Bản án số 175/KTPT ngày 12/07/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án số 175/KTPT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • Bản án số 175/KTPT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 175/KTPT

Tên Bản án: Bản án số 175/KTPT ngày 12/07/2024 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 175/KTPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/07/2024
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Mai Thị Thanh Tú
Các Thẩm phán:
1/ Phùng Thị Như Mai.
2/ Bà Ngô Thị Phúc Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Oanh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên
tòa: Ông Trần Hồng Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai v án về kinh doanh
thương mại thụ số 36/KDTM-PT ngày 23/01/2024 về việc: Tranh chấp hợp
đồng hợp tác kinh doanh
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 181/2023/KDTM-ST ngày
08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số 3148/PT-KDTM
ngày 11/6/2024 quyết định tạm ngừng phiên tòa ngày 03/7/2024, giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: ng ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS - HN
Địa chỉ: 8B-8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật:Trần Thị Bé T, sinh năm 1987;
Địa chỉ: 247 Khóm 4, phường V, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long.
Có mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Bá B sinh năm 1958 - Luật sư của Văn phòng Luật
Nguyễn B, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
Bị đơn: Công ty TNHH Khách sạn X New
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 175/2024/KDTM-PT
Ngày: 12- 7- 2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
Hợp tác kinh doanh”
CỘNG HÒA HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hạnh phúc
2
Địa chỉ: 8B-8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Hương G; sinh năm 1975;
Địa chỉ: 8B-8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Mai Thanh H, sinh năm 1973; (có đơn xin vắng mặt)
trú: 478E Đ, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: 409 T, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/. Bà Vũ Thị Hương G, sinh năm 1975;mặt
Địa chỉ: 8B-8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/. Bà Trần Thị Bé T, sinh năm 1987; có mặt
Địa chỉ: 247 Khóm 4, phường V, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long.
Do kháng o của: Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS- HN
Công ty TNHH Khách sạn X New.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 17/03/2021, Bản khai ngày 05/6/2021 lời
khai trong quá trình ttụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp
của nguyên đơn Công ty TNHH Thương mi Dịch vụ KH HN trình bày:
Ngày 10/9/2019, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KH HN (Sau đây
gọi là Công ty HN) Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sử dụng mặt bằng để kinh
doanh khách sạn, nhà hàng, quán bar) Công ty TNHH Khách sạn X New (Sau
đây gọi Công ty X) mục đích để thuê mặt bằng kinh doanh khách sạn, nhà
hàng, quán bar tại địa chỉ 8B 8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí
Minh, nội dung chính của hợp đồng cụ thể như sau:
Thời hạn hợp đồng: 13 năm (Tính t ngày 01/11/2019 đến hết ngày
01/11/2032);
Tiền đặt cọc thuê mặt bằng: 450.000USD tương đương 10.350.000.000 đồng;
hợp đồng thỏa thuận tiền đặt cọc USD quy đổi ra Việt Nam đồng tại thời
điểm thanh toán. Nguyên đơn đã chuyển tiền cọc cho bị đơn 10.417.500.000
đồng tương đương với 450.000 USD, chuyển khoản tiền cọc từ Sacombank sang
Vietcombank cụ thể: Ngày 11/9/2019 chuyển 1.000.000.000 đồng, ngày
30/9/2019 chuyển 600.000.000 đồng ngày 30/9/2019 chuyển 8.817.500.000
đồng.
Giá tiền thuê nhà hàng tháng: 50.000 USD tương đương 1.100.000.000
đồng, tiền thuê nhà hàng tháng được chuyển khoản hoặc đưa tiền mặt.
Sau khi Hợp đồng thuê mặt bằng được không bao lâu thì Thị
Hương G đã thông báo cho quan chức năng để xin tạm dừng hoạt động kinh
3
doanh của Công ty TNHH Khách sạn X New (Bà Thị Hương G là giám đốc
Công ty).
Sau khi nhận bàn giao mặt bằng khách sạn từ bà Vũ Thị Hương G vào ngày
20/10/2019, nguyên đơn kinh doanh cho đến tháng 2 năm 2020 thì dịch viêm
phổi Covid-19 tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của khách sạn, dẫn
đến kinh doanh trì trệ và thua lỗ, nên ngày 31/3/2020, nguyên đơn có thỏa thuận
với ông Mai Thanh H (Thành viên của Công ty bị đơn) thỏa thuận thu 20% tiền
thuê nhà cho đến khi thông báo của Chính Phủ về hết dịch bệnh được ông
Hải đồng ý cho nguyên đơn trả tiền thuê nhà từ tháng 4/2020 đến tháng 12/2020
10.000 USD/tháng tương đương với 20% giá trị tiền thuê ban đầu. Mặc dù,
nguyên đơn có nhận được tin nhắn của G chỉ đồng ý giảm 50% tiền thuê nhà,
nhưng cho đến tháng 12/2020 nguyên đơn vẫn thanh toán tiền thuê nhà
229.300.000 đồng tương đương 10.000 USD, nhưng phía bị đơn không ý
kiến gì, ông Hải thành viên của Công ty X nên ý kiến của ông Hải cũng ý
kiến của Công ty X.
Tháng 01/2021, T G cùng ngồi lại thỏa thuận xin trả lại mặt bằng
được nhận lại tiền cọc, nhưng bị đơn không đồng ý. Ngày 20/02/2021, T
gửi đến cho bà G Uỷ ban nhân dân phường Bến Nghé, Quận 1 Thông báo
lần 01 yêu cầu xin được chấm dứt hợp đồng thuê mặt bằng kinh doanh khách
sạn trước thời hạn. Đến ngày 08/3/2021, T gửi Thông báo lần 02 đến bà
Thị Hương G nội dung như giấy thông báo lần 01. Sau đó T G
gặp nhau hai lần để thỏa thuận, nhưng phía G không đồng ý hoàn trả lại tiền
đặt cọc 450.000 USD cho nguyên đơn, mặc nguyên đơn chỉ yêu cầu nhận lại
90% giá trị số tiền đặt cọc.
Ngày 31/5/2021, hai bên đã tiến hành bàn giao lại tài sản thuê khách sạn tại
địa chỉ 8B-8C T, phường N, Quận M, nguyên đơn xác định từ tháng 01 đến
tháng 5/2021, nguyên đơn chưa trả tiền thuê nhà cho bị đơn. Nguyên đơn đồng ý
cấn trừ tiền thuê nhà vào tiền cọc mà bị đơn chưa trả cho nguyên đơn theo tương
ứng với 5 tháng thuê nhà tương đương với 50.000USD (01 tháng 10.000 USD).
Do một số yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được bị đơn giải quyết
trong quá trình khởi kiện nên nguyên đơn xin t một phần yêu cầu khởi kiện
sau: Yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Sử dụng mặt bằng để
kinh doanh khách sạn, nhà hàng, quán bar) ký ngày 10/9/2019 trước thời hạn;
yêu cầu bị đơn nhận bàn giao lại mặt bằng kinh doanh khách sạn địa chỉ 8B
8C T, phường N, Quận M, TP.Hồ Chí Minh và yêu cầu nguyên đơn được chấm
dứt trả tiền thuê mặt bằng từ tháng 02/2021.
Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn Công ty X trả lại 90% số
tiền đặt cọc thuê mặt bằng là 9.315.000.000 đồng
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý, đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận.
4
- Tại đơn phản tố ngày 12/5/2023, bản khai ngày 28/5/2021, lời khai trong
quá trình tố tụng tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty
TNHH Khách sạn X New trình bày:
Thửa đất tại địa chỉ 8B 8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí
Minh đứng tên sở hữu của ông Bùi Thọ M, ông M cho G thuê đất và Công ty
X bỏ tiền đầu y dựng công trình khách sạn. do sức khỏe tài chính,
Công ty X hợp tác với Công ty HN để cùng kinh doanh dịch vụ khách sạn.
Ngày 10/9/2019, Công ty HN Công ty X kết Hợp đồng hợp tác kinh
doanh về việc sử dụng mặt bằng để kinh doanh khách sạn, nhà hàng, quán bar
với thời hạn 13 năm, tính từ ngày 01/11/2019 đến hết ngày 31/10/2032, theo đó:
Công ty X đồng ý góp vốn bằng quyền sử dụng khách sạn X New tại địa
chỉ 8B 8C T, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh tài sản Tòa
nhà khách sạn do Công ty X đầu tư xây dựng với đầy đủ trang thiết bị lượng
khách hàng ổn định.
Công ty HN góp vốn bằng tiền mặt với số tiền ký quỹ tương đương
450.000 USD phí sử dụng mặt bằng hàng tháng để đầu khai thác kinh
doanh khách sạn trên. Bị đơn xác nhận tiền đặt cọc và tiền thuê nhà như nguyên
đơn trình bày là đúng. Tiền cọc mà bị đơn đã nhận là 450.000USD được quy đổi
bằng tiền Việt Nam và thanh toán theo hình thức chuyển khoản ttài khoản
Trần Thị Bé T tại Sacombank vào tài khoản của bà Vũ Thị Hương G tại
Vietcombank.
Trước tháng 03/2020, tiền phí sử dụng mặt bằng hàng tháng là 50.000 USD
x 23.000VNĐ/1 USD = 1.150.000.000 VNĐ. Tuy nhiên, từ ngày 01/4/2020 đến
31/5/2021, Công ty HN không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán phí sử dụng
mặt bằng hàng tháng cho Công ty X, nguyên đơn tự ý giảm psử dụng mặt
bằng còn 10.000 USD cho rằng thỏa thuận với thành viên của Công ty
ông Mai Thanh H, việc ông Mai Thanh H đứng văn bản đồng ý giảm tiền
thuê còn 10.000USD không đúng thẩm quyền, G với cách là người đại
diện theo pháp luật không đồng ý với mức giảm trên chỉ đồng ý giảm 50%,
sở bị đơn vẫn nhận 20% tiền psử dụng mặt bằng đang dịch bệnh không
biết sống chết như thế nào nghĩ Công ty HN vẫn tiếp tục kinh doanh chứ
không tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng nên đưa bao nhiêu thì nhận bấy
nhiêu vì khó khăn do dịch bệnh, sau này kinh doanh được sẽ tính toán lại,
thực tế hai bên không biên bản thỏa thuận về việc giảm tiền phí sử dụng mặt
bằng này.
Việc Công ty HN đơn phương chấm dứt hợp đồng, không thanh toán phí sử
dụng mặt bằng và đóng cửa khách sạn dẫn đến Công ty không có tài sản để kinh
doanh, không tiền để trả lãi ngân hàng không tiền để trả tiền thuê đất
hàng tháng cho chủ sở hữu đất. Vì vậy, trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
bị đơn không đồng ý và xác định hợp đồng giữa hai bên không phải là hợp đồng
thuê nhà mà là hợp tác kinh doanh, do đó bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn:
5
Thanh toán tiền phí sử dụng mặt bằng còn thiếu năm 2020, từ ngày
01/4/2020 đến 31/12/2020 tương đương 4.830.000.000 đồng.
Thanh toán 05 tháng phí sử dụng mặt bằng còn thiếu năm 2021, từ ngày
01/01/2021 đến 31/5/2021 tương đương 5.750.000.000 đồng.
- Tại Bản khai ngày 08/4/2022, ông Mai Thanh H người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông xác nhận Hợp đồng thỏa thuận đngày 31/3/2020 với Trần
Thị T. Tuy nhiên, mặc dù đã Hợp đồng thỏa thuận nvậy nhưng T
không thực hiện đúng thỏa thuận, không trả tiền phí sử dụng mặt bằng cho ông.
Từ việc không trả phí mặt bằng dẫn đến căn nhà 8B – 8C T, phường N, Quận M,
Thành phố Hồ Chí Minh đã bị chủ sở hữu thu hồi.
Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019
thì nếu bên B (Công ty HN) chậm thanh toán khoản phí sdụng mặt bằng thì
phải chịu phạt chậm nộp là 0,01%/ngày trên tổng số tiền thanh toán. Nếu bên B
không thanh toán quá 03 tháng thì xem nđơn phương chấm dứt hợp đồng
chịu bồi thường, mất tiền quỹ cũng như các chi phí đã đầu vào khách sạn.
Do vậy số tiền ký quỹ của Công ty HN cho Công ty X sẽ không được hoàn lại.
* Tại Bản án dân sthẩm s 181/2023/KDTM ngày 08/9/2023 của Tòa
án nhân dân Quận 1 đã tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Thương
mại Dịch vụ KS-KN yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sử dụng
mặt bằng để kinh doanh khách sạn, nhà hàng, quán bar) ký ngày 10/9/2019 trước
thời hạn; yêu cầu Công ty TNHH Khách sạn X New nhận bàn giao lại mặt bằng
kinh doanh khách sạn địa chỉ 8B 8C T, phường N, Quận M, TP.Hồ Chí Minh
Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS - HN được chấm dứt trả tiền thuê
mặt bằng từ tháng 02/2021.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Công ty TNHH Khách sạn X New trả lại cho Công ty TNHH Thương mại
Dịch vụ KS - HN 90% số tiền ký quỹ là 9.315.000.000 đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS - HN thanh toán cho Công ty TNHH
Khách sạn X New tiền phí phí sử dụng mặt bằng cố định từ tháng 4/2020 đến
tháng 12/2020 là 3.105.000.000 đồng và từ tháng 01/2021 đến tháng 02/2021
5.750.000.000 đồng. Tổng cộng 8.855.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.
Ngày 19/9/2023 Công ty HN kháng cáo 01 phần bản án sơ thẩm.
Ngày 23/9/2023 Công ty X kháng cáo 01 phần bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa Phúc thẩm:
6
Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu
cầu kháng cáo. Các bên đương skhông thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
* Nguyên đơn Công ty HN kháng cáo 01 phần bản án thẩm không đồng
ý với bản án sơ thẩm, không đồng ý trtiền thuê mặt bằng như án sơ thẩm tuyên
xử, chỉ đồng ý trả 01 tháng tiền thuê mặt bằng.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phân tích xác
định có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty HN.
* Bđơn Công ty X kháng cáo không đồng ý trả lại tiền cọc cho nguyên
đơn, nguyên đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng nên phải chịu mất cọc.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Mai Thanh H yêu cầu
vắng mặt khi xét xử.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị Hương G cùng ý
kiến yêu cầu như bị đơn Công ty X.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bé T có cùng ý kiến,
yêu cầu như nguyên đơn Công ty HN.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng,
những người tham gia tố tụng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như
sau: Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử các
đương sđã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân svề phiên
tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn nguyên đơn không sở, đề
nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty HN và Công ty X,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ, lời trình bày của phía nguyên đơn
bị đơn, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Cấp sơ thẩm thụ giải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định
cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án là đúng theo quy định của
Pháp luật tố tụng.
[2] Đơn kháng cáo của Công ty HN Công ty X còn trong thời hạn kháng
cáo, hình thức và nội dung đúng quy định nên được chấp nhận.
[3] Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ, lời trình bày của các bên đương sự
Hội đồng xét xử nhận thấy:
7
Căn cứ Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019 giữa Công ty TNHH
Thương mại Dịch vụ KS - HN (viết Công ty HN) với Công ty TNHH Khách
sạn X New (viết tắt Công ty X), theo đó Công ty X góp vốn bằng tài sản
quyền được sử dụng hợp pháp khách sạn X New tại địa chỉ 8B-8C T, phường T,
Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (Bao gồm 68 phòng khách sạn và hồ bơi cùng
với đầy đủ trang thiết bị hoạt động phụ lục kèm theo), Công ty HN góp vốn
bằng tiền mặt (Ký quỹ 450.000 USD tương đương 10.417.500.000 đồng) và được
toàn quyền quản lý, khai thác kinh doanh khách sạn, được hưởng toàn bộ lợi
nhuận thu được trả phí sử dụng mặt bằng hàng tháng cho Công ty X (05 năm
đầu 50.000 USD/tháng tương đương 1.150.000.000 đồng, 03 năm tiếp theo
55.000 USD, 03 năm tiếp theo 60.500 USD 02 năm tiếp theo 60.000 USD,
bắt đầu tính từ ngày 01/11/2019); thời hạn hợp tác là 13 năm.
Nguyên đơn Công ty HN khởi kiện yêu cầu Công ty X trả lại 90% số tiền ký
quỹ của Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019 9.315.000.000 đồng,
Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
lời khai thừa nhận của đương sự sở để xác định Công ty HN đã góp vốn
bằng tiền mặt quỹ 450.000 USD tương đương 10.417.500.000 đồng cho
Công ty X.
Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh về Ngoại hối số 28/2005/PL-
UBTVQH11, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số: 06/2013/UBTVQH13 ngày
18/3/2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về hạn chế sử dụng ngoại
hối trên lãnh thổ Việt Nam, thì nguyên đơn bị đơn không chức năng sử
dụng ngoại hối do vậy hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019 bị vô hiệu 01
phần đối với thỏa thuận thanh toán psử dụng mặt bằng hàng tháng và tiền
quỹ bằng tiền USD do vi phạm điều cấm của luật được quy định tại Điều 123 Bộ
luật Dân sự; các thỏa thuận khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật theo quy
định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu một phần.
Công ty HN và Công ty X đều xác nhận ngày 31/5/2021 Công ty HN đã tiến
hành giao trả mặt bằng cho Công ty X cùng toàn bộ trang thiết bị kinh doanh
khách sạn cho bị đơn.
Như trên đã nhận định thì hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019 bị
hiệu 01 phần đối với thỏa thuận thanh toán phí sử dụng mặt bằng hàng tháng
tiền quỹ bằng tiền USD do vi phạm điều cấm của luật nên căn cứ Điều 131
Bộ Luật dân sự thì giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập.
Do vậy, Công ty X trách nhiệm trả lại cho Công ty HN số tiền ký quỹ đã nhận.
Xét, Công ty HN chỉ yêu cầu Công ty X trả lại 90% số tiền ký quỹ của Hợp đồng
hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019 là 9.315.000.000 đồng tự nguyện nên chấp
nhận.
Xét, yêu cầu kháng cáo của Công ty X không đồng ý trả lại tiền cọc cho
Công ty HN do Công ty HN đơn phương chấm dứt hợp đồng nên phải chịu mất
cọc- HĐXX nhận thấy: Công ty X cho rằng do Công ty HN vi phạm điều khoản
thanh toán tiền phí sử dụng mặt bằng đơn phương chấm dứt hợp đồng trước
8
thời hạn nên phải mất cọc theo quy định tại Điều 7 của Hợp đồng hợp tác ngày
10/9/2019 nên Công ty HN phải chịu mất cọc. Như trên đã nhận định thì hợp
đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019 bị hiệu 01 phần đối với thỏa thuận
thanh toán phí sử dụng mặt bằng hàng tháng và tiền ký quỹ bằng tiền USD do vi
phạm điều cấm của luật nên căn cứ Điều 131 Bộ Luật dân sự thì giải quyết hậu
quả của giao dịch dân sự hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập. Do vậy, Công ty X có trách
nhiệm trả lại cho Công ty HN stiền quỹ đã nhận. Án thẩm xử chấp nhận
01 phần yêu cầu khởi kiện của Công ty HN căn cứ, đó đó kháng cáo của
Công ty X là không có cơ sở để chấp nhận.
* Đối với yêu cầu kháng cáo của Công ty HN không đồng ý với bản án
thẩm, không đồng trả tiền thuê mặt bằng như án thẩm tuyên xử, chỉ đồng ý
trả 01 tháng tiền thuê mặt bằng- HĐXX nhận thấy:
Công ty X phản tố yêu cầu Công ty HN thanh toán tiền phí sử dụng mặt
bằng còn thiếu 30%/tháng từ ngày 01/4/2020 đến 31/12/2020 tương đương
4.830.000.000 đồng 05 tháng phí sử dụng mặt bằng còn thiếu của năm 2021,
từ ngày 01/01/2021 đến 31/5/2021 tương đương 5.750.000.000 đồng nhận thấy,
tại phiên tòa các bên đều xác nhận từ tháng 04/2020 đến tháng 12/2020 Công ty
HN thanh toán tiền p sử dụng mặt bằng 20%/ tháng 10.000 USD/tháng
tương đương 231.000.000 đồng/tháng; từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2021
không thanh toán tiền phí sử dụng mặt bằng cho Công ty X.
Công ty HN cho rằng, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên ngày
31/3/2020 nhân ông Mai Thanh H (thành viên Công ty X) đã thỏa thuận với
Trần Thị Bé T giảm tiền phí sử dụng mặt bằng còn 20% là 10.000 USD/tháng
tương đương với 231.000.000 đồng/tháng nên hàng tháng nguyên đơn vẫn trả
khoản tiền phí sử dụng mặt bằng tương đương 20% được Công ty X chấp
nhận, tuy nhiên Công ty X không đồng ý với lời trình bày của Công ty HN
cho rằng chỉ đồng ý giảm tiền phí sử dụng mặt bằng 50%. Xét, việc ông Mai
Thanh H đồng ý giảm tiền phí sử dụng mặt bằng còn 20% 10.000 USD/tháng
nhưng không văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của Công ty
X là không có cơ sở để chấp nhận.
Theo quy định tại Điều 5 của hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 10/9/2019
thì:“Không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, bên B (Công ty HN) thanh toán
cho bên A (Công ty X) khoản phí sử dụng mặt bằng cố định hàng tháng ...”,
Như đã nhận định phần trên thì ngày 31/5/2021 Công ty HN đã giao trả
mặt bằng cho Công ty X cùng toàn bộ trang thiết bị kinh doanh khách sạn cho
Công ty X, do đó Công ty HN có nghĩa vụ trả tiền phí sử dụng mặt bằng còn thiếu
cho Công ty X. Như vậy, số tiền phí sử dụng mặt bằng Công ty HN phải
thanh toán cho Công ty X là:
Ttháng 4/2020 đến tháng 12/2020 (09 tháng): 30% tiền phí sử dụng mặt
bằng cố định hàng tháng còn thiếu là 1.150.000.000 đồng/tháng x 30% =
345.000.000 đồng x 09 tháng = 3.105.000.000 đồng.
9
Ttháng 01/2021 đến tháng 05/2021 (05 tháng): 100% tiền phí sử dụng
mặt bằng cố định hàng tháng 1.150.000.000 đồng/tháng x 05 tháng =
5.750.000.000 đồng.
Tổng số tiền phí sử dụng mặt bằng Công ty HN phải trả cho Công ty X
3.105.000.000 đồng + 5.750.000.000 đồng = 8.855.000.000 đồng.
Do vậy, Công ty HN phải trả số tiền phí sử dụng mặt bằng cho Công ty X
8.855.000.000 đồng. Án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty X
sở. Do đó, kháng cáo của Công ty HN không sđể HĐXX
chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, Công ty HN Công ty X cũng không xuất trình được
chứng cứ khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, do vậy không sở
để chấp nhận kháng cáo của Công ty HN và Công ty X.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Công ty X Công ty HN, đnghị này
của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
chấp nhận.
[6] Đối với các phần khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Tại phần Quyết định của bản án thẩm áp dụng tuyên xử theo Điều 468
BLDS chưa chính xác nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại theo Điều 306 Luật
Thương mại.
[7] V án phí phúc thm: Do yêu cu kháng cáo ca Công ty X và Công ty
HN không đưc chp nhn nên Công ty X và ng ty HN phi chu án phí
theo quy đnh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Khách sạn X
New và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS - HN.
Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 181/2023/KDTM-
ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh:
1/. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH
Thương mại Dịch vụ KS - HN yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác kinh doanh
(sử dụng mặt bằng để kinh doanh khách sạn, nhà hàng, quán bar) ngày
10
10/9/2019 trước thời hạn; yêu cầu Công ty TNHH Khách sạn X New nhận bàn
giao lại mặt bằng kinh doanh khách sạn địa chỉ 8B 8C T, phường N, Quận M,
TP.Hồ Chí Minh Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS - HN được chấm
dứt trả tiền thuê mặt bằng từ tháng 02/2021.
2/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty TNHH
Khách sạn X New trả lại cho Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ KS - HN
90% số tiền ký quỹ là 9.315.000.000 đồng.
3/. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Công ty TNHH Thương mại
Dịch vụ KS- HN thanh toán cho Công ty TNHH Khách sạn X New tiền phí phí
sử dụng mặt bằng cố định từ tháng 4/2020 đến tháng 12/2020 3.105.000.000
đồng từ tháng 01/2021 đến tháng 05/2021 5.750.000.000 đồng. Tổng cộng
8.855.000.000 đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 Luật
thương mại 2005.
2. Án phí kinh doanh thương mi sơ thm:
Công ty TNHH TM DV KS - HN phải chịu án phí 116.855.000 đồng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp 58.657.500 đồng theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0030620 ngày 02/4/2021
3.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2019/0030619 ngày 02/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH TM DV KS -HN còn phải nộp
55.197.500 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Công ty TNHH Khách sạn X New phải chịu án phí là 117.315.000 đồng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp 59.290.000 đồng theo biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0043541 ngày 17/5/2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH
Khách sạn X New n phải nộp 58.025.000 đồng án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm.
3. Án phí kinh doanh thương mi phúc thẩm:
Công ty TNHH TM DV KS - HN phải chịu án phí số tiền 2.000.000 (hai
triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044674 ngày 12/10/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty TNHH khách sạn X New phải chịu án phí số tiền 2.000.000 (hai
triệu) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044617 ngày 09/10/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
11
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Q.1;
- Chi cục THADS Q.1;
- Cục THADS TP.Hồ Chí Minh
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Thị Thanh Tú
12
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Mai Thị Thanh Tú
13
Tải về
Bản án số 175/KTPT Bản án số 175/KTPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 175/KTPT Bản án số 175/KTPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất