Bản án số 17/2021/HNGĐ-PT ngày 26/08/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2021/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 17/2021/HNGĐ-PT ngày 26/08/2021 của TAND tỉnh Đắk Lắk về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 17/2021/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/08/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Thúy K và Trần Bình P ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NN N
TNH ĐK LK
Bản án s: 17/2021/HNGĐ-PT
Ngày 26 8 - 2021
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con chung
CNG HÒA XÃ HI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Đc lp T do Hnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐK LK
-Thành phn Hi đồng xét x phúc thm gồm có:
Thm pn - Ch tọa phiên tòa: Bà Nguyn Thị Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trn Anh Tun, bà Đinh Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyn Duy Nguyên T ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đk Lk
- Đi din Vin kim sát nhân dân tnh Đk Lk: Ông Ngụ Văn Minh - Kim
sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26/8/2021, ti trụ sở Tòa án nhân dân tnh Đk Lk xét x phúc thẩm công
khai v án hôn nhân gia đình thlý số 19/2021/TLPT-HNGĐ, ngày 16/7/2021, về
việc Ly n, tranh chấp về nuôi con chung”.
Do Bn án hôn nn gia đình thẩm s11/2021/HNGĐ-ST ny 07/6/2021,
của Tòa án nn dân thị xã Buôn H, tỉnh Đk Lk có kháng o.
Theo Quyết đnh đưa vụ án ra xét xử s 18/2021/QĐ-PT ngày 22/7/2021, gia
các đương s:
Nguyên đơn: Cao Thị Thúy K, sinh năm 1996; địa chỉ: 229 NCT, tổ
dân phố ĐH, phường ĐH, thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk , có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Bình P, sinh năm 1994; địa chỉ: 23 Y, tổ n phố 8,
phường AB, thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Bình P.
NI DUNG V ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Cao Thị Thúy K trình bày:
Cao Thị Thúy K ông Trần Bình P kết hôn trên sở tự nguyện
đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường AB, thị BH, tỉnh Đắk Lắk vào
ngày 27/6/2017. Trong thời gian chung sống bà K ông P 01 con chung
cháu Trần Thiên D, sinh ngày 08/6/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng thường
xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thường
xuyên xảy ra cải vã xung đột nhau vì những lý do nhỏ nhặt. Bà K đã về nhà mẹ để
từ cuối năm 2020 đến nay. Nay K xác định tình cảm vợ chồng không còn,
2
cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho
được ly hôn với ông P.
Về con chung: K nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần
Thiên D đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Trần Bình P trình bày:
Ông Trần Bình P và Cao Thị Thúy K kết hôn trên sở tự nguyện
đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường AB, thị BH, tỉnh Đắk Lắk vào
ngày 27/6/2017. Trong thời gian chung sống ông P K 01 con chung
cháu Trần Thiên D, sinh ngày 08/6/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng phát
sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do nh tình vchồng không hợp nhau. Vợ
chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Tuy nhiên, ông P nhận thấy mâu
thuẫn chưa đến mức trầm trọng nên không đồng ý ly hôn với K. Nếu Tòa án
giải quyết cho các bên ly hôn thì ông P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu
Trần Thiên D đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ti Bn án hôn nn gia đình sơ thẩm s11/2021/HNGĐ-ST ngày 07/6/2021,
ca Tòa án nhân dân thxã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 144; Điều 147; Điều 191; Điều 195; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật
Hôn nhân và Gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cao Thị Thúy K được
quyền ly hôn với ông Trần Bình P.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thiên D, sinh ngày 08/6/2018
cho bà Cao Thị Thúy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18
tuổi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Cao Thị Thúy K không yêu cầu ông
Trần Bình P cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: K, ông P không yêu cầu nên không xem
xét giải quyết.
Ngoài ra bản án thẩm n tuyên về án phí, quyền kháng o theo quy định
pp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày14/6/2021 ông Trần Bình P kháng cáo đề nghị
cấp phúc thẩm xem xét giao con chung là cháu Trần Thiên D cho ông Trần Bình P
là người được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng.
3
Ti phiên a phúc thm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kin; bị đơn gi
nguyên u cầu kháng cáo.
Đi diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Đk Lắk phát biểu ý kiến:
V ttụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư , các
đương sự đã chấp nh đúng quy định của Blut Ttụng n sự.
V nội dung: Qua phân tích, đánh giá đại diện Viện kiểm sát cho rằng kháng
cáo của ông Trần Bình P không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét x: Căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo
của bị đơn ông Trần Bình P, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
11/2021/HNGĐ-ST ngày 07/6/2021, ca Tòa án nhân n th xã Bn Hồ, tnh Đk
Lk.
Căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được thẩm tra ti phiên a, căn c
vào kết quả tranh lun ti phiên tòa , trên cơ sở xem t đầy đủ các tài liệu chng cứ li
trình y của các đương sự, ý kiến ca Kiểm sát vn:
NHẬN ĐỊNH CỦA A ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định đã
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà Cao Thị Thúy K và ông Trần Bình P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và
đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường AB, thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk vào
ngày 27/6/2017. Đây quan hệ hôn nhân hợp pháp, do vậy được pháp luật bảo
vệ. Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân, K cho rằng vợ chồng sống không hạnh
phúc nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên xảy ra mâu
thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay K xác định
không còn tình cảm với ông P nên nguyện vọng của xin được ly hôn ông P.
Ông P cũng cho rằng vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân từ
cuối năm 2020 đến nay nhưng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng để ly
hôn, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng đoàn t. Như vậy, vquan hệ
hôn nhân một bên đề nghị ly hôn, một bên đề nghị đoàn tụ nhưng cấp thẩm
không xác minh tại địa phương tình trạng hôn nhân của bà K ông P để làm căn
cứ giải quyết ly hôn thiếu sót. Tuy nhiên, ông P kháng o đề nghị cấp phúc
thẩm giao con chung cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng không kháng cáo về
quan hệ hôn nhân nên cấp phúc thẩm không xem xét. vậy, cấp thẩm cần
nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[2.2] Xét kháng cáo của ông Trn Bình P về vic đề nghđưc quyền trc tiếp
chăm sóc ni ng con chung, Hội đồng xét xử t thấy:
Ông Trn Bình P và Cao Thị Thúy K đều có nguyn vọng đưc trc tiếp ni
dưng cháu Trần Thiên D đến tuổi trưởng thành. Theo quy định tại khoản 2 Điều
81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực
tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp
4
không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi
căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con …”. Xét thấy ông P không nghề
nghiệp không thu nhập ổn định, K thu nhập công viêc ổn định
đảm bảo đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Mặc khác, hiện
cháu D còn quá nhỏ (mới 03 tuổi 2 tháng) nên cần sự chăm c của người mẹ
hiện cháu D đang do K trực tiếp nuôi dưỡng. Như vậy, để đảm bảo cuộc
sống ổn định của cháu, đảm bảo quyền lợi của con sau khi ly hôn được phát triển
lành mạnh về thể chất cũng ntinh thần thì cần giao cháu D cho K trực tiếp
nuôi dưỡng đến tuổi tưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, bà K không yêu cầu
ông P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Đối với việc nuôi con chung sau khi ly hôn: Ông Trần Bình P được quyền đi
lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai quyền ngăn cản. Nếu ông P đủ
căn cứ cho rằng K không còn đủ điều kiện nuôi con chung hoặc ngược đãi con
chung, thì quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con,
cũng như thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung theo
quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy không căn cứ chấp nhận
kháng cáo của ông Trần Bình P cần giữ nguyên Bn án n nhân gia đình sơ
thẩm số 11/2021/HNGĐ-ST ngày 07/6/2021, của Tòa án nhân dân th xã Buôn Hồ, tnh
Đk Lk.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Ông Trần Bình P phải chịu
300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm. Được khấu trừ số tiền 300.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0007196, ngày 05/7/2021
của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án p lệ phí
Tòa án.
[1] Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Binh P.
Gi nguyên Bản án n nn gia đình sơ thẩm s 11/2021/HNGĐ-ST ngày
07/6/2021, của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 144; Điều 147; Điều 191; Điều 195; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự;
5
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật
Hôn nhân và Gia đình.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Cao Thị Thúy K.
Cao Thị Thúy K được quyền ly hôn với ông Trần Bình P.
- Vcon chung: Giao con chung cháu Trần Thiên D, sinh ngày 08/6/2018
cho Cao Thị Thúy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18
tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Cao Thị Thúy K không yêu cầu ông Trần
Bình P cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Trần Bình P được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai
được quyền ngăn cản quyền này.
- Về tài sản chung nợ chung: K, ông P không yêu cầu nên không xem
xét giải quyết.
[2] Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Ông Trần Bình P phải chịu
300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm. Được khấu trừ số tiền 300.000
đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0007196, ngày 05/7/2021
của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND thị xã Buôn Hồ;
- Chi cục THADS thị xã BH; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Nguyễn Thị Hằng
Tải về
Bản án 17/2021/HNGĐ-PT Đắk Lắk Bản án 17/2021/HNGĐ-PT Đắk Lắk

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 17/2021/HNGĐ-PT Đắk Lắk Bản án 17/2021/HNGĐ-PT Đắk Lắk

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất