Bản án số 143/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 của TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 143/2018/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 143/2018/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 143/2018/HS-ST ngày 24/10/2018 của TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Sơn La (TAND tỉnh Sơn La) |
| Số hiệu: | 143/2018/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/10/2018 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TßA ¸N nh©n d©n
THÀNH PHỐ SƠN LA
tØnh S¬n la
B¶n ¸n sè: 143/2018/HS-ST
Ngµy: 24-10-2018.
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Quý; bà Lò Thị Dung;
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Mai Chi, Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Sơn La, tỉnh Sơn La;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên
toà: Ông Phạm Quốc Cảnh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn
La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
148/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Trung K (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1987 tại
Thuận Châu - Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu 5, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh
Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Đ,
sinh năm 1963; Con bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ đã ly hôn
năm 2014, chưa có con; Tiền án: có 01 tiền án năm 2016 bị TAND huyện Thuận
Châu tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam về tội“Tàng trữ trái phép chất ma
tuý”, chấp hành án xong ngày 17/02/2018, chưa được xóa án tích; Tiền sự:
Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2018 cho đến nay, có mặt tại
phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/6/2018, Bùi Trung K điều khiển xe
mô tô mượn của mẹ đẻ là Nguyễn Thị Ph nói là đi chơi đi từ Tông Lạnh, Thuận
Châu đến khu vực bản Thôm, xã Thôm Mòn, Thuận Châu, mục đích tìm mua
ma túy về sử dụng. Tại đây K gặp và mua được của một người nam giới không
biết tên tuổi và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 400.000,đ
(bốn trăm nghìn đồng),
K cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về phía thành phố Sơn La tìm
2
nơi sử dụng, thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La phát hiện, lập biên bản
bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an thành phố Sơn La thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói
giấy nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và có 05 viên nén
màu hồng dạng hình tròn, màu hồng (theo lời khai của K là Heroine và
Methamphetamine); 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS
26B1-84087 đã sử dụng cũ.
Ngày 19/6/2018, Công an thành phố Sơn La tiến hành cân tịnh vật chứng,
kết quả 05 viên nén màu hồng dạng hình tròn, màu hồng thu giữ của bị cáo Bùi
Trung K có khối lượng 0,57 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu
K1, số bột cục màu trắng có khối lượng 0,64 gam, trích rút 0,28 gam làm mẫu
gửi giám định, còn lại 0,36 gam lưu kho vật chứng ký hiệu K3.
Tại Kết luận giám định số 776/KLMT ngày 22/6/2018 của phòng Kỹ
thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu K1 là
ma túy, loại chất Methamphetamine; Mẫu gửi giám định ký hiệu K2 là ma túy,
loại chất Heroine; Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định”.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Bùi Trung K là 0,57 gam
Methamphetamine và 0,64 gam Heroine. Tổng cộng là 1,21 gam ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKSTP ngày 28 tháng 9 năm 2018 của
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Bùi
Trung K về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249
Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Trung K khai nhận hành
vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội
đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Trung K phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma
túy”, đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Trung K từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 19/6/2018).
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo
khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người mắc nghiện ma túy, thu
nhập thấp, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo không có tài sản
riêng.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì
ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Bùi Trung K sinh năm 1987 tàng trữ trái phép chất
ma túy xảy ra ngày 18/6/2018” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc
mở, 01 túi nilon màu trắng, mẫu lưu kho ký hiệu K3=0,36 gam, theo điểm a,c
khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Bị cáo phải nộp 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự theo quy
định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1
3
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội
của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội
đồng xét xử vào Nghị án, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung
hình phạt để sớm được trở về với gia đình và cộng đồng và làm ăn lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Vào ngày 20/6/2018, Bùi Trung K đã có hành
vi Tàng trữ trái phép 0,53 gam Methamphetamine và 0,64 gam Heroine, mục
đích sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La kiểm
tra, phát hiện và bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Bùi Trung K đã đủ yếu tố
cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, như Quyết định truy tố và quan điểm luận
tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là
hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai 01 năm đến 05 năm ”:
a)…………
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc
XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
……………
i)Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong
các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm
triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
4
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Bùi Trung K với số
lượng tàng trữ ma túy không lớn, mục đích tàng trữ ma tuý là để sử dụng cho
bản thân, do bị cáo là người đã và đang bị mắc nghiện ma túy. Bị cáo phạm tội
thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý. Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý” của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các
chất ma tuý, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội. Hành vi đó là nguy hiểm,
gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã được giáo
dục, biết rõ tác hại của ma tuý đối với đời sống con người và xã hội, song vẫn cố
tình phạm tội, nên cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và áp
dụng Điều 4 Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định
về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ
luật hình sự 2015 để xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo Bùi Trung K: Bị cáo có 01 tiền án về tội ma túy chưa
được xóa án tích, có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ
hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015,
bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h
khoản 1 Điều 52 BLHS, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ
điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích
cho xã hội, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới
đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung,
nhất là công tác phòng, chống tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm
giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định
tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt
bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Song,
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, là người
nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc 1,21 gam ma túy, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của
người không biết tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[4] Về vật chứng vụ án:
Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã trả chị
Nguyễn Thị P (mẹ đẻ của bị cáo) 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream
màu nâu, BKS 26B1-84087 đã sử dụng cũ do không liên quan trong vụ án.
Cần tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì kỹ thuật hình sự Công
an tỉnh Sơn La còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu
kho vụ Bùi Trung K sinh năm 1987 tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày
18/6/2018” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 túi nilon
màu trắng, mẫu lưu kho ký hiệu K3=0,36 gam, theo điểm a,c khoản 1 Điều 47
Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
5
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản
1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Bùi Trung K 28 (Hai mươi
tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày
19/6/2018).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn
La còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Bùi
Trung K sinh năm 1987 tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 18/6/2018”
gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 túi nilon màu trắng,
mẫu lưu kho ký hiệu K3=0,36 gam (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày
09/10/2018 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm
a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Bùi Trung K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là
200.000,đ
(hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Trung K có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố; (Đã ký)
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương
6
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
7
Đặng Thị Hương
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương
8
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Đặng Thị Hương
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát (2 bản);
- CA thành phố;
- Trại giam;
- Bị cáo;
- THA phạt tù;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương
10
11
12
THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương
13
14
15
16
17
18
19
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm