Bản án số 17/2021/HS-ST ngày 29/06/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2021/HS-ST ngày 29/06/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 17/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ SA PA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 17/2021/HS - ST
Ngày 29/6/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Minh Huấn
2. Ông Đỗ Trọng Bằng;
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toản Thư Tòa án nhân dân thị
Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa tham gia phiên toà: Lồ
Kim Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tng 6m 2021, tại trụ sở T án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai
xét xử công khai thẩm vụ án hình sự thụ s12/2021/TLST- HS ngày 13 tháng 5
năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 16/2021/QĐXXST- HS ngày 11
tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị Sa Pa đối với bị cáo:
Chảo Láo T; Tên gọi khác: Kh; Sinh ngày: 09/11/2002 tại thị Sa Pa, tỉnh
Lào Cai; Nơi trú: Thôn CH A, NCS, thị SP, tỉnh LC; Ngh nghip: Lao
động t do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam.
Con ông Chảo o V (Đã chết); bà Lở M, sinh năm 1986, trú tại thôn
VLS, TC, thị SP, tỉnh LCi. Gia đình bị cáo hai anh em, bị cáo con thứ
nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo Chảo Láo T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2021 đến ngày
29/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị Sa. (Có mặt tại
phn a).
Người bào chữa cho bị cáo Chảo Láo T: Liệu Thị Nga; Trợ giúp viên pháp
lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnho Cai. Có mặt
Người bị hại:
+ Anh Châu A Chúng; Sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Chu Lìn 2, Trung
Chải, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai; (Vắng mặt ti phiên tòa).
+ Anh Chảo Láo Kh; Sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn CHA, NCS, thị SP,
tỉnh LC. (Vắng mt tại phn a).
2
- Người có quyền lợi liên quan:
+ Anh Phàn Láo L; Sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn LK, TP, thị SP, tỉnh
LC; (Vắng mặt tại phiên a).
+ Anh Giàng A C; Sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn VDS 2, MH, thị SP,
tỉnh LCi; (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
+ Anh Đường Vinh T; Sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn CH A, NCS, thị
SP, tỉnh LC; (Vắng mt tại phiên tòa).
+ Anh Láo Li; Sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn CH A, NCS, thị SP,
tỉnh LC;(Vắng mặt tại phiên a).
+ Anh Chảo Láo T; Sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn SC A, MB, thị SP,
tỉnh LC; (Vắng mt tại phiêna).
+ Lở M; Sinh năm 1941; Địa chỉ: Thôn SC A, MB, thị SP, tỉnh
LC. (Vắng mặt tại phiên a).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 16/11/2020, Chảo Láo T thuê xe ôm của
một người đàn ông ( T3 không biết tên, tuổi, địa chỉ) đi từ trung tâm thị Sa Pa về
nhà tại Ngũ Chỉ Sơn, thị Sa Pa. Khi đi qua Cầu Khe Lạnh thuộc thôn Can H
Mông, xã Ngũ Chỉ Sơn, Chảo Láo T nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô BKS 24B1 - 449.33
nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đđang dựng bên trái lề đường tỉnh lộ 155,
đầu xe quay về hướng đi trung tâm xã Ngũ Chỉ Sơn. Quan sát xung quanh không
người nên Chảo Láo T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên để bán lấy tiền tiêu
sài cá nhân. Chảo o T yêu cầu người lái xe ôm cho T3 xuống xe ở vị trí cách chiếc
xe mô khoảng 100 mét rồi thanh toán tiền xe, sau khi người lái xe ôm rời đi, Chảo
Láo T đi bộ đến vị trí chiếc xe mô BKS 24B1 - 449.33 rồi ngồi lên xe điều khiển
xe thả trôi theo đường tỉnh lộ 155 đi về trung tâm xã Ngũ Chỉ Sơn. Khi đi qua đường
rẽ đi thôn Phìn Hồ, Ngũ Chỉ Sơn khoảng 50 mét, Chảo Láo T quan sát thấy quán
sửa xe của anh Đường Vinh T (sinh ngày 27/08/1973, trú tại thôn Can Hồ A, xã Ngũ
Chỉ Sơn, thị Sa Pa) nên dừng lại để thay khóa điện cho chiếc xe đã trộm
cắp được trước đó. Sau khi thay xong khóa xe, Chảo Láo T mua thêm 01 lít xăng đổ
vào xe rồi điều khiển xe đi ra trung tâm thị xã Sa Pa. Khi ra đến thị Sa Pa, Chảo
Láo T gặp Chảo Láo T (sinh năm 2003, trú tại thôn Sín Chải A, xã Mường Bo, th
Sa Pa) là người quen của T3 nên rủ Chảo Láo T đi cầm cố chiếc xe trên. Khi đi Chảo
Láo T nói nguồn gốc chiếc xe chuẩn bị cầm cố tài sản của Chảo Láo T. Cả hai
đi đến quán sơn An Phú (trước đây kinh doanh dịch vụ cầm đồ) gặp Phàn Láo
L (sinh năm 2000, trú tại thôn Lủ Khấu, T3 Phìn, thị Sa Pa) nhân viên của
quán. Tại đây, Phàn Láo L đã đồng ý cầm cố chiếc xe BKS 24B1 - 44933 cho
Chảo Láo T với số tiền 2.500.000 đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền trên
Chảo Láo T đã tiêu sài cá nhân hết.
3
Tại Kết luận định giá số 12/KL-HĐĐG ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá
tài sản thị xã Sa Pa kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ,
biển kiểm soát số 24B1 - 44933: Tổng giá trị còn lại của tang vật được trưng cầu
định giá là: 14.785.000 đồng”.
Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 00 ngày 17/11/2020, Chảo Láo T cùng o Li
(sinh năm 2000, trú tại thôn Can Hồ A, Ngũ Chỉ Sơn, thị Sa Pa) đi đến nhà
Chảo Láo Kh (Sinh năm 1991, trú tại thôn Can Hồ A, xã Ngũ Chỉ Sơn, thị Sa Pa)
chơi, Chảo Láo T đi bộ mt mình vào nhà Khé, còn Lò Láo Li đứng đợi ở đường liên
thôn. Khi Chảo Láo T vào nhà Khé thì thấy không ai nhà, cửa nkhông khóa,
nên Chảo Láo T đi vào trong nhà rót nước uống. Lúc này, Chảo Láo T thấy trong
nhà để một chiếc xe mô nhãn hiệu Honda Blade màu đen - trắng, BKS 24B2-
328.64 đang cắm chìa khóa tại ổ khóa xe, nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe
trên để bán lấy tiền tiêu sài nhân. Chảo Láo T bật chìa khóa để khởi động xe
nhưng không thấy xe nổ máy, sau đó kiểm tra thì phát hiện xe hết xăng. Chảo Láo T
đi ra ngoài đường liên thôn gặp nhờ Láo Li đi mua hộ 01 lít xăng với do để
đi với anh họ lên thị Sa Pa, o Li đồng ý, Chảo Láo T đứng tại đường chờ.
Sau khi mua được xăng, Lò Láo Li đưa cho T3 rồi đi về nhà. Chảo Láo T cầm chai
xăng đi vào nhà Chảo Láo Kh để đổ xăng vào trong xe máy, rồi dắt chiếc xe ra ngoài
sân thì Cho Láo T bị bà nội của Chảo Láo Kh là bà Lý Lở M (sinh năm 1941, trú tại
thôn Can Hồ A, xã Ngũ Chỉ Sơn, thị Sa Pa) bắt gp hỏi T3 mang xe đi đâu.
Lúc này, Chảo Láo T nảy sinh ý định lừa Lở M để chiếm đoạt được chiếc xe,
nên đã nói dối Chảo Láo Kh bảo mình về lấy xe để đi đón Khé. Lở M tin
tưởng lời Chảo Láo T nói nên đồng ý cho Chảo Láo T mang chiếc xe đi. Sau đó,
Chảo Láo T nổ máy điều khiển chiếc xe đi đến khu vực Mường Hoa, thị Sa
Pa. Tại đây Chảo Láo T thỏa thuận bán chiếc xe trên cho anh Giàng A C (sinh
năm 1999, trú tại thôn Vạn Dền Sử 2, Mường Hoa, thị Sa Pa) chủ quán sa
xe „„Hmoob Moto‟‟ với giá 5.000.000 đ (năm triệu đồng). Anh C trả trước 03 triệu
đồng, sau khi T3 mang giấy tờ xe đến sẽ trả nốt số tiền 2.000.000 đ (hai triệu đồng).
Sau khi nhận tiền, Chảo Láo T thuê xe ôm quay về thị Sa Pa tiêu sài nhân
hết số tiền 3.000.000 đ (ba triệu đồng).
Tại Kết luận định giá số 13/KL-HĐĐG ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá
tài sản thị xã Sa Pa xác định 01 xe tô nhãn hiệu Honda Blade, màu sơn đen
trắng, biển kiểm soát số 24B2-328.64 (Tổng giá trị còn lại của tang vật được trưng
cầu định giá là: 14.917.500 đồng)” .
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa giữ nguyên quan
điểm truy tố đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bbị cáo Chảo Láo T
phạm tội “Trộm cắp tài sản” “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s, khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Điều
38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Láo T từ 09 đến 12 tháng đối với tội
“Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm h, s, khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 38
Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Láo T từ 12 đến 15 tháng đối với tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sn”. Không áp dng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015, tổng hợp hình phạt chung của cả hai
tội đối với bị cáo Chảo Láo T.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 586, 589 Bộ luật
dân sự: Buộc bị cáo Chảo Láo T phải bồi thường cho người bị hại anh Chảo Láo
Kh số tiền 1.370.000 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền anh Khé
sửa chữa xe sau khi nhận lại.
Người bị hại Châu A Chúng và những người có quyền lợi liên quan không yêu
cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Truy thu của Chảo Láo
T số tiền 5.500.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại, người quyền lợi liên
quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên a người bào chữa cho bị cáo Chảo Láo T nhất tvới tội danh, Điều
luật Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Chảo Láo T
người dân tộc thiểu số sống vùng điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết
pháp luật còn nhiều hn chế, bị cáo từ nhỏ đã thiếu thốn tình cảm chăm sóc của cha
mẹ, không được học tập rèn luyện đầy đủ nên dẫn đến hành vi phạm tội của bị
cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều
38, Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Láo T 04 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38
Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Láo T 06 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo Chảo Láo T đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm
sát nhân dân thị Sa Pa đã truy tđối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Tn cơ sở nội dung v án, căn cứ vào cáci liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phn tòa, Hội đồng t xnhn thy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của quan tiến hành ttụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Chảo Láo T đã
thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại quan
điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ
khác như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Biên bản khám nghiệm hin
trường, đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu;
Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu tngày 22/02/2021; Kết luận định giá tài
5
sản; Biên bản xác minh; Biên bn xét nghiệm ma túy; Bản tự khai, biên bản ghi lời
khai, biên bản hỏi cung của bị cáo; Lời khai của bị hại và những người khác ln
quan trong vụ án; Bản kết luận điều tra s16 ngày 20/4/2021 của quan cảnh sát
điều tra Công an thị Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Bản cáo trạng số 11/CT-VKS-SP ngày
12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ
khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 16/11/2020, Chảo Láo T li dụng hở trong việc quản tài sản nên đã
thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe BKS 24B1 - 449.33 nhãn hiệu Honda
Wave Alpha thuộc quyền quản lý của anh Châu A Chúng. Theo bản Kết luận định giá
số 12/KL-HĐĐG ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị Sa Pa: Tổng
giá trị còn lại của xe nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn đỏ, biển kiểm
soát số 24B1 – 44933 là: 14.785.000 đồng.
Ngày 17/11/2020, Chảo Láo T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô nhãn
hiệu Honda Blade màu đen - trắng, BKS 24B2- 328.64 Chảo Láo Kh, nhưng khi T3
đang thực hiện hành vi trộm cắp của thì bị Lở M là nội sống cùng nhà với
Khé bắt gặp. Chảo Láo T nảy sinh ý định lừa Lở M để chiếm đoạt được chiếc
xe, nên đã nói dối Mẩy Khé bảo mình về lấy xe để đi đón Khé với mong muốn
bà Lở M đã tin tưởng lời T3 đồng ý cho Chảo Láo T mang chiếc xe đi. Chảo
Láo T đã hành vi lừa đảo Lở M chiếm đoạt được 01 xe nhãn hiệu
Honda Blade màu đen - trắng, BKS 24B2- 328.64 của anh Chảo Láo Kh. Theo kết
luận định giá số 13/KL-HĐĐG ngày 03/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị
Sa Pa xác định: Tổng giá trị còn lại của xe mô nhãn hiệu Honda Blade, màu sơn
đen trắng, biển kiểm soát số 24B2-328.64 là: 14.917.500 đồng.
Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo Chảo Láo T về tội “Trộm cắp
tài sảntheo quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo
quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, không những xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị
an tại địa phương nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.
[3] Xét về tính chất hành vi phạm tội c tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, điều kiện nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tại quan điều tra tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp i sản
chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho người bị hại, bị cáo đến cơ quanng an để đầu
thú về hành vi phạm tội của nh, bị cáo hoàn cảnh gia đình kkhăn, thiếu sự
quan m chăm sóc của bố mẹ. Do đó, bị cáo Chảo o T được ởng tình tiết giảm
nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bluật hình sự đối với tội
“Trộm cắp tài sản”, điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” . Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một
phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
6
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo cần một mức
hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bịo. Xét tính chất
mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp
dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục
bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về phần hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định
như sau:
Đối với hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự, trị
giá tài sản bị cáo trộm cắp có trị giá 14.785.000 đồng, có khung hình phạt từ 06 tháng
đến 03 năm. Bị cáo không tình tiết tăng nặng và 03 tình tiết giảm nhẹ quy định
tại khoản 1 Điều 51 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật
hình sự nên mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên nặng, không phù hp
với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với hành vi lừa đo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật
hình sự trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 14.917.000 đồng, khung hình
phạt t06 tháng đến 03 năm. Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại
khoản 1 Điều 51 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình
sự, tuy nhiên sau khi bcáo phạm tội bị cáo bỏ trốn đến ngày 22/02/2021 bị cáo mới
ra đu thú, gây khó khăn cho công tác điều tra, nên mức hình phạt theo đề nghị của
Kiểm sát viên phù hợp với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với đề nghị của người bào chữa: Người bào chữa đề nghị Hội đồng t xử
áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị
cáo mức án 04 tháng tù đối với hành vi trộm cắp tài sản; Áp dụng điểm h, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù. Xét tính chất,
mức độ hành vi phạm tội của bị o: Sau khi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp ngày
16/11 đến ngày 17/11/2021 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây k
khăn trong công tác điều tra. Vì vậy việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng các tình tiết giảm nhẹ xét xử bị cáo mức án nêu trên không phù hợp,
không đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, chưa đủ răn đe,
giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo
không nghề nghiệp, không tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối
với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Châu A Chúng sau khi nhận xe mô
tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ, biển kiểm soát số 24B1 – 44933 không
yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người bị hại anh Chảo Láo Kh yêu cầu bị cáo Chảo Láo T phải bồi thường cho
anh số tiền 1.370.000 đồng tiền sửa chữa xe sau khi anh nhận lại xe nhãn
hiệu Honda Blade màu đen - trắng, BKS 24B2- 328.64, bị cáo Chảo Láo T nhất trí
bồi thường cho anh Chảo Láo Kh số tiền 1.370.000 đồng.
7
Người có quyền lợi liên quan anh Phàn Láo T3 đã bỏ số tiền 2.500.000 đồng để
cầm cố xe máy Honda Wave Anpha, màu sơn đỏ, biển kiểm soát số 24B1 44933
nhưng anh T3 không biết chiếc xe đó là do bị cáo trộm cắp mà có, anh T3 đã giao xe
máy trên cho quan điều tra để trả li cho người bị hại, anh T3 không yêu cầu bị
cáo phải hoàn trả số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Tuy
nhiên xét thấy bị cáo Cho Láo T được hưởng lợi số tiền 5.500.000 đồng nói trên từ
hành vi phạm tội, nên xét thấy cần truy thu của bị cáo để sung công quỹ.
Người có quyền lợi liên quan anh Giàng A C là người bỏ ra 3.000.000 đồng để
mua xe máy Honda Blade màu đen - trắng, BKS 24B2- 328.64, anh C không biết
chiếc xe đó là do bị cáo trộm cắp mà có, anh C đã giao xe máy trên cho cơ quan điều
tra để trả lại cho người bị hại, anh C không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên
nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo Chảo Láo T phải chịu tiền án phí hình sự thẩm tiền
án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bluật tố tụng hình sự
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên b bo Cho Láo T phạm tội Trộm cắp tài sản” tội
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 khoản 2
Điều 51, Điều 38 Bộ lut hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Láo T 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 B
luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chảo Láo T 12 ( mười hai) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự 2015 tổng lợp hình phạt: Bị cáo Chảo Láo T
phải chịu hình phạt chung của cả hai tội là 01 năm 06 tháng tù.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 589 Bộ luật
dân sự. Buộc bị cáo Chảo Láo T phải trả cho anh Chảo Láo Kh số tiền 1.370.000đồng
(Một triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Trường hợp bị cáo Chảo o T chậm trả
tiền cho anh Chảo Láo L thì bị cáo phải trả lãi đối với stiền chậm trả theo mức lãi
suất được quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương
ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, truy thu của Chảo Láo T số tin 5.500.000
đồng để nộp và ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị
quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án plệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Chảo Láo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm
300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
8
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Chảo Láo T được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người quyền lợi và nghĩa vln quan
được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND thị xã Sa Pa (2).
- PV 06 Công an tỉnh;
- Công an thị xã Sa Pa (3);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Trại tạm giam;
- Bị cáo; Bị hại;
- THADS thị xã Sa Pa;
- Lưu Hồ sơ HS, HSTHA, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giàng Thị Thu Trang
Tải về
Bản án số 17/2021/HS-ST Bản án số 17/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất