Bản án số 149/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 149/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 149/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 149/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 149/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Qui Nhơn (TAND tỉnh Bình Định) |
| Số hiệu: | 149/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 03/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Thành H - Nguyễn Thị H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 149/2024/DS- ST
Ngày: 03 - 7 - 2024
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯC CỘNG HA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TA N NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Quang Đnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Đông
2. Ông Nguyễn Tấn Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Toà án nhân dân Tp.
Quy Nhơn, tỉnh Bình Đnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Phạm Tố Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Ta án nhân dân Tp. Quy Nhơn,
tỉnh Bình Đnh xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2021/TLST-DS ngày
02 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo quyết đnh
đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và
Thông báo về việc thay đổi lch xét xử số: 67/TB-TA ngày 07 tháng 6 năm
2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 1993 (có mặt)
Trú tại: Tổ 25C, KP 3, P. Gg, Tp. Q, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Duy T, sinh năm 1983. Giấy
ủy quyền ngày 24/11/2021. (có mặt)
Trú tại: 128/3/6 Nguyễn H, Tp. Q, tỉnh B (Giấy ủy quyền ngày
24/11/2021)
Bị đơn: Bà Nguyễn Th H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Thành T, sinh năm 1947 (Giấy ủy
quyền ngày 22/7/2022) (có mặt)
Trú tại: 41 Duy T, Tp. Q, tỉnh B.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1966 (có mặt), ch Nguyễn Th Kim Y,
sinh năm 1965 (vắng mặt)
2
Trú tại: 171/28 Ngô M, Tp. Q, tỉnh B.
- Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Trú tại: 237/8 Hoàng Văn T, Tp. Q, tỉnh B.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Trú tại: 229 Tố H, Tp. Q, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ N:
Theo đơn khi kin, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn anh
Nguyễn Thành H trình bày:
Về quan hệ gia đình: Cha mẹ anh H là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn
Th H không có con chung nên nhận anh H là con nuôi vào năm 1999. Tháng 11
năm 2007, vợ chồng ông H và bà H ly hôn, bà H về quê sinh sống, cn anh H
sống chung với ông H. Sau khi ly hôn được một thời gian, bà Nguyễn Th H dọn
đến ở với chung với ông H tại Tổ 6, khu phố 2, phường H, TP. Q; không đăng
ký kết hôn. Đến ngày 22/3/2011, ông H b bệnh và mất, cha mẹ ông H đều đã
chết trước ông H, ông H cũng không có con chung hay con riêng nên anh H là
người thừa kế duy nhất và hợp pháp của ông H. Từ sau khi ông H mất, bà H
thường xuyên ngược đãi và đuổi anh H ra khỏi nhà, không cho anh ở nên anh
phải ra ngoài sinh sống. Cn đối với nhà đất là di sản của ông H tại Tổ 6, khu
phố 2, phường H, TP. Q, bà H quản lý, sử dụng. Sau này bà H sang bằng căn
nhà trên để xây lại, anh H đã làm đơn gửi đến UBND phường H, do đó, việc xây
dựng nhà đã được đình chỉ.
Về nguồn gốc nhà đất tại Tổ 6, khu phố 2, phường H, TP. Q: Ông H mua
lại của em ruột là ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Th Kim Y vào ngày
05/11/2007. Cho thấy, nhà đất này có trước khi bà H về chung sống với ông H.
Hơn nữa, việc bà H cho rằng mình là vợ của ông H nên có quyền sở hữu nhà đất
này là không có cơ sở, vì bà H và ông H không đăng ký kết hôn.
Nay anh H khởi kiện, yêu cầu chia thừa kế di sản do ông Nguyễn Văn H
chết để lại là quyền sử dụng đất tại đa chỉ: Tổ 6, khu phố 2, phường H, TP. Q;
tài sản hiện bà H đang quản lý, sử dụng nên anh yêu cầu bà H phải giao tài sản
cho anh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Duy T thống
nhất theo lời trình bày của anh H, không bổ sung gì thêm.
Nguyên đơn thống nhất theo Trích đo đa chính thửa đất ngày 16/3/2022;
biên bản xem xét, thẩm đnh tại chỗ và đnh giá tài sản ngày 22/3/2022 và biên
bản xem xét, thẩm đnh tại chỗ ngày 10/11/2023.
Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị đơn bà Nguyễn Thị H và
tại phiên tòa người đại din theo ủy quyền của bị đơn ông Vũ Thành T trình
bày:
3
Bà Nguyễn Th H và ông Nguyễn Văn H bắt đầu chung sống với nhau từ
năm 2007 ngay sau khi ông H vừa ly hôn bà H cho đến khi ông H chết, bà và
ông H vẫn không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, bà và ông H có 02 con
chung nhưng cả 02 đều đã chết lúc nhỏ (vừa sinh xong thì chết), có xây mộ trên
nghĩa trang Bùi Th X. Cha mẹ ông H đã chết trước ông H. Vợ thì đã ly hôn và
cũng đã chết. Ông H không có con ruột, chỉ có 01 con nuôi là anh Nguyễn
Thành H. Ông H chết năm 2011 vì b bệnh ung thư. Trước khi chết ông H để lại
di chúc là nhà đất tại Tổ 6, khu vực 2, phường H, TP. Q cho bà H, tờ di chúc đó
do ông H viết và ký nhưng không có người làm chứng, cũng không ra công
chứng, chứng thực vì nhà đất diện tích quá nhỏ, không có sổ đỏ. H nay bà H chỉ
cn giữ bản phô tô giấy di chúc này, bản gốc đã thất lạc.
Về nguồn gốc nhà, đất tại đa chỉ: Tổ 6, khu vực 2, phường H, TP. Q là do
ông H mua lại của vợ chồng em trai là ông Nguyễn Thành H và Nguyễn Th
Kim Y vào năm 2007, với giá 80.000.000 đồng, thời điểm đó bà H và ông H đã
chung sống với nhau nên bà H có góp 40.000.000 đồng với ông H mua lại ngôi
nhà đó, việc bà H góp tiền không có người làm chứng, cũng không có chứng cứ
gì thể hiện. Vì diện tích nhà nhỏ, bà H và ông H không ở nhà này mà lên tiệm áo
cưới của bà H tại 118 Ỷ L để ở, chỉ đến tối ông H về thắp nhang. Đối với hiện
trạng nhà đất tại: Tổ 6, khu vực 2, phường H, TP. Q thì sau khi ông H mất một
thời gian, vì nhà cũ, xuống cấp có nguy cợ b sập đổ nên tháng 5 năm 2020 (âm
lch), bà H phá dỡ xây lại nhà nhưng khi lên 01 mê thì bà H b đau nặng quá,
không ai trông coi và quản lý nên bà H ngừng việc xây sửa lại cho đến nay. Chi
phí cho việc tháo dỡ và xây dựng là 195.000.000 đồng, hiện bà H cn nợ anh H
100.000.000 đồng.
Đối với anh H khởi kiện yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu bà H giao di sản
do ông Nguyễn Văn H chết để lại là quyền sử dụng đất tại Tổ 6, khu phố 2,
phường H, TP. Q bà H không đồng ý, vì bà H, ông H là vợ chồng chung sống
với nhau và bà H góp tiền 40.000.000 đồng để cùng mua nhà với ông H. Ông H
có văn bản ngày 05/3/2011 nội dung là ủy quyền bà H sử dụng nhà đất đó, đây
là bản di chúc của ông H cho bà trước khi ông H chết. Đối với tài sản bà H xây
dựng trên đất, do xây dựng đã lâu không sử dụng nên đã xuống cấp, không cn
giá tr sử dụng nên bà H không yêu cầu đối với phần tài sản này. Đối với số tiền
40.000.000 đồng góp cùng ông H mua nhà bà H không yêu cầu giải quyết. Đối
với khoản tiền xây dựng của ông H cn nợ, bà H với ông H tự giải quyết.
B đơn thống nhất theo Trích đo đa chính thửa đất ngày 16/3/2022; biên
bản xem xét, thẩm đnh tại chỗ và đnh giá tài sản ngày 22/3/2022 và biên bản
xem xét, thẩm đnh tại chỗ ngày 10/11/2023.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Quá trình giải quyết ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Th Kim Y trình
bày: Vợ chồng ông có bán cho anh ruột ông Nguyễn Văn H và đất tại Tổ 6, khu
phố 2, phường H, TP. Q, bán bằng giấy viết tay vào ngày 05/11/2007, nhà
khoảng 27m
2
, chưa có sổ đỏ, giá bán 80.000.000 đồng, lúc đó ông H chưa sống
4
chung với bà H. Ông H là người mua và là người giao tiền cho vợ chồng ông; số
tiền mua nhà này có được khi chia tài sản ly hôn với bà H. Việc mua bán nhà đất
đã xong nên vợ chồng anh không có ý kiến gì. Do vợ chồng ông H, bà H không
sinh được con nên có nhận anh Nguyễn Thành H làm con nuôi, việc nhận con
nuôi cả anh em nhà ông và họ hàng ông đều biết. Đối với yêu cầu khởi kiện của
anh H, ông yêu cầu giải quyết theo quy đnh.
Ông H thống nhất theo Trích đo đa chính thửa đất ngày 16/3/2022; biên
bản xem xét, thẩm đnh tại chỗ và đnh giá tài sản ngày 22/3/2022 và biên bản
xem xét, thẩm đnh tại chỗ ngày 10/11/2023.
- Quá trình giải quyết ông Nguyễn Đức H trình bày: Năm 2020 (âm lch)
bà H có thuê ông nhận xây dựng nhà tại đa chỉ: Tổ 6, khu phố 2, phường H, TP.
Q. Khi đang đổ mê tầng 1 và đổ trụ để xây tiếp tầng 2 do bà H b bệnh và không
thanh toán tiền cho ông nên ông dừng xây dựng. Toàn bộ chi phí xây dựng theo
tiến độ lúc dừng thi công khoảng 195.000.000 đồng, bà H đã thanh toán khoảng
95.000.000 đồng, cn nợ 100.000.000 đồng. Do bà H không tiếp tục thanh toán
tiền xây dựng nên ông ngừng thi công từ năm 2021. Đối với khoản tiền xây
dựng bà H cn nợ 100.000.000 đồng ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án
này, khi nào Ta án giải quyết mà quyền lợi của ông b xâm phạm thì ông sẽ
khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Đại din Vin kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về vic
tuân theo pháp luật tố tụng và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên ta và
của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử ngh án đã chấp hành đúng quy đnh của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực
hiện các quyền, nghĩa vụ quy đnh tại Điều 70, 71, 72 và 73 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng các Điều
612, 613, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự 2015; Án lệ số 05/2016. Đề ngh:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chia thừa kế theo pháp
luật đối với di sản của ông Nguyễn Văn H chết để lại, giao hiện vật là thửa đất
có diện tích 27m
2
, số thửa 185, tờ bản đồ số 9 tại đa chỉ: Tổ 6, khu phố 2,
phường H, Tp. Q và tài sản gắn liền với đất theo hiện trạng cho nguyên đơn anh
Nguyễn Thành H.
+ Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ về công sức đóng góp của anh Nguyễn
Thành H cho bà Nguyễn Th H với số tiền 50.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên ta, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên ta, Hội đồng xét xử nhận đnh:
[1] Về tố tụng dân sự:
5
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn
Thành H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Th H, sinh năm 1968. Trú tại: 41 Duy T
Tp. Q, tỉnh B chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Hu chết để lại và yêu cầu
bà H giao di sản thừa kế nên quan hệ pháp luật được xác đnh: “Tranh chấp về
thừa kế tài sản” thuộc trường hợp tranh chấp về dân sự và vụ án thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn theo quy đnh tại Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về vắng mặt đương sự:
- Trước khi xét xử, Ta án tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các
văn bản tố tụng nhưng b đơn bà Nguyễn Th H và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Đức H không có mặt tại phiên ta, vắng mặt lần thứ 02
không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Th Kim Y
có đơn đề ngh xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Ta
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về quan hệ thừa kế:
Ông Nguyễn Văn H kết hôn với bà Nguyễn Th H có đăng ký kết hôn tại
UBND phường H, Tp. Q vào ngày 20/5/1985, do ông H và bà H không có con
chung nên nhận anh Nguyễn Thành H là con nuôi theo Quyết đnh công nhận
nuôi con nuôi số: 61/QĐ/UB ngày 04/9/1999 của UBND phường N, Tp. Q. Giấy
khai sinh số: 163, đăng ký ngày 04/9/1999 của anh H thể hiện họ tên cha và mẹ
là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Th H. Bà H và ông H ly hôn theo Quyết
đnh công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số:
394/2007/QĐST-HNGĐ ngày 09/11/2007 của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn;
cha mẹ ông H là Nguyễn C và Dương Th X đều đã chết trước ông H, cụ C chết
năm 1992, cụ X chết năm 2005. Sau khi ly hôn ông H chung sống như vợ chồng
với bà Nguyễn Th H từ năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn, căn cứ theo
quy đnh tại khoản 2 Điều 8, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và
điểm c, mục 3 Ngh quyết số: 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của
Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ giữa
bà H và ông H không được công nhận là vợ chồng. Ông H chết năm 2011, căn
cứ theo quy đnh tại Điều 613 và 651 Bộ luật Dân sự thì người thừa kế thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của ông H chỉ cn 01 người là anh Nguyễn Thành H.
[2.2] Về di sản thừa kế:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bên đương sự và
tại phiên ta xác đnh nguồn gốc thửa đất số 185, ở bản đồ số 9, diện tích 27m
2
tại đa chỉ: Tổ 6, khu phố 2, phường H, Tp. Q là của ông Nguyễn H (anh ruột
ông H) theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày 21/8/1997, đến cuối năm 1997 ông H
6
bán cho vợ chồng em ruột là ông Nguyễn Ngọc H và bà Nguyễn Th Kim Y.
Sau đó, ông H và bà Y chuyển nhượng lại cho anh ruột là ông Nguyễn Văn H
bằng giấy viết tay Đơn xin chuyển nhượng nhà vào ngày 05/11/2007, với số tiền
80.000.000 đồng. B đơn bà H cho rằng bà có đóng góp 40.000.000 đồng cùng
với ông H để nhận chuyển nhượng nhà và đất của vợ chồng ông H, nhưng không
cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho việc góp tiền. Bên cạnh đó, bà cung
cấp thông tin rằng bà và ông H bắt đầu chung sống từ tháng 02/2007, ngay sau
khi ông H ly hôn, tuy nhiên ông H ly hôn với bà H vào ngày 09/11/2007. Mặt
khác, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H, bà Nguyễn
Th Kim Y và người làm chứng ông Nguyễn Văn H đều là anh em ruột và em
dâu của người để lại di sản ông H, đều xác nhận chỉ có ông Nguyễn Văn H là
người đứng ra nhận chuyển nhượng và trực tiếp giao nhận tiền, không đề cập
đến việc bà H có góp tiền hay giao tiền cùng với ông H trong việc nhận chuyển
nhượng nhà. Do đó, căn cứ theo quy đnh tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 thì
di sản do ông H để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 185, ở bản đồ số 9,
diện tích 27m
2
; đa chỉ: Tổ 6, khu phố 2, phường H, Tp. Q theo Biên bản xem
xét, thẩm đnh tại chỗ ngày 10/11/2023 của TAND TP. Quy Nhơn là 27m
2
. Tại
Công văn số: 4547/UBND-TP ngày 19/12/2023 của UBND TP. Quy Nhơn về
cung cấp thông tin đối với thửa đất là di sản thừa kế nêu trên thì thửa đất này đã
được sử dụng ổn đnh lâu dài, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hiện tại của
đa phương, căn cứ theo Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 thì đủ điều kiện được
xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
B đơn bà Nguyễn Th H cho rằng ông Nguyễn Văn H đã ủy quyền cho bà
được sử dụng nhà và đất tại: Tổ 6, khu phố 2, phường H, Tp. Q và cho rằng đó
là di chúc do ông H để lại cho bà nên bà được thừa kế di sản này. Tuy nhiên tại
Văn bản viết tay phô tô ngày 05/3/2011 của ông H mà bà H cung cấp thì nội
dung chỉ: “ủy quyền cho bà H sử dụng, không được sang nhượng, hoán đổi, trao
đổi dưới bất kỳ hình thức nào”. Ông H chết ngày 22/3/2011, do đó căn cứ theo
Điều 116 và Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015 thì việc ủy quyền nêu trên đã chấm
dứt kể từ khi ông Nguyễn Văn H chết. Do đó, bà H yêu cầu được nhận di sản
của ông H chết để lại theo di chúc như đã phân tích ở trên là không có căn cứ để
chấp nhận.
Ông Nguyễn Văn H chết năm 2011 không để lại di chúc, như đã phân tích
thì ông H chỉ có một người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mình là
anh Nguyễn Thành H, do đó căn cứ theo quy đnh 612, 613, 650, 651 Bộ luật
Dân sự thì anh H được hưởng thừa kế do ông H để lại, di sản là quyền sử dụng
đất tại thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9, diện tích 27m
2
, tại đa chỉ: Tổ 6, khu phố
2, phường H, Tp. Q.
Trên thửa đất số thửa 185, tờ bản đồ số 9, diện tích 27m
2
; đa chỉ: Tổ 6,
khu phố 2, phường H, Tp. Q có khối tài sản theo biên bản xem xét, thẩm đnh
tại chỗ ngày 10/11/2023 là: “Nhà đổ 06 trụ bê tông cốt thép; tường xây gạch
chưa tô, đã đổ một mê sàn tầng 01; tầng 02 đã xây tường gạch chưa tô, có 06 trụ
bê tông cốt thép, chưa đổ mê; tầng trệt có cầu thang lên tầng 02 đã xây dựng
phần thô”, theo lời khai của bà H và ông Nguyễn Đức H là chủ thầu xây dựng,

7
khối tài sản này là hiện trạng của nhà đang xây dựng nhưng do bà H không
thanh toán tiền cn nợ nên ông H ngừng thi công, từ đó cho đến nay tài sản đã
xuống cấp nên bà H không yêu cầu giải quyết đối với chi phí xây dựng khối tài
sản này; đối với khoản nợ tiền xây dựng 100.000.000 đồng, bà H tự giải quyết
giải quyết với ông H. Tại phiên ta, đại diện b đơn ông T cũng không yêu cầu
vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Mặc dù b đơn không
yêu cầu xem xét giải quyết nhưng nguyên đơn tự nhận thấy bà H đã chi tiền xây
dựng nhà, có nhiều công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nên tự nguyện hỗ trợ
số tiền 50.000.000 đồng; Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên
đơn.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của anh Nguyễn Thành H, anh H được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật
của ông Nguyễn Văn H chết để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 185, tờ
bản đồ số 9, diện tích 27m
2
. Đa chỉ: Tổ 6, Khu phố 2, phường H, Tp. Q, tỉnh B
theo Hồ sơ kỹ thuật thửa ngày 21/8/1997 và tài sản trên đất theo hiện trạng theo
biên bản xem xét, thẩm đnh tại chỗ ngày 10/11/2023; buộc bà Nguyễn Th H
phải có nghĩa vụ trả lại di sản thừa kế cho anh Nguyễn Thành H được quyền
quản lý, sở hữu, sử dụng di sản là có căn cứ theo quy đnh tại các Điều 12, 166
Luật Đất đai và Điều 158, 164, 166 Bộ luật Dân sự 2015.
[3] Đối với số tiền xây dựng nhà bà Nguyễn Th H cn nợ ông Nguyễn
Đức H 100.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Ta đã hướng dẫn, giải
thích về quyền yêu cầu giải quyết đối với số tiền này nhưng anh H không yêu
cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; yêu cầu của ông H sẽ được
xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác khi có tranh chấp theo quy đnh của pháp
luật.
[4] Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm đnh tại chỗ và đnh giá tài sản:
8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) nguyên đơn anh Nguyễn Thành H tự nguyện
chu.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quộc Hội. Bà Nguyễn Th H phải chu
án phí dân sự sơ thẩm theo quy đnh của pháp luật.
[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên ta là có căn cứ và phù
hợp với nhận đnh của Ta nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 158, 164, 166, 612, 613, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ
luật Dân sự 2015;
- Căn cứ vào Điều 12, 166 Luật Đất đai;

8
Căn cứ vào Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quộc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
- Án l số 05/2016/AL.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành H về việc chia di
sản thừa kế đối với di sản ông Nguyễn Văn H (chết).
2. Xác đnh hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn H là anh Nguyễn
Thành H.
3. Xác đnh di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn H chết để lại là quyền sử
dụng đất tại thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9, diện tích 27m
2
, đa chỉ thửa đất: Tổ
6, Khu phố 2, phường H, Tp. Q, tỉnh B (theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày
21/8/1997).
4. Anh Nguyễn Thành H được hưởng di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn
H là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9, diện tích 27m
2
, đa
chỉ thửa đất: Tổ 6, Khu phố 2, phường H, Tp. Q, tỉnh B và tài sản gắn liền với
đất theo hiện trạng là: “Nhà đổ 06 trụ bê tông cốt thép; tường xây gạch chưa tô,
đã đổ một mê sàn tầng 01; tầng 02 đã xây tường gạch chưa tô, có 06 trụ bê tông
cốt thép, chưa đổ mê; tầng trệt có cầu thang lên tầng 02 đã xây dựng phần thô”
(theo biên bản xem xét, thẩm đnh tại chỗ ngày 10/11/2023).
Giao anh Nguyễn Thành H được quyền quản lý, sở hữu và sử dụng di sản
là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như đã nêu tại Mục 4.
5. Buộc bà Nguyễn Th H phải có nghĩa vụ giao trả lại di sản là quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất như đã nêu tại Mục 4 cho anh Nguyễn Thành
H.
6. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Th H cho rằng di sản quyền
sử dụng đất tại thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9, diện tích 27m
2
, đa chỉ thửa đất:
Tổ 6, Khu phố 2, phường H, Tp. Q, tỉnh B (theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất ngày
21/8/1997) là của bà vì được hưởng theo di chúc của ông Nguyễn Văn H.
7. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Thành H hỗ trợ bà Nguyễn Th
H công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế và chi phí xây dựng nhà số tiền
50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
8. Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm đnh tại chỗ và đnh giá tài sản:
8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) anh Nguyễn Thành H tự nguyện chu (anh H
đã nộp xong).
9. Về án phí: Bà Nguyễn Th H phải chu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Nguyễn Thành H 5.000.000 đồng
(Năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số
0003143 ngày 02/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn, tỉnh
Bình Đnh.

9
10. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên ta hoặc
không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ
ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
11. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
11.1 Kể từ ngày bản án, quyết đnh có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án cn phải chu khoản
tiền lãi của số tiền cn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đnh tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
11.2 Trường hợp bản án, quyết đnh được thi hành theo quy đnh tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6,
7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
đnh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Đnh;
- VKSND Tp. Quy Nhơn;
- Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHN – CHỦ TỌA PHIÊN TA
Ung Quang Định
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 12/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm