Bản án số 163/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 163/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 163/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 của TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thái Bình (TAND tỉnh Thái Bình)
Số hiệu: 163/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/10/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 163/2018/HS-ST
Ngày: 25 - 10 - 2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Hoàng Thị Phụng
Bà Đặng Thị Việt Hoài
- Thư phiên tòa: Ngô ThHạnh Thư ký Tòa án nhân n thành
phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái
Bình tham gia phiên tòa:Nguyễn Thị Huyền Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái
Bình, tỉnh Thái Bình xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số:
153/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 163/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ tên: Đinh Trung D, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1995 tại Thái Bình;
nơi đăng hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, TH, huyện Th, tỉnh Thái Bình; nơi
trú: Phường ĐT, thành phố Th1, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động t
do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Ch, sinh năm 1954 Đỗ
Thị D, sinh năm 1963; chưa vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bbắt,
tạm giữ ngày 04 tháng 7 năm 2018 đến ngày 10 tháng 7 năm 2018 chuyển tạm
giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; có mặt.
- Ngưi chng kiến:
2
+ Anh Phạm Duy T, sinh năm 1995; i cư trú: Png K, thành phố Th1,
tỉnh Thái Bình; vắng mt
+ Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985; nơi trú: Phường B, thành phố
Th2, tỉnh Thái Bình; vắng mặt
+ Ông Lại Minh T2, sinh năm 1958; nơi trú: Phường Đ, thành phố
Th1, tỉnh Thái Bình; vắng mặt
+ Ông Văn T1, sinh năm 1943; nơi trú: Phường Đ, thành phố Th1,
tỉnh Thái Bình; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến ti phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04 tháng 7 m 2018, Đinh Trung D đi bộ từ
nơi tại cửa hàng quần áo Z phường Đ, thành phố Th1, tỉnh Thái Bình ra khu
vực phường Q thành phố Th mục đích mua ma túy về bán kiếm lời. Đến nơi D
gặp mua của một người nam giới khoảng 45 tuổi không biết tên, không rõ địa
chỉ 01 túi ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. D nhận gói ma y đồng thời được
người này cho D 01 cân điện tử màu đen một túi nilon bên trong các túi
nilon nhỏ mc đích đD về chia số ma túy đã mua được. Sau đó D cầm ma túy
vừa mua được cùng cân điện tử và 01 túy nilon đi về chỗ ở, chia số ma túy vừa
mua thành 02 túi gồm 01 túi nhỏ 01 túi to đu đựng trong túi nilon trong suốt
rồi cất giấu hai túi vừa chia vào túi quần bên phải của D đang mặc. Đến khoảng
22 giờ cùng ngày khi D đang đứng trước cửa hàng bán quần áo Z thì M
bạn ngoài hội (D không biết địa chỉ của M) đi xe máy đến hỏi mua 300.000
đồng ma y đá. D đồng ý bán cho M và nhận của M 01 tờ tiền mệnh giá
500.000 đồng, cất vào túi quần bên phảilấy từ túi quần này ra 01 gói ma túy
nhỏ đựng trong túi nilon trong suốt 200.000 đồng đưa lại cho M. M cầm ma
túy tiền cất vào trong người rồi điều khiển xe đi. Ngay sau đó tổ công tác
Công an tỉnh Thái Bình đến yêu cầu kiểm tra D. Trước sự chng kiến của anh
Phạm Duy T anh Dương Ngọc H, D tự giác giao nộp từ túi quần bên phải 01
túi nilon trong suốt kích thước 5x10 cm bên trong túi nilon chứa các hạt tinh thể
3
trong suốt số tiền 500.000 đồng. D khai ma túy đá D mua về để bán kiếm
lời, còn số tiền 500.000 đồng trong đó 300.000 đồng D vừa bán ma túy cho
M mà có. Tổ công tác mở gói ma túy ra kiểm tra và tiến hành niêm phong i ma
túy trong phong sau đó yêu cầu D mời người chứng kiến về Công an
phường Đề Thám làm việc. Tại đây tiến hành kiểm tra người D thu tại túi quần
bên trái D đang mặc số tiền 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone màu
trắng đã vỡ màn hình. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả
tang lập biên bản niêm phong vật chứng. Ngày 05 tháng 7 năm 2018.
quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã tiến hành khám xét khẩn cấp
chỗ của Đinh Trung D. Qua khám xét, thu trong túi du lịch đựng quần áo của
D 01 túi nilon kích thước khoảng 10x5 cm bên trong chứa 30 túi nilon kích
thước khoảng 1,5x1,5 cm, mép có viền màu xanh; thu trên bàn để máy vi tính 01
cân điện tử vỏ màu đen có chữ Aosai Pocket Scale.
Bản Kết luận giám định số: 291/KLGĐ-PC54 ngày 05 tháng 7 năm 2018
của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám
định thu của Đinh Trung D ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng
2,3817 gam (Hai phẩy ba nghìn tám trăm mười bảy gam).
Q trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo D kng có ý kiến hay khiếu nại gì
về kết luận của Phòng kthut nh sự Công an tỉnh Ti Bình nêu trên.
Bản cáo trạng số: 163/CT-VKSTP ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đinh
Trung D về tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều
251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bbị o Đinh Trung D phạm tộiMua bán trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38,
Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo
Đinh Trung D t 03 năm (ba năm) đến 03 năm (ba năm) 06 tháng (sáu tháng) ,
thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04 tháng 7 năm 2018.
4
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo từ 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) đến
10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
* Về xử lý vật chng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật nh sự năm 2015
sửa đổi bsung năm 2017, Điu 106 Bluật Tố tụng hình snăm 2015
- Trlại cho bị o D 01 điện thoại di động Iphone u trắng, đã cũ bị vỡ
màn hình và số tiền 1.200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bo thi hành án;
- Tịch thu tiêu hủy ca bị cáo D 2,3817 gam (hai phẩy ba ngn tám trăm
mười bảy gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau gm định 2,2967 gam
(hai phẩy hai nghìn chín trăm sáu mươi bảy gam) trong phong ghi số 291/KL;
- Tịch thu tiêu hủy của bị cáo D 01 cân điện tử vỏ màu đen chữ Aosai
Pocket Scale 01 túi nilon kích thước khoảng 10x5 cm bên trong 30 túi
nilon kích thước khoảng 1,5x1,5 cm, mép có viền màu xanh.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo D số tiền 300.000 đồng
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
Bị cáo không ý kiến tranh luận về quyết đnh truy tố của Viện
kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Thái nh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân n thành phố Ti nh, Kiểm t
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thm quyn, trình t,
th tục quy định ca B lut t tng Hình s. Quá trình điu tra ti phiên tòa,
b cáo không ý kiến hoc khiếu ni v nh vi, quyết định của quan tiến
hành t tng, người tiến hành t tng. Do đó c nh vi, quyết định t tng ca
quan tiến hành t tụng, ni tiến nh t tng đã thực hin đều hp pháp.
[2] Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 04 tháng 7 năm 2018, phường Đ, tnh ph
Th1, tỉnh Thái nh. Đinh Trung D có hành vi ng tr trái pp trên ngưi 01 i
5
ma túy, loại Methamphetamine khối ng 2,3817 gam mục đích để n kiếm
lời thì bị t công tácng an tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. nh vi phạm
tội của bị cáo n được chng minh bằng c i liu chứng cứ sau: Biên bản bắt
người phạm tội qu tang do Công an tỉnh Ti Bình lập hồi 22 gi30 phút ny 04
tháng 7 m 2018; biên bn niêm phong vật chứng lập hồi 00 giờ 20 phút ngày 05
tháng 7 năm 2018; bn Kết luận giám định số: 291/KL-PC54 ngày 05 tháng 7
m 2018 của Phòng k thuật hình sự ng an tnh Thái Bình; biên bản ghi li
khai của anh Dương Ngọc H, ông Lại Minh T2, anh Phạm Duy T, ông Văn T1
cùng các tài liệu, chứng c khác có trong hồ vụ án. Như vậy có đủ cơ skết luận
nh vi của bị o D đủ c yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép cht ma
túy quy định tại Điều 251 Bluật Hình s năm 2015 sửa đổi bsung năm 2017.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi
phạm tội của bị cáo đã mua ma túy về bán, mục đích bán kiếm lời nguy hiểm
cho hội, xâm phạm quy định quản chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy
vật cấm lưu hành, không những làm sa sút vsức khỏe trí tuệ con người mà
còn làm hủy hoại đạo đc nhân cách con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình,
tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, nguồn gốc phát sinh các loại ti
phạm khác gây ảnh hưởng đến trật tự trị an. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức
án nghiêm khắc tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bcáo đã gây
ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3.2] V tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự: Bị cáo nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự. Bị cáo không
phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định ti Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra, truy tố
và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lut Hình
sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
6
[3.3] Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi
phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhtrách nhiệm hình sự của bị cáo thì
Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phn hình phạt để bị cáo thấy được
chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[4] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015
sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ 01 m đến 05 năm hoặc tịch thu một phần
hoặc toàn bộ tài sản, bị cáo D bán ma y nhằm mục đích kiếm lời, cần áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] quan Công an thu giữ của bị cáo D 2,3817 gam (Hai phẩy ba
nghìn tám trăm mười bảy gam) ma túy loại Methamphetamine còn li sau giám
định là 2,2967 gam (hai phẩy hai nghìn chín trăm sáu mươi bảy gam), trong
phong ghi số 291/KLGĐ vật Nhà nước cấm lưu hành căn cứ Điều 47 Bộ
luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Ttụng
hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
[5.2] quan Công an thu giữ của bị cáo D 01 điện thoại di động Iphone
màu trắng, đã cũ, bị vỡ màn hình không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần
trả lại.
[5.3] Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo D số tiền 1.500.000 đồng, trong
đó 300.000 đồng tiền bị cáo D được từ việc bán ma túy do đó cần tịch
thu để nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng và trả lại bị cáo D
1.200.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục quản lý để
đảm bảo thi hành án.
[5.4] quan ng an thu gicủa bị o D 01 cân đin tử v u đen
chAosai Pocket Scale, 01 i nilon kích thước khoảng 10x5 cm n trong 30
i nilonch thước khoảng 1,5x1,5 cm mép có viền màu xanh, trong quá trình điều
tra và tại phn a bị cáo D không có yêu cầu nhận lại n cn tịch thu tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
7
[6.1] Đối với người bán ma túy cho D, D khai không biết tên và địa chỉ cụ
thể của người bán ma túy cho D vậy quan cảnh sát điều tra công an tỉnh
Thái bình chưa đủ căn cứ xác minh xử lý, khi đủ căn cứ sẽ xử theo quy
định của pháp luật.
[6.2] Đối với người mua ma túy của D, D khai tên là M bạn quen ngoài xã
hội không biết họ tên địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, khi có căn
cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định của
pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ o khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi
bổ sung năm 2017, điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; các điều 106, 136, 331 và 333 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, miễn,
gim, thu, nộp, quản sử dng án phí lệ p Tòa án
1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Trung D phạm tội Mua bán trái phép chất ma
túy”, phạt bị cáo D 03 năm (ba năm) 06 tháng (sáu tháng) tù, thời hạn tính từ
ngày bị tạm giữ 04 tháng 7 năm 2018.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) để nộp
ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy của bị cáo D 2,3817 gam (hai phẩy ba nghìn tám
trăm mười bảy gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định
2,2967 gam (hai phẩy hai nghìn chín trăm sáu mươi bảy gam) trong phong bì ghi
số 291/KLGĐ.
8
2.2.Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, đã cũ, bị
vỡ màn hình số tiền 1.200.000 đồng nhưng tiếp tục quản đđảm bảo thi
hành án.
2.3. Tịch thu tiêu hủy của bị cáo D 01 n điện tử vỏ màu đen ch
Aosai Pocket Scale, 01 túi nilon kích thước khoảng 10x5 cm bên trong có 30 túi
nilon kích thước khoảng 1,5x1,5 cm mép có viền màu xanh.
2.4. Tch thu nộp ngân ch nhà nưc của bị cáo D stiền 300.000 đồng.
(Theo biên bn giao nhn vt chng, tài sn gia Công an thành ph Ti
Bình, tnh Ti Bình và Chi cc Thinh án dân s tnh ph Tháinh, tnh Thái
Bình ngày 21 tháng 9 m 2018 Biên lai thu tin s 0001311 ngày 21 tháng 9
m 2018 ca Chi cc Thi hành án dân s thành ph Thái nh, tnh Thái Bình).
3. Về án phí: Bcáo D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi nh
án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7,
7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25 tháng 10 năm 2018.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái
Bình;
- quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Thi hành án nh sự Công an
thành phThái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái
Bình;
- Chi cục Thi nh án dân s thành phố
Thái nh, tỉnh Thái nh;
- S Tư pháp tỉnh Thái Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án; VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Việt Hưng
Tải về
Bản án số 163/2018/HS-ST Bản án số 163/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất