưng không điện thoại của
mình nên yêu cầu L cho số điện thoại rồi để L đi về. Đến khoảng 03 giờ 30 cùng ngày,
ông M gọi điện thoại yêu cầu L trả lại điện thoại cho ông M, nếu không sẽ o Công
an để xử lý. Lúc y, L sợ bị công an bắt nên đã nói cho ông M biết L đã ném điện
thoại của ông M vào bụi y sả phía sau y phòng trọ. Tiếp đó, ông M hỏi L còn lấy
trộm điện thoại của ai nữa không thì trả cho người ta. L thừa nhận còn lấy trộm 01
điện thoại tại phòng số 11 nhà trọ Nam Hiền. Được L chỉ chỗ nên ông M đã tìm lại
được điện thoại trong bụi y sả. Lát sau, L cầm điện thoại mới lấy trộm được tại nhà
trọ Nam Hiền đến nhờ ông M mang trả lại cho chủ sở hữu. Khoảng 05 giờ 00 ngày
20/02/2023, ông M đã mang điện thoại đến trả lại cho ông Th. Sau đó, ông Th đã trình
báo sự việc bị mất trộm điện thoại cho Công an phường S. Đến 09 giờ 50 cùng ngày, L
được Công an phường S mời làm việc và đã khai nhận hành vi lấy trộm điện thoại như
trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/HĐĐGTSTTTHS ngày 28 tháng 02 m
2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận:
Một (01) điện thoại di động hiệu Vsmart Joy4, màu đen, điện thoại đã qua sử
dụng, (thời điểm ngày 20/02/2023) là 1.100.000 đồng.
Một (01) điện thoại đi động hiệu Oppo 254, màu m, điện thoại đã qua sử
dụng, (thời điểm 20/02/2023) là 3.000.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 372/KL-VPYTW ngày
25/5/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương B Bộ y tế, kết luận giám định pháp
y tâm thần đối với Trần Thanh L như sau:
- Về y học: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ án hiện nay: Đương sự bị bệnh
Rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn / Động kinh (F07.8 / G40 ICD. 10).
- Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:
Tại thời điểm xảy ra vụ án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thực điểu
khiển hành vi.
Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản
Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giữ
nguyên cáo trạng truy tbị cáo về tội danh điều luật như ni dung bn cáo trng s
152/CT-VKS-HS ngày 03/10/2023 và đề ngh Hi đng xét x:
Áp dụng điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 38, Điều
173 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Luật bào chữa cho bị cáo tranh luận: thống nhất với tội danh điều luật áp
dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó
- 4 -
khăn, bệnh về nhận thức điều khiển hành vi để giảm nhẹ một phần hình phạt
cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên toà trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến
của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên toà, các bị cáo những người
tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định
của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội của mình
phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có
trong hồ vụ án, xác định được: do không nghề nghiệp muốn tiền tiêu xài,
bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác vào ngày
20/02/2023, cụ thể, lấy một điện thoại di động hiệu Vsmart Joy4, màu đen, của anh
Nguyễn Ngọc Th trị g1.100.000 đồng một điện thoại đi động hiệu Oppo 254,
màu xám của ông Lại Đức M trị giá 3.000.000 đồng. Tổng giá trị bị cáo L trộm cắp
trong vụ án này 4.100.000 đồng. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần
Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về khung hình phạt: bị cáo đã 03 lần bị kết án, chưa được xóa án tích nên
lần phạm tội này đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm”
quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung m
2017)
[4] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở
hữu tài sản hợp pháp của công n được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo bị xử phạt
hành chính cũng như xử hình sự nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản của người
khác nhưng không thay đổi liên tục tái phạm. Do đó, cần mức án thật nghiêm
khắc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt thời hạn đủ để răn đe giáo dục bị cáo
phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng
phạm tội nhiều lần tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 20/02/2023, Trần
Thanh L bị hạn chế khả năng nhận thức điểu khiển hành vi; Sau khi thực hiện hành
vi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình công với cách mạng
các tình tiết được quy định tại điểm q, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo không nghề nghiệp n định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình
phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm n sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu
thêm, nên không xem xét.
- 5 -
[6] Về biện pháp tư pháp:
Tài sản 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy4, màu đen 01 điện thoại
đi động hiệu Oppo 254, màu xám đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu anh
Nguyễn Ngọc Th ông Lại Đức M. Anh Th ông M không yêu cầu nên
không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét
xử nên chấp nhận.
Ý kiến ca luật bào chữa cho b cáo: phù hp vi nhận định của Hội đồng
xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 53 Bộ luật nh sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh L phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tính từ ngày
20/6/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng)
án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người đại diện hợp pháp,
người bị hại vắng mặt được 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
[[[
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND TP. Long Khánh;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- Chi cục Thi hành án dân sự TP. Long Khánh;
- Nhà tạm giữ CATPLK;
- Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu HS, THS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Vân Khánh
- 6 -
Tải về
Bản án số 178/2023/HS-ST Bản án số 178/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất