Bản án số 17/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 của TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2021/HS-ST ngày 03/02/2021 của TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Quế Phong (TAND tỉnh Nghệ An)
Số hiệu: 17/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/02/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN QUẾ PHONG - NGHỆ AN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 17/2021/HS-ST
Ngày 03 - 02 - 2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đình Hà và ông Cù Đức Hùng;
- Thư phiên tòa: Vi ThNhuần, Thư ký a án nhân dân huyện Quế
Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia
phiên tòa: Bà Lang Thị Ngọc Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế
Phong, tỉnh Nghệ An xét xthẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ số:
05/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra t xử
số: 06/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo: Vi Thanh
Y, sinh năm 1999 ti huyn Quế Phong, tnh Ngh An; Nơi trú: Bn N, T,
huyn Q, tnh Ngh An. Ngh nghip: Lao động tự do; trình đvăn hoá (học
vấn): Lớp 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Vi Văn X Hà ThNg; V, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự:
không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tng 11 năm 2020 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thái Q, chức vụ: Trợ giúp viên
trợ giúp pháp lý chi nhánh số 2 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Nghệ
An, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Bà Hà Thị Ng, sinh năm 1973;
Trú ti: Bn N, xã T, huyn Q, tnh Ngh An, có mt.
- Người làm chứng: Anh Hà Văn L, sinh năm 2000
Trú tại: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v
án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 09/11/2020, Vi Thanh Y, trú tại bản N, xã T, huyện Q nhắn tin cho
người tên T qua ứng dụng Messenger hỏi mua hồng phiến với số tiền 500.000 đồng.
Mua được ma túy Y đem cất dấu ới nệm ở đầu giường của nh, đến 4 gi, ngày
10/11/2020, Y lấy 03 viên ma y ra sử dụng sốn lại bỏo trong chiếc ví da màu
đen rồi cất dấu ở đầu giường ngủ củanh. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày trong lúc
2
Y đang ở nhà tbị Tổ ng c ng an huyện Quế Phong kiểm tra pt hiện bắt
quả tang. Vật chứng thu giữ là 02 gói ni lông màu trắng bên trong chứa 30 viên nén
u hồng (nghi Methamphetamine); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
6s màu bạc đã qua sử dụng; 01 da màu đen đã qua sdụng.
Tại bản kết luận giám định số: 1499/KL-PC092-MT) ngày13/11/2020 của
Phòng kỹ thuật hình sự ng an tỉnh Nghệ An kết luận: Hai mẫu viên nén màu
hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Vi Thanh Y gửi tới giám định đều ma túy
(methamphetamine). Số viên nén u hồng (02 gói) thu giữ của Vi Thanh Y
tổng khối lượng là 03 (ba) gam.
Tại phiên tòa Vi Thanh Y khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 11/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Quế Phong, tỉnh NghAn truy tố Vi Thanh Y về tội "Tàng trữ trái phép
chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuY bố Vi
Thanh Y phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều
249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xphạt Vi Thanh Y từ 01 năm 06
tháng đến 02 năm .
Không áp dụng hình phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo do hoàn
cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản gì lớn.
Về vật chứng: Áp dụng vào điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bluật tố tụng hình
sự. Đề nghị tịch thu tiêu hy: 01 phong nm phong theo quy định, sau khi lấy 0,4
gam đi giám định, n trong n đựng 26 viên n u hồng (Methamphetamine)
khối lượng 2,6 gam, các mảnh bao ni lông u trắng, vỏ phong nm phong
vật chứng ban đầu; 01 ví da u đen đã qua sử dụng không n giá trsử dụng ca
Vi Thanh Y.
Tr lại cho bà Hà Th Ng, sinh năm 1973 (bà Ng là mđẻ của bị cáo Vi Thanh
Y), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s u bc số IMEL
359157071682442. Việc bà Nga cho Vi Thanh Y mượn đin thoại sử dụng nhưng Y
dùng o liên lạc để mua ma tv sử dụng thì Ng không biết.
Đối với người đàn ông tên T đã bán ma túy cho Vi Thanh Y, qua xác minh
xác định được là Nguyễn Văn T, sinh năm 2002, trú tại bản C, xã Ch, huyện Q, tuy
nhiên hiện nay T không có mặt tại địa pơng nên quan CSĐT Công an huyện
Quế Phong chưa có căn cứ đxử lý, khi nào căn cứ sẽ xem xét xử sau.
Đối Với Văn L, sinh năm 2000, ttại bản N, T, huyện Q đã cầm tiền
ra cho T và cầm gói ma y tTđưa cho Y nhưng quá trình điều tra xác minh Hà
Văn L không biết việc mua bán ma túy giữa Vi Thanh Y với Nguyễn Văn T nên
hành vi không cu tnh tội phạm.
Người bào chữa không tranh luận về tội danh đề nghị áp dụng tình tiết
giảm nhẹ xử phạt bị cáo t15 đến 18 tháng , không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo.
3
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bcáo thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma
túy là sai, xin hội đồng xét xử cho mức án nhẹ để sớm về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên sở nội dung ván, n cứ o c tài liệu trong hsơ ván đã đưc
tranh tụng ti phn a, Hội đồng xét xử nhận định n sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra ng an
huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân n huyện Quế Phong, Kiểm
t viên trong quá trình điều tra, truy tđã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thtục quy định của Bluật ttụng nh sự. Quá trình điều tra tại phiên a bị
cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan người làm chứng
không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t
tng, người tiến nh tố tụng. Do đó, c hành vi, quyết định tố tụng của quan
tiến nh tố tụng, người tiến nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Ti phiên tòa Vi Thanh Y thừa nhận 03 (ba)) gam
(Methamphetamine) bT công tác Công huyn Quế Phong thu giữ của bo
vào chiều ngày 10/11/2020 để về sử dụng như bản cáo trạng truy t đúng. Lời
khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại hồ sơ, biên bản bắt người
phạm tội quả tang lập vào hồi 13 giờ 40 phút cùng ngày; kết luận giám định Hai
mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Vi Thanh Y gửi tới giám
định đều ma túy (methamphetamine); sviên nén u hồng (02 gói) thu giữ
của Vi Thanh Y tổng khối lượng 03 (ba) gam. Sự phù hợp thống nhất của
các chứng cứ nêu trên đủ sở kết luận Vi Thanh Y đã Tàng trữ trái phép 03
(ba) gam ma tuý (Methamphetamine) nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất
ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình s.
[3] Về tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến
sự độc quyền quản chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến
tính mạng, sức khỏe, i giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn hội.
Hành vi phạm tội của bị cáo nghiêm trọng. vậy, cần xét xử nghiêm cách
ly bị o ra khỏi hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người
tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, sau khi phạm tội
bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4]. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đnghị xử phạt bị
cáo Vi Thanh Y từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; người bào chữa đề nghị xử
phạt bị cáo t15 đến 18 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát người
bào chữa là chưa phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bcáo không việc làm ổn định, thu nhập thấp,
điều kiện kinh tế khó khăn, không tài sản đáng giá. vậy, Hội đồng xét xử
quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4
[6] Về vật chứng: 01 (một) phong bì nm phong theo quy định, sau khi lấy 0,4
gam đi giám định, n trong n đựng 26 viên n u hồng (Methamphetamine)
khối lượng 2,6 gam, các mảnh bao ni lông u trắng, vỏ phong nm phong
vật chứng ban đầu, 01 ví da u đen đã qua sử dụng không n giá trsdụng nên
tịch thu tiêu hủy.
[7] Tr lại cho bà Th Ng, sinh năm 1973 (bà Ng mđẻ của b o Vi
Thanh Y) trú tại: Bn N, T, huyn Q, tnh Ngh An 01 (một) điện thoại di động
nhãn hiệu Iphone 6s u bc số IMEL 359157071682442. Việc bà Ng cho Vi
Thanh Y mượn đin thoại sử dụng nhưng Y dùng o liên lạc đ mua ma tuý v s
dụng thì Ng không biết.
[8] Nời đàn ôngn Tuấn đã bán may cho Vi Thanh Y, quac minh xác
định được Nguyễn Văn T, sinh năm 2002, trú tại bản C, Ch, huyện Q, hiện
nay T không có mặt tại địa phương nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Phong
chưa có căn cứ để xử .
[9] Đối Với n Linh, sinh năm 2000, trú tại bản N, T, huyện Q đã
cầm tiền ra cho T cầm gói ma túy từ tuấn đưa cho Y nhưng quá trình điều tra
xác minh Hà Văn L không biết việc mua bán ma túy giữa Vi Thanh Y với Nguyễn
Văn T n hành vi không cu tnh tội phạm.
[10] Người bị kết án phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
TuY bố: Vi Thanh Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 ca
Bộ luật Hình s; Xphạt: Vi Thanh Y 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 10 tháng 11 năm 2020.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ
luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong được niêm phong nguY vẹn bên trong
đựng 26 vn n u hồng (Methamphetamine) có khối lượng 2,6 gam, c mảnh
bao ni lông u trắng, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 da màu đen
đã qua sử dụng không n giá trsử dụng của bị cáo Vi Thanh Y.
ặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Quế
Phong Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong ngày 13/01/2021); (theo
BL: 68).
Tr lại cho bà Th Ng, sinh năm 1973 trú tại: Bn N, T, huyn Q, tnh
Ngh An 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s u bc số IMEL
359157071682442.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
5
quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Vi Thanh Y phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án bị cáo
quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND Quế Phong;
- Công an huyện Quế Phong;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
- Trại giam Công an tỉnh Nghệ An;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- Thi hành án hình sự;
- Chi cục THADS huyện Quế Phong;
- UBND xã nơi bị cáo cư trú;
- Lưu HS,VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Hồ Diên Tuấn
Tải về
Bản án số 17/2021/HS-ST Bản án số 17/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất