Bản án số 153/2022/DS-PT ngày 14/10/2022 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 153/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 153/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 153/2022/DS-PT ngày 14/10/2022 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 153/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/10/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông L khởi kiện ông H, ông Q đến Tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bà P để lại. Bản án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Giang L về việc “Chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” đối với ông Vũ Minh Q và Vũ Thanh H. Ông Vũ Minh Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tục. Ông Q đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy Bản án dân sự sơ thẩm. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TỈNH ĐỒNG NAI Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Bản án số:153/2022/DS-PT
Ngày: 14-10-2022
V/v:“Tranh chấp chia tài sản chung
và chia di sản thừa kế”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung.
Ông Ngô Thanh Sỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi – Thư ký TAND tỉnh Đồng
Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Hồng Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2022/TLPT-DS ngày 26 tháng 8 năm
2022về việc “Tranh chấp tài sản chung và chia di sản thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của Tòa án
nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số137/2022/QĐ-PT ngày 29
tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 284/2022/QĐ-PT ngày
14 tháng 9 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 316/2022/QĐ-PT
ngày 04 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Giang L, sinh năm 1958.
Trú tại: khu phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: 97A đường N, phường X, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Giang L (Theo Hợp đồng ủy quyền
ngày 26/11/2021): Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1976; địa chỉ liên hệ: 97A
đường N, phường X, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Vũ Thanh H, sinh năm 1984.
2. Ông Vũ Minh Q, sinh năm 1990.
Cùng trú tại: khu phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Chu Thị Kim O, sinh năm 1990.
2. Cháu Vũ Hoàng Kim V, sinh năm 2016.
3. Cháu Vũ Hoàng Trúc K, sinh năm 2016.
4. Bà Cao Thị C, sinh năm 1997.
5. Cháu Vũ Hoàng Gia G, sinh năm 2018.
Cùng trú tại: 92/67, khu phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Thanh H, ông Vũ Minh Q, bà Chu
Thị Kim O và bà Cao Thị C (Theo giấy ủy quyền ngày 26/5/2020):
Ông Nguyễn Huy N, sinh năm 1986; địa chỉ: khu phố Y, đường số 8, phường
H, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ liên hệ: đường L, Melosa
Garden, phường P, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của ông Vũ Giang L; bản tự khai và lời trình bày trong
quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền
của ông L:
Ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị P là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm
1982. Trong quá trình chung sống ông L và bà P có tạo dựng khối tài sản chung
gồm đất và một số tài sản gắn liền trên đất như sau:
- Về đất: diện tích 431,1m
2
thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 21 phường T,
thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 6154/2020 ngày
06/11/2020 được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1; mục đích sử dụng: ODT
+ BHK; quy hoạch: diện tích nằm trong quy hoạch đất ở hiện hữu 159,1m
2
và diện
tích nằm trong quy hoạch đất giao thông 272m
2
). Theo Chứng thư Thẩm định giá số
45/TĐG-CT ngày 30/3/2021 của Công ty cổ phần Thẩm định giá R thì diện tích đất
trên có giá trị là 4.444.851.000 đồng.
- Về nhà:
+ Nhà ở 1: Diện tích 70,56m
2
; kết cấu: móng, cột gạch + bê tông cốt thép. Sê
- nô bê tông cốt thép; xà gồ sắt + gỗ, mái tôn; trần thạch khung nổi; tường gạch dày
100 + 200 (mm), sơn nước; nền gạch ceramic; cửa đi chính + cửa sau khung sắt
kính (chất lượng còn lại 75%). Có giá trị là 158.760.000 đồng.
+ Nhà ở 2: Diện tích 69,51m
2
; kết cấu: móng, cột gạch; xà gồ sắt + mái tôn;
trần thạch cao khung chìm; tường gạch dày 100 + 200 (mm), sơn nước; nền gạch
ceramic; cửa đi sắt kính; bếp: thành xây gạch, kệ đan bê tông cốt thép, mặt ốp đá
granite; vệ sinh: tường gạch dày 200mm, ốp gạch ceramic, trần bê tông cốt thép,
nền gạch ceramic nhám, cửa đi nhựa, lavabo, xí bệt (chất lượng còn lại 75%). Có
giá trị là 182.463.750 đồng.
+ Mái che trước: kết cấu xà gồ sắt, mái tôn, nền gạch ceramic (chất lượng còn
lại 60%). Có giá trị là 4.890.600 đồng.
+ Nhà làm miến: kết cấu móng, cột gạch + cột sắt tròn, xà gồ sắt + gỗ, mái
tôn + fibro xi măng, trần tôn lạnh, tường gạch dày 100mm tô trát, nền xi măng (chất
lượng còn lại 60%). Có giá trị là 28.483.200 đồng.
+ Nhà kho: kết cấu cột + xà gồ gỗ, mái tôn, vách tôn + fibro xi măng, nền đất
(chất lượng còn lại 45%). Có giá trị là 2.898.000 đồng.
+ Hồ ngâm bột: số lượng 04 hồ; hồ 1: thể tích 2,85m
3
; hồ 2: thể tích 2,23m
3
;
hồ 3: thể tích 2,16m
3
; hồ 4: thể tích 1,55m
3
; kết cấu chung: thành gạch tô trát, đáy
bê tông cốt thép láng xi măng + đáy gạch láng xi măng (chất lượng còn lại 40%).
Có giá trị là 4.200.000 đồng.
+ Cổng + hàng rào: kết cấu trụ sắt tròn; cổng chính khung song sắt lùa + 01
cánh mở dài 2,9m; cổng phụ khung song sắt 02 cánh dài 2,4m; hàng rào khung song
sắt cao 2,2m (chất lượng còn lại 75%). Có giá trị là 9.240.000 đồng.
+ Giếng đào: kết cấu đào sâu 07m, đường kính 01m; nắp đậy BTCT (chất
lượng còn lại 60%). Có giá trị là 2.100.000 đồng.
3
Ông L và bà P có 02 con chung là Vũ Thanh H, sinh năm 1984 và Vũ Minh
Q, sinh năm 1990. Ngoài ra cả hai không có con riêng, con nuôi nên hàng thừa kế
thứ nhất của bà P chỉ có ông L, ông H và ông Q.
Năm 2014 bà P chết không để lại di chúc. Sau khi bà P chết giữa ông L và
ông H, ông Q xảy ra mâu thuẫn và ông H, ông Q đã thay đổi ổ khóa không cho ông
L vào nhà. Do đó ông L khởi kiện ông H, ông Q đến Tòa án yêu cầu giải quyết các
vấn đề sau:
- Yêu cầu Tòa án giải quyết chia cho ông L ½ khối tài sản chung giữa ông L
và bà P gồm nhà và đất như đã nêu trên.
- Chia thừa kế phần di sản của bà P để lại là ½ nhà và đất như đã nêu trên. Cụ
thể ông L yêu cầu được chia 1/3 phần di sản của bà P để lại.
Ông L yêu cầu được nhận số tài sản chia bằng hiện vật và đồng ý thanh toán
lại cho ông H và ông Q giá trị phần di sản thừa kế của bà P theo giá của chứng thư
thẩm định giá số 45/TĐG-CT ngày 30/3/2021 của Công ty cổ phần Thẩm định giá
R.
Theo chứng thư thẩm định giá thì tổng giá trị tài sản gồm nhà và đất là
4.837.886.550 đồng. Trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 4.444.851.000 đồng và
công trình xây dựng trên đất đã qua sử dụng là 393.035.550 đồng. Ông L được
hưởng ½ khối tài sản chung với bà P là 2.418.925.500 đồng nên giá trị phần di sản
của bà P là 2.418.925.500 đồng sẽ được chia làm ba phần, cụ thể: ông L, ông H và
ông Q mỗi người được hưởng 806.308.500 đồng. Ông L xin được nhận toàn bộ nhà,
đất và đồng ý thanh toán lại cho ông H và ông Q mỗi người 806.308.500 đồng,
đồng thời yêu cầu ông H và ông Q phải bàn giao toàn bộ tài sản là nhà và đất nêu
trên cho ông L sở hữu, sử dụng.
*Theo lời trình bày của ông Nguyễn Huy N là người đại diện theo ủy quyền
của các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị P là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm
1982. Quá trình chung sống cả hai đã tạo lập được khối tài sản chung gồm nhà và
đất như đại diện nguyên đơn trình bày ở trên (nhà và các công trình khác gắn liền
với phần diện tích đất 431,1 m
2
thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 21 phường T,
thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Ông L và bà P có 02 con chung là Vũ Thanh H, sinh
năm 1984 và Vũ Minh Q, sinh năm 1990. Ngoài ra cả hai không có con riêng, con
nuôi nên hàng thừa kế thứ nhất của bà P chỉ có ông L, ông H và ông Q.
Việc ông L yêu cầu chia tài sản chung giữa ông L với bà P cùng với việc chia
thừa kế phần di sản bà P để lại thì ông H và ông Q không đồng ý. Bởi lẽ khi gia
đình xảy ra mâu thuẫn ông L đã tự dọn ra ngoài ở và nhiều lần ông H, ông Q đón
ông L về nhưng ông L nhất quyết không về.
Trong quá trình khởi kiện, ông L đã có hành vi gian dối là đề nghị cơ quan có
thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù trên thực tế giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông L và bà P vào năm 2007 hiện ông Q
đang cất giữ. Hiện tại Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đồng Nai đã có kết luận tại văn bản số 4556/VPĐK-ĐKTK ngày
18/6/2021 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L là không đúng
quy định và đang lập thủ tục thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT
185675 cấp ngày 17/10/2019 cho ông L và bà P.
Ngoài ra, vào ngày 25/02/2019 ông L đã tự ý ký hợp đồng đặt cọc với ông
4
Phạm Minh M về việc chuyển nhượng nhà và đất nêu trên cho ông M với giá
5.000.000.000 đồng, ông L đã nhận của ông M số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng.
Do vậy việc ông L ký hợp đồng đặt cọc với ông M để chuyển nhượng nhà đất khi
chưa có sự đồng ý của ông H và ông Q là không phù hợp với quy định của pháp luật
vì đây là tài sản chung của các đồng thừa kế.
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông H và ông Q, ông N đề
nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung và chia di
sản thừa kế” do ông L khởi kiện theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 214 của Bộ
luật Tố tụng dân sự vì những lý do:
Tòa án nhân dân thành phố B đã thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
số 848/2020/TLST-DS ngày 23/12/2020 giữa nguyên đơn ông Phạm Minh M và bị
đơn ông Vũ Giang L. Ông H và ông Q là những người tham gia tố tụng trong vụ án
“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”,như vậy hiện đang tồn tại 02 vụ án song song có
liên quan mật thiết với nhau về đối tượng tranh chấp và hai vụ án này chưa xác định
tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên việc xét xử vụ án “Tranh chấp
chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng
thừa kế. Ngoài ra ông L còn có hành vi gian dối đề nghị cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với tài sản đang tranh chấp và vụ việc này ông Q đang khởi
kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của Tòa án
nhân dân thành phố Bđã căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271,
khoản 1 Điều 273, Điều 165 và Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 115, 207, 219, 649, 650 và 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 66 của
Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí
Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Giang L về việc
“Chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” đối với ông Vũ Minh Q và Vũ Thanh H.
Chia tài sản chung và chia di sản thừa kế gồm quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với quyền sử dụng đất là nhà thuộc thửa số 60, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại
phường T, thành phố B theo bản đồ địa chính và hiện trạng được giới hạn bởi các
điểm (1,2,3,4,5,6,7,1) có diện tích 431,1 m
2
theo bản đồ hiện trạng khu đất số
6154/2020 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai-Chi nhánh thành phố B
thực hiện ngày 06/11/2020 cho ông Vũ Giang L, Vũ Thanh H và Vũ Minh Q, cụ
thể:
Ông Vũ Giang L được chia tài sản chung có trị giá là 2.418.925.500đ (hai tỷ
bốn trăm mười tám triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm đồng) và chia di
sản thừa kế có trị giá là 806.308.500đ (tám trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn
năm trăm đồng) theo kết quả thẩm định giá của Công ty R số 45/TĐG-CT ngày
30/3/2021.
Ông Vũ Minh Q được chia di sản thừa kế trị giá là 806.308.500đ (tám trăm lẻ
sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng) theo kết quả thẩm định giá của Công
ty R số 45/TĐG-CT ngày 30/3/2021.

5
Ông Vũ Thanh H được chia di sản thừa kế trị giá là 806.308.500đ (tám trăm
lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng) theo kết quả thẩm định giá của
Công ty R số 45/TĐG-CT ngày 30/3/2021.
Giao cho ông Vũ Giang L được quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
quyền sử dụng đất là nhà tại thửa số 60, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường T, thành
phố B theo bản đồ địa chính và hiện trạng được giới hạn bởi các điểm (
1,2,3,4,5,6,7,1) có diện tích 431,1 m
2
theo bản đồ hiện trạng khu đất số 6154/2020
do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai-Chi nhánh thành phố B thực hiện
ngày 06/11/2020.
Ông Vũ Giang L được liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật.
Ông Vũ Thanh H, ông Vũ Minh Q, bà Chu Thị Kim O, bà Cao Thị C, cháu
Vũ Hoàng Kim V, cháu Vũ Hoàng Trúc K, cháu Vũ Hoàng Gia G được quyền lưu
cư trong thời hạn 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Vũ Giang L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Vũ Thanh H số tiền
806.308.500đ (tám trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
Ông Vũ Giang L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Vũ Minh Q số tiền
806.308.500đ (tám trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
2.Về chi phí tố tụng:
Ông Vũ Minh Q và ông Vũ Thanh H có nghĩa vụ trả lại chi phí thẩm định giá
cho ông Vũ Giang L, mỗi người trả lại 19.750.000đ (mười chín triệu bảy trăm năm
mươi nghìn đồng).
3.Về án phí:
- Ông Vũ Giang L được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
- Ông Vũ Minh Q và ông Vũ Thanh H mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm là 58.283.882đ (năm mươi tám triệu hai trăm tám mươi ba nghìn tám trăm tám
mươi hai đồng).
4. Kiến nghị văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai thuộc Sở tài nguyên
và môi trường thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 855995 cấp ngày
26/12/2007 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mới lại số CT 185675
cấp ngày 17/10/2019 cho ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị P để cấp lại cho đương
sự theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày13/6/2022,ông Vũ Minh Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ
thẩm vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tục. Ông
Q đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án
dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố
B.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Về việc tuân theo
pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu
cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất tại thửa số 60, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng
Nai, cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ
6
Giang L về việc “Chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” là có căn cứ phù hợp
pháp luật, bởi lẽ:
Ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị P là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm
1982. Trong quá trình chung sống ông L và bà P có tạo dựng khối tài sản chung
gồm nhà và đất tại thửa số 60, tờ bản đồ số 21 có diện tích là 431,1m
2
, tọa lạc tại
phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Theo chứng thư thẩm định giá tài sản số 45
ngày 30/3/2021 của Công ty cổ phần Thẩm định giá tài sản R thì tổng trị giá tài sản
nhà và đất tại thửa số 60, tờ bản đồ 21 phường T, thành phố B có trị giá là
4.837.886.550đ. Trong đó trị giá quyền sử dụng đất là 4.444.851.000đ và công trình
đã qua sử dụng là 393.035.550đ. Ông L được hưởng 1/2 khối tài sản chung giữa
ông và bà P là 2.418.925.500đ. Di sản thừa kế của bà P có giá trị là 2.418.925.500đ
được chia làm ba phần, cụ thể: ông L, ông Q và ông H mỗi người được hưởng
806.308.500đ. Do ông L được hưởng phần lớn về tài sản nên chia cho ông L bằng
hiện vật là nhà và đất. Ông L có trách nhiệm thanh toán lại cho ông H và ông Q mỗi
người 806.308.500đ, đồng thời buộc ông Q và ông H và những người đang sinh
sống tại nhà đất nêu trên phải có nghĩa vụ bàn giao lại tài sản nhà và đất cho ông L
quản lý và sử dụng.
Ông Q kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Phạm Minh M
là người ký hợp đồng đặt cọc với ông L đối với thửa đất trên vào tham gia tố tụng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định việc ông L và ông M lập hợp đồng đặt cọc ngày
25/02/2019 thì ông M đã khởi kiện và Tòa án nhân dân thành phố B đã thụ lý vụ án
tranh chấp hợp đồng đặt cọc, vụ án này không liên quan đến yêu cầu chia tài sản
chung và chia di sản thừa kế mà ông L khởi kiện, việc ông L nhận tiền đặt cọc của
ông M thì ông L sẽ chịu trách nhiệm. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông M vào
tham gia tố tụng đồng thời không tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo yêu cầu của bị
đơn là đúng quy định của pháp luật. Do đó kháng cáo của ông Q về nội dung này là
không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí DSST: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung và chia di
sản thừa kế nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì
việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Q và ông H mỗi người phải chịu án phí về việc
chia tài sản chung 40.189.255 đồng là không đúng quy định mà ông Q, ông H chỉ
phải chịu án phí đối với giá trị phần tài sản được chia là 806.308.500đ và án phí mỗi
người chỉ phải chịu là 18.094.627đ. Ông Vũ Giang L là người cao tuổi thuộc trường
hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng (Chi phí thẩm định giá): Theo quy định tại khoản 2 Điều
165 BLTTDS quy định thì việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn ông Q, ông H phải
chịu toàn bộ chi phí tố tụng (chi phí thẩm định giá) với số tiền 39.500.000đ, ông Q
và ông H mỗi người phải trả lại cho ông L số tiền 19.750.000đ do ông L đã tạm ứng
mà không buộc ông L phải chịu chi phí tố tụng là trái với quy định trên. Do vậy,
ông L phải chịu chi phí tố tụng với số tiền 24.334.000đ; ông Q và ông H mỗi người
phải chịu chi phí tố tụng với số tiền 6.084.000đ. Do ông L đã tạm ứng trước nên
ông Q và ông H phải có trách nhiệm thanh toán lại cho ông L. Do đó, chấp nhận
một phần kháng cáo của ông Q về phần án phí và chi phí tố tụng.
7
Bởi các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần
kháng cáo của ông Q. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày
31/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố
tụng. Bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Vũ Minh Q trong hạn luật định
và ông Q cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy địnhnên được chấp nhận xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm xác định
đúng và đầy đủ.
[3]Về nội dung kháng cáo:
Qua các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ và qua lời trình bày của các bên đương
sự có căn cứ xác định toàn bộ số tài sản gồm nhà ở 1, nhà ở 2, mái che trước, nhà
làm miến, nhà kho, hồ ngâm bột, cổng + hàng rào và giếng đào gắn liền với phần
đất có diện tích 431,1 m
2
thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 21 phường T, thành phố
B là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị P.
Bà P chết vào năm 2014 không để lại di chúc nên hàng thừa kế thứ nhất của bà P
gồm có ông L và 02 người con của ông L và bà P là ông Vũ Minh Q và ông Vũ
Thanh H (do ông L và bà P không có con riêng và con nuôi) nên việc ông L khởi
kiện yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với phần đất và toàn bộ
tài sản trên đất như đã nêu trên là có căn cứ, đúng với quy định pháp luật. Như vậy,
việc ông L yêu cầu được chia tài sản chung là ½ phần diện tích đất và ½ số tài sản
trên đất cũng như chia thừa kế phần di sản của bà P để lại là ½ phần diện tích đất và
½ số tài sản trên đất, đồng thời ông L xin được nhận bằng hiện vật và đồng ý thanh
toán lại giá trị phần di sản thừa kế của bà P cho ông H và ông Q cũng là phù hợp.
Theo chứng thư thẩm định giá tài sản số 45/TĐG-CT ngày 30/3/2021 của
Công ty cổ phần Thẩm định giá R thì tổng trị giá đất và tài sản trên đất là
4.837.886.550 đồng. Trong đó trị giá quyền sử dụng đất là 4.444.851.000 đồng và
công trình đã qua sử dụng (tài sản trên đất) là 393.035.550 đồng. Ông L được
hưởng ½ khối tài sản chung với bà P là 2.418.925.500 đồng. Phần di sản thừa kế
của bà P là 2.418.925.500 đồng được chia làm ba phần nên ông L, ông H và ông Q
mỗi người được hưởng 806.308.500 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông L, chia cho ông L quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ thửa
đất và tài sản trên đất, buộc ông L phải thanh toán lại cho ông H và ông Q mỗi
người 806.308.500 đồng là đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm
buộc ông H, ông Q phải có nghĩa vụ bàn giao thửa đất và toàn bộ tài sản trên đất
cho ông L và cho ông H, ông Q, bà Chu Thị Kim O, bà Cao Thị C, cháu Vũ Hoàng
Kim V, cháu Vũ Hoàng Trúc K, cháu Vũ Hoàng Gia G được quyền lưu cư lại trên
nhà và đất đã giải quyết giao cho ông L sở hữu, sử dụng như đã nêu trên trong thời
hạn 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cũng là phù hợp.
[4]Đối với kháng cáo của ông Q đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án
nhân dân thành phố B đã thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” số
848/2020/TLST-DS ngày 23/12/2020 giữa nguyên đơn ông Phạm Minh M và bị
8
đơn ông Vũ Giang L. Ông H và ông Q là những người có tham gia tố tụng trong vụ
án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” nên 02 vụ án đang tồn tại song song và có liên
quan mật thiết với nhau về đối tượng tranh chấp, đồng thời cả hai vụ án đều chưa
xác định đủ tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên việc xét xử vụ án
“Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi
của các đồng thừa kế. Ngoài ra ông L còn có hành vi gian dối trong việc kê khai cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản đang tranh chấp và vụ việc
này đang được ông Q khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai là không có căn
cứ để xem xét chấp nhận, bởi lẽ:
Tại văn bản số 4556/VPĐK-ĐKTK ngày 18/6/2021 của Văn phòng Đăng ký
Đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai đã có kết luận về việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L là không đúng quy định và lập
thủ tục thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT185675 cấp ngày
17/10/2019 cho ông L và bà P. Đồng thời, bản chất của vụ án là chia tài sản chung
và chia di sản thừa kế mà tài sản ông L yêu cầu chia được xác định là tài sản do ông
L, bà P tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông L,
bà P nên việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trên cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Ngoài ra, đối với việc ông L lập hợp đồng đặt cọc và nhận tiền cọc từ ông
Phạm Minh M vào ngày 25/02/2019. Xét thấy vào ngày 20/11/2020, ông M đã khởi
kiện ông L yêu cầu trả lại tiền đặt cọc và Tòa án nhân dân thành phố B đã thụ lý vụ
án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” số 848/2020/TLST-DS ngày 23/12/2020 giữa
nguyên đơn là ông M và bị đơn là ông L. Do ông M chỉ khởi kiện “Tranh chấp hợp
đồng đặt cọc” với ông L và cũng chỉ yêu cầu một mình ông L phải trả lại cho ông M
số tiền cọc 1.000.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc ông M tranh
chấp hợp đồng đặt cọc với ông L không liên quan đến việc chia tài sản chung và
chia di sản thừa kế là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm nhận địnhdo yêu cầu khởi kiện của
ông L được chấp nhận nên ông Q và ông H phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền
39.500.000 đồng chi phí tố tụng cho ông L là không đúng theo quy định tại khoản 2
Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về phần chi phí tố
tụng cụ thể như sau: Ông L phải chịu với số tiền là 26.333.333 đồng, ông Q và ông
H mỗi người phải chịu với số tiền là 6.583.333 đồng. Do ông L đã nộp số tiền chi
phí tố tụng nên cần buộc ông Q và ông H mỗi người phải thanh toán lại cho ông L
số tiền 6.583.333 đồng.
[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do yêu cầu khởi kiện chia
tài sản chung của ông L được chấp nhận nên ông Q và ông H phải chịu toàn bộ số
tiền án phí chia tài sản chung mà ông L được hưởng là không đúng với quy định.Do
vậy, cần sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí, cụ thể là ông Q và ông H mỗi
người chỉ phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản được chia là
18.094.627đồng. Đồng thời, căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
9
Tòa án, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung và chia di sản
thừa kế cho ông L.
[7]Về cách tuyên: Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên “Ông Vũ
Giang L được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật” mà lại “Kiến nghị
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 855995 cấp ngày 26/12/2007 và
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mới lại số CT 185675 cấp ngày
17/10/2019 cho ông Vũ Giang L và bà Phạm Thị P” là không cần thiết. Đồng thời,
bản án sơ thẩm chỉ tuyên giao cho ông L được quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đấtlà không cụ thể, sẽ gây khó khăn cho công tác thi hành án sau này nên cần sửa
lại cách tuyên của bản án sơ thẩm.
[8]Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Qđược chấp nhận một
phần nên ông Qkhông phải chịu; hoàn trả lại cho ông Q số tiền 300.000đồngtạm
ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0003284 ngày 15 tháng 6 năm 2022
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
[9]Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với
nhân định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Vũ Minh Q.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 31-5-2022 của Toà án
nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai về phần chi phí tố tụng, về án phí dân sự sơ
thẩm và cách tuyên.
Căn cứ các điều 115, 207, 219, 649, 650 và 651 của Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 66 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Giang L về việc “Chia tài sản
chung và chia di sản thừa kế” đối với ông Vũ Minh Q và Vũ Thanh H.
Chia tài sản chung và chia di sản thừa kế gồm quyền sử dụng thửa đất số 60,
tờ bản đồ số 21 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và toàn bộ tài sản gắn liền
với đất cho ông Vũ Giang L, ông Vũ Thanh H và ông Vũ Minh Q, cụ thể:
Ông Vũ Giang L được chia tài sản chung có trị giá là 2.418.925.500 đồng
(Hai tỷ bốn trăm mười tám triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm đồng) và
được chiadi sản thừa kế có trị giá là 806.308.500 đồng (Tám trăm lẻ sáu triệu ba
trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
Ông Vũ Minh Q được chia di sản thừa kế có trị giá là 806.308.500đ (Tám
trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
Ông Vũ Thanh H được chia di sản thừa kế có trị giá là 806.308.500đ (Tám
trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
Trị giá tài sản trên được tính Theo Chứng thư Thẩm định giá số 45/TĐG-CT
ngày 30/3/2021 của Công ty cổ phần Thẩm định giá R.
Giao cho ông Vũ Giang L được quyền sử dụng 431,1m
2
đất thuộc thửa đất số
60, tờ bản đồ số 21, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo Bản đồ hiện trạng
10
khu đất số 6154/2020 ngày 06/11/2020 được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
1; mục đích sử dụng: ODT + BHK; quy hoạch: diện tích nằm trong quy hoạch đất ở
hiện hữu 159,1m
2
và diện tích nằm trong quy hoạch đất giao thông 272m
2
) và được
quyền sở hữu số tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất trên gồm:
- Nhà ở 1: Diện tích 70,56m
2
; kết cấu: móng, cột gạch + bê tông cốt thép. Sê
- nô bê tông cốt thép; xà gồ sắt + gỗ, mái tôn; trần thạch khung nổi; tường gạch dày
100 + 200 (mm), sơn nước; nền gạch ceramic; cửa đi chính + cửa sau khung sắt
kính.
- Nhà ở 2: Diện tích 69,51m
2
; kết cấu: móng, cột gạch; xà gồ sắt + mái tôn;
trần thạch cao khung chìm; tường gạch dày 100 + 200 (mm), sơn nước; nền gạch
ceramic; cửa đi sắt kính; bếp: thành xây gạch, kệ đan bê tông cốt thép, mặt ốp đá
granite; vệ sinh: tường gạch dày 200mm, ốp gạch ceramic, trần bê tông cốt thép,
nền gạch ceramic nhám, cửa đi nhựa, lavabo, xí bệt.
- Mái che trước: kết cấu xà gồ sắt, mái tôn, nền gạch ceramic.
- Nhà làm miến: kết cấu móng, cột gạch + cột sắt tròn, xà gồ sắt + gỗ, mái tôn
+ fibro xi măng, trần tôn lạnh, tường gạch dày 100mm tô trát, nền xi măng.
- Nhà kho: kết cấu cột + xà gồ gỗ, mái tôn, vách tôn + fibro xi măng, nền đất.
- Hồ ngâm bột: số lượng 04 hồ; hồ 1: thể tích 2,85m
3
; hồ 2: thể tích 2,23m
3
;
hồ 3: thể tích 2,16m
3
; hồ 4: thể tích 1,55m
3
; kết cấu chung: thành gạch tô trát, đáy
bê tông cốt thép láng xi măng + đáy gạch láng xi măng.
- Cổng + hàng rào: kết cấu trụ sắt tròn; cổng chính khung song sắt lùa + 01
cánh mở dài 2,9m; cổng phụ khung song sắt 02 cánh dài 2,4m; hàng rào khung song
sắt cao 2,2m.
- Giếng đào: kết cấu đào sâu 07m, đường kínk 01m; nắp đậy BTCT.
Ông Vũ Giang L được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật.
Ông Vũ Thanh H, ông Vũ Minh Q, bà Chu Thị Kim O, bà Cao Thị C, cháu
Vũ Hoàng Kim V, cháu Vũ Hoàng Trúc K, cháu Vũ Hoàng Gia G được quyền lưu
cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Vũ Giang L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Vũ Thanh H số tiền
806.308.500đồng (Tám trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
Ông Vũ Giang L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Vũ Minh Q số tiền
806.308.500đ (Tám trăm lẻ sáu triệu ba trăm lẻ tám nghìn năm trăm đồng).
Ông Vũ Giang L được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Vũ Thanh H và Vũ Minh Q mỗi người phải thanh toán lại cho ông
Vũ Giang L số tiền 6.583.333 đồng (Sáu triệu năm trăm tám mươi ba nghìn ba trăm
ba mươi ba đồng).
3. Về án phí DS-ST:
- Ông Vũ Giang L được miễn theo quy định của pháp luật.
- Ông Vũ Thanh H và Vũ Minh Q mỗi người phải chịu 18.094.627 đồng
(Mười tám triệu không trăm chín mươi tư nghìn sáu trăm hai mươi bảy đồng).
4. Về án phí DS-PT: Ông Vũ Minh Q không phải chịu, hoàn trả lại cho ông Q
số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại
11
biên lai thu số 0003284 ngày 15 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
6.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đồng Nai; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP.B;
- Chi cục THADS TP.B;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Trương Thị Thảo
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm