Bản án số 155/2023/HS-PT ngày 25/05/2023 của TAND cấp cao về tội giết người

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 155/2023/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 155/2023/HS-PT ngày 25/05/2023 của TAND cấp cao về tội giết người
Tội danh: 123.Tội giết người (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao
Số hiệu: 155/2023/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/05/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phạm Văn T tội giết người
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Thái
Các Thẩm phán: ông Trương Công Thi
ông Nguyễn Tấn Long
- Thư phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ s Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng đim cầu thành phần tr s Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lk. Tòa án nhân dân cp cao tại Đà Nẵng m phiên tòa trc tuyến xét xử
phúc thẩm công khai v án hình sự th s62/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng
02 năm 2023 đối với bị cáo Phm n T về tội Giết người” do kháng o
của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2022/HS-ST ngày 22 tháng 12
năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo kháng cáo: Phạm Văn T, sinh năm 1990, tại tỉnh Đồng Tháp;
nơi trú: tỉnh nh Phước; chỗ hiện nay: tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm
nông; dân tộc: Kinh; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Phạm Văn T, sinh m
1959 Dương Thị Ngọc H, sinh m 1961; bị cáo vợ Thị Bích G,
sinh năm 1991 02 con, con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh m 2015; tiền án,
tiền sự: không;
Nhân thân: năm 2020, Phạm Văn T bị xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi
xâm hại đến sức khỏe người khác theo Quyết định xphạt vi phạm hành chính
số 463/QĐ-XPVPHC của Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/7/2022 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T:
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 155/2023/HS-PT
Ngày 25/5/2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
+ Ông Nguyễn Văn N - Luật sư thuộc Công ty luật TNHH MTV D, Đoàn
Luật sư tỉnh Đắk Lắk (Bào chữa theo chỉ định); địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
+ Ông Mai Quốc A - Luật thuộc Văn phòng luật A Đắk Lắk, Đoàn
luật sư tỉnh Đắk Lắk (Bào chữa theo yêu cầu); địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 ngày 12/3/2022, sau khi đi dự đám cưới về Nguyễn Văn
H cùng với Nguyễn Văn Đ; Phan n L, Nguyễn Văn T; Nguyễn Thành T tiếp
tục uống bia trên sập gỗ trước cửa nhà bà Nguyễn Thị T tại Tiểu khu 252, E,
huyện E. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, anh T gọi điện thoại cho bạn anh
Nguyễn Văn N rủ đến nhà T nhậu, anh N điều khiển xe máy chở Phạm Văn
T đến. Trong quá trình ngồi ăn nhậu, T có mời H uống riêng một ly bia nhưng H
uống không hết ly thì xảy ra tranh cãi rồi T cầm ly bia ném vphía H nhưng
không trúng. Lúc này, T H cãi nhau, thách thức đánh tay đôi tđược mọi
người can ngăn. Cả hai đều bỏ đi nơi khác, khi về đến n do bực tức nên
Nguyễn Văn H mang theo 01 tuýp sắt, dài 76,5cm, đường kính 02cm, quay lại
để đánh T. Nhìn thấy H mang theo tuýp sắt, ông Nguyễn Văn R (là bố của H) đi
xe máy theo sau để xem có chuyện gì. H chạy xe máy đến gần chỗ T đang đứng
rồi xuống xe, trên tay cầm theo tuýp sắt đi bộ lại gần thách thức đánh nhau
nên T bỏ chạy vào sân nhà của anh Trần Chí T1. H chạy theo vào sân thì T chạy
vào bên trong nhà anh T1 để trốn. Sau đó, H quay ra đi lên phía đường đứng thì
T đi vòng ra phía sau, bên trái căn nhà rồi đi lên khu vực trước sân. Thấy vậy, H
cầm tuýp sắt đi vào trong sân về phía T nên T nhặt 01 cây gỗ dài khoảng 1,5m,
loại gỗ xẻ 04 cạnh vuông. Tại đây, H đứng đối diện T, tay cầm tuýp sắt chỉ trỏ,
thách thức thì btrượt chân, ngã sấp về phía trước, T liền cầm cây gỗ đánh 01
cái trúng vào vùng vai trái làm H nằm gục xuống đất. T tiếp tục cầm gậy đánh
01 cái trúng vào vùng lưng, vai của H thì cây gỗ gãy làm đôi, một phần văng ra
sân, phần còn lại T vẫn cầm trên tay. Lúc này, ông L chạy tới can ngăn, đẩy T
ra. Còn ông Nguyễn Văn R thấy con mình bị đánh nên chạy từ ngoài đường vào
sân, đng đối diện T thách thức thì T liền giơ gậy gỗ lên cao, đánh theo
hướng từ phải qua trái 01 cái trúng vào vùng thái dương trái làm ông R ngã gục
xuống đất theo tư thế nằm nghiêng bên trái. T tiếp tục cầm gậy gỗ đánh tiếp một
cái trúng vào vùng mặt bên phải của ông R tông L liền can ngăn, kéo T đi ra
đường, T vứt cây gậy gỗ xuống sân nhà anh T1. Sau đó, ông L lấy xe máy chở
T đi về nhà còn ông R H được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.
3
Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 402/TgT-TTPY ngày
26/4/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận tỷ lphần trăm tổn
thương cơ thể của ông Nguyễn Văn R hiện tại là 15%; vật tác động: Vật tày
Tại Bản kết luận giám định Pháp y vthương tích số 833/TgT-TTPY ngày
19/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận thương tích của
Nguyễn Văn H hiện tại là 02%; vật tác động: Vậty
Tại Bản án hình sự thẩm số 136/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 11 (Mười một) năm . Thời hạn chấp hành
hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩmn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong thi hn luật định, ngày 26/12/2022 b cáo Phạm Văn T Đơn
kháng cáo, với ni dung: xin gim nh hình phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bcáo Phạm Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị xem xét
giảm nhẹ hình phạt đối với Bị cáo;
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật - Nguyễn Văn Nghị bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T thống nhất
về tội danh đối với bị cáo. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo một
phần lỗi của bhại do Nguyễn Văn H dùng hung kđánh bị cáo trước, ông
Nguyễn Văn R bố của H lại thách thức, chửi bởi bị cáo dẫn đến bị cáo bức
xúc đã dùng gậy đánh ông R. Hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ theo
điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành
khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo gia đình khó khăn,
các con còn nhỏ, bị cáo lao động chính trong gia đình. Do đó, Tòa án cấp
thẩm xử phạt bị cáo Phạm Văn T 11 (Mười một) năm nặng. Đề nghị Hội
đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Sau khi nghe: bị cáo trình bầy nội dung kháng cáo; quan điểm của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án; căn
cứ bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi
thảo luận và nghị án.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án; căn cứ các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Phiên tòa lần 2, người bào cha theo yêu cầu cho b cáo
Phạm Văn T Luật - Mai Quc A vng mt. B cáo đại din vin kim
sát đề ngh tiếp tục xét xử v án; Hội đồng xét x căn cứ đim a khoản 1 Điều
351 B lut t tụng hình sự quyết định xét x v án.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo Phạm Văn T khai nhận tội, đối chiếu thấy
phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng
xét xđủ căn cứ kết luận: ngày 12/3/2022, tại nhà của ông Trần Chí T1
Tiểu khu 252, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk mặc dù không có mâu thuẫn với ông
Nguyễn Văn R nhưng bị cáo T đã dùng gậy gđánh 01 cái trúng vào vùng thái
dương trái 01 cái vào vùng mặt của ông R. Hậu quả, ông R bị nứt sọ thái
dương trái vết thương vùng phải, tổn thương 15% sức khỏe. Bị cáo
người đầy đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi, biết việc dùng gậy gỗ
đánh liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu, mặt là những vị trí trọng yếu trên thể
của người bị hại có khả năng dẫn đến hậu quả chết người nhưng bị cáo vẫn thực
hiện. Người bị hại không chết là do được can ngăn và cấp cứu kịp thời.
Hành vi phạm ti ca b cáo đặc biệt nghiêm trọng nguy him cho
hi, xâm hi tính mạng ca người khác, th hin vic coi thường pháp luật,
không ch gây thit hi v sc khe cho b hại còn làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tình hình trật t, tr an tại địa phương, gây hoang mang lo lng trong
quần chúng nhân dân. Bản án hình sự thẩm s 136/2022/HS-ST ngày
22/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên bố bị cáo Phạm Văn T
phạm tội “Giết người”. Tội phạm hình phạt được quy định tại điểm n, khoản
1 Điu 123 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn T thì
thy: khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, bản án thẩm đã đánh giá đúng
tính chất, mức đ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; xem xét
về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị
cáo.
- Về nhân thân: năm 2020, Phạm Văn T bị Ủy ban nhân dân E, huyện
E, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người
khác, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 463/QĐ-XPVPHC. T
chấp hành xong hình phạt tiền (ngày 01/12/2020) tính đến ngày 12/3/2022 T
phạm tội mới đã quá thời hạn 1 năm nên được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành
chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
5
- Về tình tiết tăng nặng: bcáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
- Về Tình tiết giảm nhẹ: q trình điều tra, truy tố, xét xử b o đã thành
khẩn khai báo hành vi phạm ti của mình, sau khi phạm tội đã c động gia đình
bồi thưng khc phục toàn bộ thit hại cho người b hại được b hi xin gim
nh hình phạt cho b o. Bn án sơ thẩm đã áp dụng quy định tại điểm b, s khon
1, khon 2 Điều 51 áp dng thêm quy đnh ti khoản 1 Điều 54 B luật Hình
s để xét xử đối vi bị cáo là căn cứ. Mt khác, ni b hại không chết
ch b tổn thương 15% sc khỏe, nên thuộc trưng hp phm tội chưa đạt theo
quy định Điều 15 khoản 3 Điều 57 B luật hình sự. Do đó, Bn án thm
quyết định hình phạt dưi mc thp nht của khung hình phạt mà bị cáo đã phạm
(quy định ti đim n khon 1 Điu 123 B luật Hình sự 2015 mc hình pht
t 12 năm đến 20 năm, chung thân hoc t hình” ) xử pht b cáo
Phạm Văn T 11 năm về tội Giết người” tương xứng với tính chất mức độ
và hậu qu do hành vi phạm ti ca b cáo. Sau khi xét x sơ thẩm, bị cáo kháng
cáo xin giảm nhhình phạt nhưng không tình tiết giảm nhẹ khác. Hội đồng
xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng đúng căn cứ pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt của bị cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
[4] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Văn T
phải chịu án p hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 B lut t tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T giữ nguyên Bản
án hình sự thẩm số 136/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 11 (Mười một) năm về tội “Giết người”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/7/2022.
2. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí l
phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
6
3. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao V KT I;
- VKSNDCC ti Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Đắk Lk;
- VKSND tỉnh Đắk Lk;
- S Tư pháp tỉnh Đắk Lk;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đk Lk;
- Cơ quan CSĐT, Phòng HSNV-CA
tỉnh Đắk Lk;
- Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Đắk Lk;
- B cáo (qua Tri tm giam);
- Lưu: HSVA; LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THM
THẨM PHÁN – CH TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phm Ngọc Thái
Tải về
Bản án 155/2023/HS-PT Bản án 155/2023/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 155/2023/HS-PT Bản án 155/2023/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất