Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 10/11/2024 của TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST ngày 10/11/2024 của TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thanh Liêm (TAND tỉnh Hà Nam)
Số hiệu: 15/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/11/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Nhữ Văn Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 11 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chp v nuôi con.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hi thm nhân dân: ông Nguyễn Đình Tùng và bà Phạm Th .
- Tphiên toà: ông Nguyn Thế Dũng - Thư Tòa án nhân dân
huyn Thanh Liêm.
- Đại din Vin kim sát nhân dân huyn Thanh Liêm tham gia phiên
tòa: bà Ngô Thn - Kim sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, ti tr s Tòa án nhân dân huyn Thanh
Liêm, tnh Nam xét x thẩm ng khai v án th s 35/2024/TLST-
HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, v vic “Ly n, tranh chp v nuôi con”,
theo Quyết định đưa v án ra t x s 18/2024/QĐXXST-HN ngày
24/10/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H - sinh năm 1982, có mặt;
* B đơn: Anh Nhn Q - sinh m 1979, có đề nghị t xử vng mặt;
Cùng nơi thường trú và nơi hiện nay: thôn K, xã T N, huyện T L, tỉnh
Hà Nam.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng c s x h V N; địa
chỉ: số 169, phố L Đ, phường H L, quận H M, Thành phố Nội; người đại
diện theo pháp luật: ông Dương Quyết T - Chức vụ: Tổng Giám đốc; người đại
diện theo ủy quyền: Dương ThLan H - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân
hàng c s x h huyện Thanh Liêm; người đại diện theo y quyền lại: Nguyễn
Thị H - Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng c s x h huyện Thanh Liêm,
vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2024 trong quá trình giải quyết,
nguyên đơn - chị Phạm Thị H trình by:
Chị anh Nhữ Văn Q kết hôn với nhau trên sở tự nguyện được
UBND Thanh Nghị cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/02/2003. Sau khi
2
kết hôn, anh chị chung sống tại thôn K, T N, huyện T L, tỉnh Nam, quá
trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng; anh Q thường hay bạo hành
vợ con, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn giữa vợ chồng xảy ra đã
lâu kéo dài, đã nhiều lần tự giải quyết với nhau nhưng không kết quả. Vợ
chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, chấm dứt không còn quan hệ
vợ chồng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không n, yêu cầu Tòa án giải
quyết cho chị ly hôn với anh Q.
Về con chung: Anh chị 02 con chung Nhữ Tuấn A - sinh ngày
22/12/2003 Nhữ Thị Khánh L - sinh ngày 05/4/2010, hiện nay cháu Tuấn A
đã trưởng thành tự lập, đi xuất khẩu lao động nên với ai quyền của cháu,
còn cháu L đang với chị. Nay ly hôn chị nguyện vọng được tiếp tục nuôi
dưỡng cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con chị yêu cầu anh Q trách nhiệm cấp
dưỡng là 2.000.000đ/tháng.
Về tài sản, công sức đóng góp, trợ cấp khó khắn sau ly hôn chị không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Trong thời gian chung sống, vợ chồng vay tại Ngân hàng
c s x h số tiền 20.000.000 đồng. Số tiền này chị không được sử dụng mà anh Q
người quyết định, sử dụng, chi tiêu nên anh Q trách nhiệm trả nợ ngân
hàng. Về tài sản, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn: Chị không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
* Tại biên bản làm việc ngày 16/10/2024 tại gia đình anh Nhữ Văn Q
thôn K, T N, huyện T L, tỉnh Nam, bđơn anh Q trình bầy: anh đã nhận
được Thông báo về việc thụ lý số 35 ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Thanh Liêm gửi đến, các giấy triệu tập làm việc anh đều nhận được do Tòa án
gửi đến UBND Thanh Nghị giao trực tiếp; các tài liệu chứng cứ chH
gửi đến Tòa án anh đều biết và không có ý kiến gì. Tuy nhiên do điều kiện công
việc hiện tại anh làm Công ty cổ phần xi măng T T Group rất bận thường
xuyên phải làm tăng ca vậy các lần Tòa án triệu tập anh không có mặt để làm
việc được. Nay anh có ý kiến về việc khởi kiện của chị H, do vợ chồng đã nhiều
lần xảy ra mâu thuẫn, không thể đoàn tụ chung sống, chị H đã khởi kiện ly hôn
đối với anh, anh xác định tình cảm vợ chồngng không còn nên nhất trí ly hôn.
Về con chung: anh xác định vchồng 02 con chung Nhữ Tuấn A -
sinh ngày 22/12/2003 và Nhữ Thị Khánh L - sinh ngày 05/4/2010, hiện nay cháu
Tuấn A đã trên 18 tui tự lập, còn cháu nhỏ Khánh L đang ở với chị H, hiện nay
cháu L cũng đã lớn, muốn với ai quyền của cháu nên anh không ý kiến
gì. Nếu cháu ở với anh thì anh có trách nhiệm nuôi cháu và không yêu cầu chị H
cấp dưỡng. Trường hợp cháu ở với chị H thì anh cũng không có trách nhiệm cấp
dưỡng.
3
Về tài sản: Anh xác định vợ chồng 01 nhà mái bằng khoảng 90m
2
,
ngoài ra còn một số vật dụng sử dụng khác. Nay ly hôn anh không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Về công nợ: Vợ chồng anh chị không n nhân, tập thể nào. Riêng
khoản nợ 20.000.000 đồng vay tại Ngân hàng c s x h huyện Thanh Liêm anh
quan điểm anh trách nhiệm trả nợ do số tiền này anh người sử dụng chi
tiêu vào việc sơn, sửa nhà cửa chứ không chi tiêu cá nhân vì vậy anh sẽ có trách
nhiệm trả nợ toàn bộ mà không yêu cầu chị H phải có trách nhiệm trả nợ cùng.
Về công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: anh xác định không
có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phiên họp công khai chứng cứ hòa giải, anh xác định tình cảm vợ
chồng không còn không thể đoàn tụ được nữa, vậy anh đề nghị Tòa án
không tiến hành m phiên họp công khai chứng cứ hòa giải, c tài liệu
chứng cứ mà chH nộp khởi kiện tại Tòa án anh đều đã biết và không ý kiến
gì. Do điều kiện công việc rất bận nên anh không tham gia được các hoạt động
tố tụng, các phiên họp, hòa giải, phiên tòa, vậy đề nghị Tòa án đưa vụ án ra
xét xử vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.
* Tại bản tkhai ngày 28/6/2024, cháu Nhữ Thị Khánh L trình bầy: cháu
có nguyện vọng được ở với mẹ Phạm Thị H nếu bố mẹ cháu ly hôn.
* Tại bản tự khai ngày 01/10/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
- Ngân hàng c s x h trình bầy: Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử
dụng vốn vay Chương trình Nước sạch vsinh môi trường nông thôn ngày
02/01/2021 của hộ gia đình anh Nhữ Văn Q. Ngày 05/01/2021, Phòng giao dịch
Ngân hàng C s x h huyện Thanh Liêm pduyệt tiến hành giải ngân vào
ngày 08/02/2021 cho hộ anh Nhữ Văn Q vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi
triệu đồng), để sử dụng vào việc xây bể nước sạch và sửa nhà vệ sinh; lãi suất:
9%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 130% lãi suất khi cho vay; thời hạn cho vay 60
tháng; kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần; hạn trả nợ cuối cùng là ngày 09/01/2026.
Số tiền gốc đến nay hộ anh Q chị H còn nợ Phòng giao dịch Ngân hàng C
s x h huyện Thanh Liêm 19.400.000 đồng (Mười chín triệu bốn trăm ngàn
đồng), đã trả được 600.000 (Sáu trăm ngàn đồng) vào ngày 09/12/2023; tiền lãi
của khoản vay đã được trả đến ngày 09/09/2024 (do Ngân hàng thực hiện thu lãi
theo tháng).
Quá trình vay vốn cũng nsử dụng vốn vay, hanh Q chị H đã sử dụng
đúng mục đích, trả lãi đầy đủ, đúng quy định. Tuy nhiên đến nay anh Q, chị H
đang giải quyết ly hôn tại Tòa án huyện Thanh Liêm, vậy Ngân hàng c s x h
huyện Thanh Liêm đề nghị Tòa án giải quyết khoản nợ vay này trong cùng vụ
án ly hôn giữa chị H và anh Q theo quy định của pháp luật.
* Tại Biên bản làm việc ngày 22/8/2024, đại diện chính quyền, đoàn thể
Thanh Nghị quan điểm: Về quan hệ hôn nhân: mâu thuẫn vợ chồng giữa
4
chị Phạm Thị H anh Nhữ Văn Q xảy ra thực tế, trầm trọng nên khả năng
đoàn tụ rất khó. Tuy nhiên đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải giữa anh chị,
trường hợp thấy khả năng đoàn tụ không còn thì đề nghị Tòa án giải quyết cho
anh chị ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về nơi trú việc Tòa án triệu tập làm việc đối với anh Nhữ Văn Q:
UBND Thanh Nghị cho biết hiện nay anh Nhữ Văn Q đăng hộ khẩu
thường trú tại thôn K, T N, huyện T L, tỉnh Nam, hiện nay anh Q đang
làm việc tại Công ty cổ phần xi măng T T Group, địa chỉ: thôn Bồng Lạng,
Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam. UBND Thanh Nghị đã nhận
được giấy triệu tập của Tòa án huyện Thanh Liêm đối với anh Nhữ Văn Q nhờ
UBND giao giấy triệu tập cho anh Q, các lần triệu tập UBND xã đều đã cử
cán bộ đến giao trực tiếp giấy triệu tập cho anh Q. Còn do anh Q không đến
Tòa án làm việc theo lịch làm việc thì UBND xã không nắm được. Bản thân anh
Q cũng đã biết việc chị H khởi kiện ly hôn anh tại Tòa án Thanh Liêm, đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: chị Phạm Thị H anh Nhữ n Q 02 con chung
Nhữ Tuấn A - sinh ny 22/12/2003 Nhữ Thị Khánh L - sinh ngày
05/4/2010, hiện nay cháu Tuấn A đã trưởng thành tlập, đi xuất khẩu lao động,
còn cháu nhỏ đang ở với chị H. Đề nghị Tòa án huyện Thanh Liêm xem xét giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản: chị Phạm Thị H và anh Nhữ Văn Q trong quá trình chung sống
xây dựng 01 nhà mái bằng diện tích khoảng 80m
2
, còn anh chị tài sản
khác hay không thì địa phương không nắm rõ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật nếu các đương sự có yêu cầu.
Về công nợ: chị Phạm Thị H anh Nhữ Văn Q có vay Ngân hàng c s x h
huyện Thanh Liêm thông qua Hội nông dân Thanh Ngh20 triệu đồng theo
chương trình cho vay nước sạch vệ sinh môi trường; các khoản vay khác của anh
chị đối với cá nhân, tập thể nào khác thì chính quyền địa phương không nắm rõ.
Về công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly n: đề nghị Tòa án xem
xét, giải quyết theo quy định của pháp luật nếu các đương sự có yêu cầu.
* Tại phiên toà:
- Chị Phạm Thị H giữ nguyên quan điểm về việc xin ly hôn với anh Nhữ
Văn Q. Về con chung: chị xác định có 02 con chung Nhữ Tuấn A - sinh ngày
22/12/2003 Nhữ Thị Khánh L - sinh ngày 05/4/2010, hiện nay cháu Tuấn A
đã trưởng thành tự lập, đi xuất khẩu lao động nên với ai quyền của cháu,
còn cháu L đang với chị. Nay ly hôn chnguyện vọng được tiếp tục nuôi
dưỡng cháu L. Về cấp dưỡng nuôi con chị rút yêu cầu, không yêu cầu anh Q
phải trách nhiệm cấp dưỡng. Về công nợ: Trong thời gian chung sống, vợ
chồng vay tại Ngân hàng c s x h số tiền 20.000.000 đồng. Số tiền này chị
không được sử dụng anh Q là người quyết định, sử dụng, chi tiêu nên anh Q
5
trách nhiệm trả nợ ngân hàng. Về tài sản, công sức đóng góp, trợ cấp khó
khăn: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí chị tự nguyện đóng toàn
bộ án phí ly hôn và án phí công nợ.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật;
thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đ
quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn
chưa thực hiện hiện đầy đquyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, các điều
35, 39, 147, 227 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 37, 55, 60, 81, 82
83 của Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội - xcông nhận thuận tình ly
hôn giữa chị Phạm Thị H anh Nhữ Văn Q. Về con chung: giao cháu Nhữ Thị
Khánh L - sinh ngày 05/4/2010 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, cho
đến khi cháu L đủ 18 tuổi; anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên được
quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung theo quy định
của pháp luật. Về công nợ: đối với khoản nợ 19.400.000 đồng tiền lãi theo
hợp đồng từ ngày 10/9/2024 đến nay tại Ngân hàng c s, xác định là công nợ
chung của vchồng, bị đơn anh Q xác định đã quản lý, sử dụng chi tiêu số tiền
vay vào sơn sửa nhà cửa do anh đang quản lý, sdụng nên anh nhận trách
nhiệm trả ntoàn bộ. Do vậy giao anh Q trách nhiệm trả khoản nnay cho
ngân hàng.
Về án phí ly hôn thẩm án phí công nợ ghi nhận sự tự nguyện của
chị Phạm Thị H về việc nộp toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hvụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Phạm Thị H
cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Ttụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Nhữ Văn Q hiện đang cư trú tại thôn K, xã T N,
huyện T L, tỉnh Nam, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
nhân dân huyện Thanh Liêm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 điểm
a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; nên theo quy định tại Điều 227 Điều
228 của Bộ luật T tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
6
[2] Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị Phạm Thị H anh Nhữ Văn
Q tnguyện đăng kết hôn nên đây cuộc hôn nhân hợp pháp được
pháp luật bảo vệ. Sau thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc thì vợ chồng
phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp bất đồng quan điểm trong cuộc
sống. Vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng
trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không còn quan
tâm đến nhau, không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm. Anh Q cũng xác định
vợ chồng nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, không thể về đoàn tụ chung sống, anh xác
định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí ly hôn với chị H. Hội đồng xét xử
xét thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh Q đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Việc anh chị thuận tình ly hôn căn cứ, phù hợp với thực tế pháp luật
được quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét x
chấp nhận.
[3] Về con chung: chị Phạm Thị H anh Nhữ Văn Q 02 con chung
Nhữ Tuấn A - sinh ny 22/12/2003 Nhữ Thị Khánh L - sinh ngày
05/4/2010, hiện nay cháu Tuấn A đã trưởng thành tự lập nên Hội đồng xét xử
không xem xét. Đối với cháu nhỏ Khánh L hiện đang với chị H. Chị H
nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng
nuôi con, cháu Khánh L nguyện vọng với mẹ còn anh Q ý kiến hiện nay
cháu Khánh L cũng đã lớn, muốn ở với ai là quyền của cháu nên anh không có ý
kiến . Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung
của chị H chính đáng, cháu L con gái, nên rất cần sự chăm sóc về thể chất,
giáo dục tâm, sinh của người mẹ. Ngoài ra chị H còn các điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng khác. Vì vậy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu L, điều
kiện thực tế của chị H anh Q; Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nhữ Thị
Khánh L cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu L đủ 18
tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên anh Q
không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về công nợ: đối với khoản nợ 19.400.000 đồng tiền i theo hợp
đồng từ ngày 10/9/2024 đến nay tại Ngân hàng c s, nguyên đơn chị Phạm Thị H
xác định không được quản lý, sử dụng số tiền vay nên chị không trách nhiệm
trả, nội dung này đã được bị đơn anh Q xác nhận đã quản lý, sử dụng chi tiêu số
tiền vay vào sơn sửa nhà cửa do anh đang quản lý, sdụng nên anh Q nhận
có trách nhiệm trả nợ toàn bộ số nợ cho Ngân hàng c s x h. Hội đồng xét xử thấy
khoản nợ này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên xác định đây là khoản
nợ chung của vchồng tuy nhiên anh Q tự nhận mình trách nhiệm trả khoản
nợ này. vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của anh Q giao
cho anh Q có trách nhiệm trả cho Ngân hàng khoản nợ này.
[5] Về tài sản, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: chị Phạm
Thị H anh Nhữ Văn Q đều không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử
7
không giải quyết.
[6] Về án phí: chị H, anh Q mỗi người phải phải nộp 75.000 đồng án phí
ly hôn thẩm. Anh Q phải chịu án phí nghĩa vụ về tài sản theo quy định của
pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa chị H tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn
án phí nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này của
chị H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 37, 55, 60, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân
gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quc hội,
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Hanh
Nhữ Văn Q.
2. Về con chung: giao cháu Nhữ Thị Khánh L - sinh ngày 05/4/2010 cho
chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi; anh Nhữ
Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên được quyền thăm nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về công nợ: Giao anh Nhữ Văn Q phải trả cho Phòng giao dịch Ngân
hàng C s x h huyện Thanh Liêm số tiền 19.400.000 đồng (Mười chín triệu bốn
trăm ngàn đồng) ngốc tiền lãi của khoản vay này theo hợp đồng từ ngày
10/09/2024 cho đến khi trả xong khoản nợ trên.
3. Án phí ly hôn thẩm: chị Phạm Thị H phải nộp tiền án phí ly hôn
thẩm 150.000 đồng 970.000 đồng án phí nghĩa vụ về tài sản; được đối trừ
số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Thanh Liêm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0001263 ngày 25/6/2024 chị H còn phải nộp 820.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn chị Phạm Thị H, mặt
tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ktừ ngày tuyên
án; b đơn anh Nhữ Văn Q, Ngân hàng c s x h vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi
hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
8
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND huyện Thanh Liêm;
- Chi cục THADS huyện Thanh Liêm;
- UBND xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử của Tòa án;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Cảnh
Tải về
Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST Bản án số 15/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất