Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỏ Cày Bắc (TAND tỉnh Bến Tre)
Số hiệu: 16/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/02/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân giữa ông T và bà D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/02/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Thành Phước
2. Ông Hồ Văn Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày
Bắc công khai xét xử thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ s
189/2023/TLST-HNGĐ
ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp
về nuôi contheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ
ngày 03 tháng 01 năm 2024 quyết định hoãn phiên tòa số 21a/2024/QĐST-
HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Chị Dương Thị D, sinh năm 1990.
Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Anh T có yêu cầu xét xử vắng mặt, chị D vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 26/7/2023, bản tự khai ngày 10/11/2023
các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh n T trình
bày:
Về hôn nhân: anh chị Dương Thị D do quen biết, sau thời gian tìm hiểu
thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân K,
huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/02/2020. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh
phúc đến khoảng tháng 5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là
do vợ chồng không hợp tính tình, thường hay cãi nhau, anh và chị D nhiều mâu
thuẫn về vấn đtiền bạc. Gia đình anh và chị D cũng mâu thuẫn với nhau về
việc con chung và con riêng của anh và chị D. Anh và chị D đã sống ly thân từ đầu
tháng 5/2023 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng anh không có hàn gắn với
nhau, mạnh ai nấy sống. Nay anh xác định tình cảm với chD không còn nên yêu
cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị D ly hôn với nhau.
Về nuôi con chung: anh và chị D một con chung tên Quốc H, sinh
ngày 03/10/2020. Hiện nay con chung đang sống chung với chị D, khi nộp đơn
khởi kiện ly hôn anh yêu cầu nuôi con chung. Tuy nhiên, nay anh thay đổi ý kiến,
đồng ý đcon chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung: anh chị D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về nợ chung: không có.
Bị đơn chị Dương Thị D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên
không có lời khai.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ của mình; bị đơn
chưa thực hiện đúng quy định vnghĩa vụ của mình, cthể còn vắng mặt trong
những lần Tòa án mời.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
của anh Lê Văn T. Về con chung: Chị Dương Thị D được tiếp tục trực tiếp nuôi
con chung là cháu Quốc H, sinh ngày 03/10/2020; anh T không phải cấp dưỡng
nuôi con. Về tài sản chung: anh T chị D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không xem xét; Nợ chung: không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con
được quy định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn Dương Thị D hộ khẩu
thường trú tại xã K, huyện M nên căn cứ khoản 1, Điều 35 và khoản 1, Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre thụ
giải quyết là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn anh Lê Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Dương
Thị D vắng mặt tại phiên tòa không do đã được triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai nên Hội đồng xét xcăn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật ttụng n stiến
hành xét xử vắng mặt anh T và chị D là phù hợp.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn T đối với chị Dương Thị D, Hội đồng
xét xử thấy rằng: anh T chị D kết hôn trên sở tự nguyện đăng kết hôn
tại y ban nhân dân K, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 10/02/2020. Xét thấy,
hôn nhân của anh T và chị D đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn
nhân gia đình nên được xem hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận
bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh T chị D đã thời gian sống hạnh phúc với
nhau một con chung nhưng vì nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn
đến việc anh T xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án, anh T cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tiền bạc, vợ chồng
không thể tiếp tục sống cùng nhau nữa nên anh T chị D đã sống ly thân từ
khoảng tháng 5/2023 đến nay.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng của Tòa án thông báo cho chị D đến Tòa để tham gia các phiên
họp để Tòa án tiến hành hòa giải n nhân cho anh chị nhưng chị D đều vắng mặt
không có lý do, điều này chứng tỏ chị D không có thiện chí hàn gắn hôn nhân cùng
anh T. Theo nội dung tại biên bản xác minh ngày 29/11/2023 với mruột của chị
D Đào Thị H1 thì H1 cho biết: sau khi kết hôn chị D sống bên gia đình
chồng nên vchồng chị D anh T mâu thuẫn cụ thể thế nào không tuy
nhiên từ khoảng trước tết của năm 2023 thì chị D đã dẫn theo con cháu H về
sống cùng bà.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của anh T chị D
thực tế đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh
phúc. Anh T và chị D là vợ chồng nhưng anh chị không quan tâm, giúp đ nhau đ
tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà anh chị lại bỏ mc nhau, đã sống
ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay nên anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền,
nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng
xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu
xin ly hôn của anh T là phù hợp.
[3] Về nuôi con chung: anh T và chị D có một con chung tên Lê Quốc H, sinh
ngày 03/10/2020. Theo trình bày của anh T H1 (mẹ ruột của chị D) thì các
bên đều thống nhất hiện nay cháu H đang sống cùng với chị D, khi ly hôn anh T
đồng ý để chị D tiếp tục nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo
cuộc sống ổn định của cháu H nên để cháu cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng phù
hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Trong q
trình giải quyết vụ án chị D không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề cấp dưỡng
nuôi con do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp chị D muốn
yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con thì thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án trong
một vụ kiện khác.
[4] Về chia tài sản chung: anh T trình bày tài sản chung vợ chồng tự thỏa
thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án chị D
cũng không văn bản trình bày ý kiến vtài sản chung nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết. Trường hợp các bên tranh chấp về tài sản chung thì
chị D vẫn được quyền khởi kiện trong một vụ kiện khác.
[5] Về nợ chung: anh T trình bày không có nên không đề cập.
[6] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Án phí hôn nhân gia đình thẩm: anh T phải chịu theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84
của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn T.
Anh Lê Văn T và chDương Thị D được ly hôn với nhau.
[2] Về con chung: Sau khi ly hôn chị D được quyền trực tiếp tiếp tục nuôi con
chung là cháu Lê Quốc H, sinh ngày 03/10/2020 (hiện nay cháu H đang sống cùng
với chị D), anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự hoặc không có khả năng lao động không tài sản đtự nuôi mình theo quy
định của Luật Hôn nhân gia đình các luật khác liên quan. Người không
trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vthăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh
hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực
tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con
thực hiện các nghĩa vtheo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân gia đình, yêu
cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền
được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình
không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp yêu cầu của cha, mhoặc nhân,
tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật n nhân gia đình, Tòa án có th
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3]. Về chia tài sản: Anh Văn T trình bày tài sản chung tự thỏa thuận
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[4]. Về nợ chung: Anh Lê Văn T trình bày không có nên không đề cập.
[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng
nhưng được trừ vào tiền tạm ng án phí đã nộp tại biên lai thu s0005365 ngày
04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên
anh T không phải nộp thêm.
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu
Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bến Tre;
- VKS nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc;
- Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
- UBND Khánh Thạnh Tân (số 11, ngày
10/02/2020);
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Cao Thanh Minh
Tải về
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất