Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 20/03/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tội cướp giật tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 20/03/2023 của TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ về tội cướp giật tài sản
Tội danh: 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phong Điền (TAND TP. Cần Thơ)
Số hiệu: 16/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/03/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

-
1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
THÀNH PHỐ CẦN T
–––––––––––––––
Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 20/3/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hùng Phước – Ủy viên thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam huyện P
2. Ông Nguyễn Thanh Hải – Nguyên Giám đốc Trung tâm giáo dục
thường xuyên huyện P
- Thư ký phiên tòa: Đinh Thanh Thảo, Thư Tòa án nhân dân huyện
P, thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: ông
Trần Khánh Hỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần
Thơ t x sơ thẩm công khai ván nh s thẩm
th lý số: 09/2023/TLST-HS
ngày 07 tháng 02 năm 2023 theo Quyết đnh đưa v án ra xét x số:
20/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
1. NGUYỄN VŨ TRUNG K, sinh ngày 29/6/2005, tại Hậu Giang;
Nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Thanh V2 (C) và bà Bùi Bích P1 (S);
Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/11/2022 (Có mặt).
2. BÙI THANH P1, sinh ngày 21/9/2007, tại Hậu Giang;
Nơi cư trú: ấp X, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang;
Chỗ ở: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh;
-
2 -
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Bùi Thanh P2 (S) và bà Nguyễn Thị T1 (S);
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
3. TỐNG QUỐC V1 (H), sinh ngày 24/9/2004, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Tống Thành V3 (S) và bà Nguyễn Thị Thanh N (S);
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Người đại diện của bị cáo K: Bùi Bích P2, sinh năm 1982, nơi cư trú: B,
xã L, huyện C, tỉnh Hậu Giang – Có mặt.
- Người đại diện của bị o P1: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986, nơi
trú: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang – Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo K: Trần Hoàng B - Trợ giúp viên pháp lý,
Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Cần Thơ.
- Người bào chữa cho bị cáo P1: Mai Trúc P3 - Trợ giúp viên pháp lý,
Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Cần Thơ.
- Bị hại: Nguyễn Tấn G, sinh năm 1998, nơi trú: ấp Đ, T, huyện P,
thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tống Thành V3, sinh
năm 1978, nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung K, Bùi Thanh P1 Tống Quốc V1 bạn bè, thường
xuyên tụ tập nhưng do không việc làm nên chiều ngày 06/11/2022 K P1
bàn bạc với nhau đi cướp giật tài sản điện thoại di động của người đi đường
để bán lấy tiền tiêu xài làm chi phí đi Đồng Nai tìm việc làm, lúc này mặt
V1 tại nhà của K. K hỏi mượn xe biển số 95D1 082.11, hiệu Exciter
màu trắng xanh của Tống Quốc V1 để đi cướp giật tài sản của người đi đường,
K kêu thay nhông, sên, dĩa thì V1 đồng ý. Sau khi mượn được xe, K chở P1 đi
từ nhà của K thuộc ấp B, L, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến Hẻm Y, đường J,
quận N, thành phố Cần Thơ đgặp bạn. Trên đường về, K tiếp tục bàn bạc với
-
3 -
P1 về việc tìm người đi đường tài sản sẽ cướp giật thì P1 đồng ý nhưng
không phân công công việc cụ thể. Khi cả hai đi đến ngã ba đường C - N thì
nhìn thấy Nguyễn Thị Minh T2 điều khiển xe chở Phan Ngọc T3 đang
dừng xe tại góc đường, T3 ngồi phía sau đang sử dụng điện thoại nên K báo cho
P1. K điều khiển xe chạy đến áp sát xe của T2 còn P1 ngồi phía sau dùng tay
giật được 01 điện thoại di động của T3, cả hai chạy về hướng Quốc lộ F. Khi
vừa qua dốc cầu VX thì K rẽ trái về đường C đi về hướng huyện P, lúc này K
P1 nhìn thấy Nguyễn Tấn G điều khiển xe hiệu Sirius, màu đỏ đen, biển
số 65G1 058.94 vừa điều khiển xe vừa dùng tay sử dụng điện thoại. K
điều khiển xe bám theo G, khi đến gần cầu TN mới thuộc ấp L, thị trấn P, huyện
P, thành phố Cần Thơ thì K vượt xe lên áp sát để cho P1 ngồi sau giật điện thoại
của G, loại Iphone 11 Promax, 64GB, màu đen, ốp lưng bằng nhựa màu xanh rồi
cả hai bỏ chạy về hướng cầu TĐ, G điều khiển xe truy đuổi theo K và P1. Khi cả
hai qua khỏi cầu được một đoạn khoảng 200m thì xe do K điều khiển
ngã xuống đường. Lúc này G điều khiển xe chạy đến cùng người dân
bắt giữ được K P1, cả hai được người dân đưa về Công an thị trấn P làm việc
và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật bị thu giữ gồm: 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Iphone 11
Promax, 64GB, màu đen, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, gắn sim số
0907441656; 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Samsung Galaxy A12, màu
xanh, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, gắn sim số 0949150727; 01 xe
nhãn hiệu Exciter, màu xanh trắng, biển s95D1 082.11; 01 xe hiệu
Sirius, màu đỏ đen, biển số 65G1 – 058.94.
Đối với Tống Quốc V1 thường xuyên đến nhà K chơi. Chiều ngày
06/11/2022 khi nhà của K thì nghe K P1 bàn bạc tìm điện thoại di động
giật để bán lấy tiền tiêu xài. Khi K mượn xe Exciter, màu xanh trắng, biển số
95D1 082.11 kêu đi thay nhông, sên, dĩa tại tiệm sửa xe Đ” với giá
150.000 đồng thì V1 đồng ý. Do V1 không tiền nên đã thế chấp điện thoại di
động của mình lại cho ông Đ, K hứa với V1 là K và P1 sẽ đi cướp giật tài sản về
chuộc lại điện thoại cho V1. V1 nhận thấy có được lợi ích là thay nhông sên, dĩa
mới và chuộc lại điện thoại di động nên V1 đồng ý giao xe cho K sử dụng.
Căn cứ bản kết luận giám định tài sản số 35/KL-HĐ ĐGTS ngày
29/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự
kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax 64GB, màu đen giá trị
10.500.000 đồng 01 ốp lưng điện thoại di động Iphone 11 Promax 64GB,
-
4 -
màu xanh dương giá trị 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 10.550.000
đồng.
Đối với xe biển số 95D1 082.11 phương tiện do ông Tống
Thành V3 (cha ruột của V1) mua lại từ cửa hàng dịch vụ cầm đH, địa chỉ W
đường J, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ vào ngày 24/7/2019 với giá
23.000.000 đồng, làm hợp đồng mua bán nhưng ông V3 chưa làm thủ tục
sang tên. Vào ngày 05/11/2022 ông V3 cho V1 mượn xe để đi chơi, ông V3
không biết V1 cho K P1 mượn xe đsử dụng làm phương tiện đi cướp giật
tài sản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã chuyển nguồn tin tội phạm
cướp giật tài sản xảy ra tại phường B, quận N, thành phố Cần Thơ do K P1
thực hiện tang vật 01 điện thoại di động, hiệu Samsung Galaxy A12, màu
xanh, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, gắn sim số 0949150727 đến quan
Cảnh sát điều tra Công an quận N để điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSPĐ ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Trung K, Bùi
Thanh P1, Tống Quốc V1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều
171 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn cơ sở nội dung vụ án,n cứ vàoc tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phn a, Hội đồng xét xử nhận đnh như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ Trung K khai nhận chiều ngày
06/11/2022 bị cáo bàn với Bùi Thanh P1 đi cướp giật điện thoại để bán lấy tiền
tiêu xài. Bị cáo K mượn xe biển số 95D1 082.11 của Tống Quốc V1,
chở P1 từ ấp B, L, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến quận N giật được 01 điện
thoại của người phụ nữ (tên Phan Ngọc T3). Cả hai tiếp tục đi về hướng P, đến
gần cầu TN mới thuộc ấp L, thị trấn P, K áp sát xe để P1 giật điện thoại di động
của Nguyễn Tấn G (loại Iphone 11 Promax). Khi qua khỏi cầu TĐ thì bị ngã xe,
cả hai bị bắt quả tang cùng tang vật. Theo kết luận định giá tài sản thì tài sản các
bị cáo giật được giá trị 10.550.000 đồng. Lời khai của bị cáo K phù hợp
với lời khai của bị cáo P1, V1, bị hại G (BL 77 - 80) các tài liệu chứng cứ
khác như tang vật thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày
07/11/2022, biên bản khám nghiệm hiện trường…
-
5 -
[2] Hành vi của bị cáo K, P1 dùng xe làm phương tiện áp sát xe
khác đang lưu thông trên đường, giật tài sản đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp
giật tài sản được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Bị cáo
V1 biết bị cáo K, P1 mượn xe để đi cướp giật tài sản của người khác nhưng
vẫn đồng ý cho mượn, bị cáo V1 còn thay nhông, sên, dĩa mới cho xe, đồng thời
K hứa khi giật được tài sản sẽ chuộc lại điện thoại cho V1. Hành vi của bị cáo
V1 đồng phạm với vai trò giúp sức nên phải chịu trách nhiệm theo cùng điều
khoản với bị cáo K, P1. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy t
các bị cáo đúng người, đúng tội. Kiểm sát viên đnghị mức án đối với bị cáo
K từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, bị cáo P1 từ 01 năm 06 tháng đến
02 năm tù, bị cáo V1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
[3] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo K: hoàn cảnh gia đình bcáo
khó khăn, cha mất đã lâu, mẹ đi làm xa nên không điều kiện thường xuyên
dạy dỗ bị cáo, bị cáo chưa thành niên nên nhận thức chưa đầy đủ, đã thành khẩn
khai báo, tài sản được thu hồi trả cho bị hại. Ngoài ra, ông nội của bị cáo
người công với cách mạng nhưng do chưa làm hồ đề nghị công nhận nên
không cung cấp được tình tiết này. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án
nhẹ cho bị cáo.
[4] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo P1: thống nhất về tội danh, điều
khoản truy tố; đề nghị xem xét bị cáo nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình đã ảnh
hưởng đến bị cáo (cha mẹ ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, mẹ bị cáo đang bị bệnh
nặng), điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp, bị cáo thiếu sự quan
tâm dạy dỗ của cha mẹ, từ đó áp dụng mức hình phạt thấp nhất của Kiểm sát
viên đề nghị, tạo điều kiện cho bị cáo về phụ giúp mẹ.
[5] Hành vi của các bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật
bảo vệ, làm ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo tuổi đời đều còn
trẻ, hai bị cáo K, P1 chưa thành niên nhưng hành vi phạm tội rất nghiêm trọng,
cần cách ly các bcáo khỏi hội một thời gian nhằm đảm bảo tác dụng giáo
dục, sửa đổi thành người ích. Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo đều thành
khẩn khai báo mà giảm nhẹ một phần hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt
không có yêu cầu gì khác.
[7] Đối với chiếc xe gắn máy biển số 95D1 082.11 của Tống Thành V3
cho con là bị cáo V1 mượn sử dụng, không biết bị cáo V1 cho các bị K, P1 dùng
-
6 -
vào việc phạm tội nên trả lại ông V3.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung K, Bùi Thanh P1, Tống Quốc V1
phạm tội Cướp giật tài sản.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 101,
Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trung K 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn phạt
tù tính từ ngày 07/11/2022.
Xử phạt: bị cáo Bùi Thanh P1 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tính
từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38,
Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Tống Quốc V1 03 năm tù. Thời hạn phạt tính từ ngày
bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình
sự;
Trả cho Tống Thành V3 01 xe biển số 95D1 082.11, nhãn hiệu
Exciter, màu xanh trắng.
Mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- VKSND Tp. Cần Thơ;
- P.hồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT;
- Sở tư pháp Tp. Cần Thơ;
- VKSND huyện P;
- Chi cục THADS H. P;
- CQĐT Công an H. P;
LIÊNG THỊ HỒNG HOA
- Đội CSTHAHS H.P;
- Lưu HS (2).
Tải về
Bản án số 16/2023/HS-ST Bản án số 16/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất