Bản án số 141/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 141/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 141/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về chia tài sản chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 141/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Hoàng Lan C và ông Nguyễn Hữu Anh T4 là hai anh em ruột, trong quá trình làm ăn vào ngày 04/11/2014 bà C và ông T4 có nhận chuyển nhượng nhà và đất của bà Lê Thị Kiều O thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5, diện tích 55,9m2, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại số E đường N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long với giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 495.000.000 đồng. Đến 2015 bà C và ông T4 mua hợp thức hóa của nhà nước diện tích đất 16,7m2 tại khóm L, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 13/7/2016, bà C và ông T4 nhận chuyển nhượng từ bà Tăng Mộng T1 diện tích 3,2m2, thuộc thửa đất số 65, tờ bản đồ số 5, tại khóm L, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi nhập 03 thửa đất lại thì bà C và ông T4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất ngày 04/8/2016 thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m2, tọa lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Bà C và ông T4 thuê Công ty TNHH T8 xây dựng nhà trên thửa đất trên để kinh doanh khách sạn L4. Trong quá trình kinh doanh khách sạn thì bà C và ông T4 mâu thuẫn, xô xát với nhau nên bà C bỏ ra ngoài sinh sống. Bà C ước tính trị giá tài sản nhà và đất là 8.000.000.000 đồng, bà C yêu cầu được nhận nhà đất giao lại cho ông T4 4.000.000.000 đồng, nếu ông T4 yêu cầu nhận nhà đất thì phải giao cho bà C 4.000.000.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 141/2024/DS-PT
Ngày: 16 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp chia tài sản
chung; Đòi lại QSD đất, n
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Nguyễn Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Cao Ngọc Quí Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Đoàn Thị Kim
Tuyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 135/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 5 năm
2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, đòi lại quyền sử dụng đất, nhà”.
Do bản án dân sự thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 185/2024/QĐPT-DS
ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Hoàng Lan C; Địa chỉ: Số E đường N, phường
A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Trần Hồ N; Địa chỉ:
Số A đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Giấy uquyền ngày
29/3/2022).
2
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Anh T4; Địa chỉ: Số E đường N, phường A,
thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Tăng Mộng T1, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số B đường T, phường A,
thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Tăng Mộng T1: Ông Nguyễn Văn D; Địa chỉ: Số I, ấp P, P, huyện L, tỉnh
Vĩnh Long. (Giấy uỷ quyền ngày 22/01/2024).
2. Anh Trần Trung N1.
3. Chị Phạm Thị Kim T2.
4. Cháu Trần Khánh Q, sinh năm 2012.
5. Cháu Trần Gia K, sinh năm 2015.
Cùng địa chỉ: Số B đường T, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần
Khánh Q, Trần Gia K: Anh Trần Trung N1 và chị Phạm Thị Kim T2.
6. Bà Nguyễn Thị P.
7. Anh Nguyễn Thiên L.
8. Cháu Nguyễn Phước T3, sinh năm 2011.
Cùng địa chỉ: Số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Phước T3: Nguyễn Thị P.
9. Cháu Nguyễn Hoàng P1, sinh năm 2011.
Địa chỉ: Số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Hoàng P1: Nguyễn Hoàng Lan C.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh
Long, tỉnh Vĩnh Long.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T4, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan bà Tăng Mộng T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Trong Đơn khởi kiện ngày 19/4/2022, Đơn khởi kiện bổ sung ngày
23/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng L1 Chi
người đại diện anh Trần Hồ N trình bày:
Nguyễn Hoàng Lan Công Nguyễn Hữu Anh T4 là hai anh em ruột,
trong quá trình làm ăn vào ngày 04/11/2014 C ông T4 nhận chuyển
nhượng nhà và đất của bà Lê Thị Kiều O thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5, diện tích
55,9m
2
, loại đất đô thị, tọa lạc tại số E đường N, Phường A, thành phố V, tỉnh
Vĩnh Long với giá chuyển nhượng theo hợp đồng 495.000.000 đồng. Đến 2015
bà C và ông T4 mua hợp thức hóa của nhà nước diện tích đất 16,7m
2
tại khóm L,
phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 13/7/2016, bà C ông T4 nhận
chuyển nhượng từ bà Tăng Mộng T1 diện tích 3,2m
2
, thuộc thửa đất số 65, tờ bản
đồ số 5, tại khóm L, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Sau khi nhập 03 thửa đất lại thì bà C và ông T4 được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất ngày
04/8/2016 thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
, tọa lạc tại số E đường
N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Bà C và ông T4 thuê ng ty TNHH
T8 xây dựng nhà trên thửa đất trên để kinh doanh khách sạn L4.
Trong quá trình kinh doanh khách sạn thì C ông T4 mâu thuẫn, xát
với nhau nên bà C bỏ ra ngoài sinh sống. C ước tính trị giá tài sản nhà và đất
8.000.000.000 đồng, C yêu cầu được nhận nhà đất giao lại cho ông T4
4.000.000.000 đồng, nếu ông T4 yêu cầu nhận nhà đất thì phải giao cho C
4.000.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T4 và người
đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Thị P trình bày:
Căn nhà đất tọa lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Long tài sản của bà Tăng Mộng T1 chị của bà C và ông T4. Năm 2014 T1
nhận chuyển nhượng nhà và thửa đất tại số E đường N, phường A, thành phố V,
tỉnh Vĩnh Long của Lê Thị Kiều O với giá 2.100.000.000 đồng, với diện tích
55,9m
2
. Đến 2015, T1 mua hợp thức hóa đất hẻm của nhà nước diện tích 16,7m
2
với giá 200.400.000 đồng (12.000.000 đồng/m
2
), đồng thời T1 còn cắt thêm
một phần đất của bà diện tích 3,2m
2
cho bà C và ông T4 để đủ diện tích làm bản
vẽ thiết kế và xin giấy phép xây dựng khách sạn L4 tổng diện tích đất 75,8m
2
.
Mục đích bà T1 cho bà C ông T4 đứng tên nhà đất muốn tạo sở cho hai
em làm ăn, trang trải cuộc sống hàng ngày. Ông T4 xác định chỉ đứng tên dùm tài
sản cho bà T1 nên không đồng ý giao cho bà C 4.000.000.000 đồng.
4
Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 25/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ
án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tăng Mộng T1 người đại diện
theo ủy quyền ông Nguyễn Văn D trình bày:
T1 chị cùng cha khác mẹ với ông Anh T4 bà Lan C. Vào năm
2014, T1 có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Kiều O căn nthửa đất số
61, tờ bản đồ số 5, diện tích 55,9m
2
, loại đất: đất tại đô thị, tọa lạc tại số E đường
N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long với g2.100.000.000 đồng. Đến năm
2015 T1 mua hợp thức hóa phần đất hẻm bên cạnh diện tích 16,7m
2
với giá
tiền là 200.400.000 đồng. Ngoài ra để đủ diện tích làm bản vẽ thiết kế và đủ diện
tích để xin phép xây dựng còn tách một phần thửa số 65, tờ bản đồ số 5, diện
tích 3,2m
2
, loại đất ODT cho Anh T4 Lan C. Tổng cộng diện tích để cho
ông Anh T4 và bà Lan C đứng tên dùm là 75,8m
2
và việc thỏa thuận nhờ ông T4,
C đứng tên giùm tài sản hai bên bằng lời nói không lập văn bản T1 tin
tưởng hai em, bà cũng muốn tạo công ăn việc làm cho hai anh em để có tiền sinh
sống và nuôi mẹ già, khi nào làm thì từ từ trả tiền lại cho bà. Tổng số tiền
T1 đầu nhận chuyển nhượng đất đầu tư xây dựng nhà 5.023.816.000
đồng.
Nay bà Tăng Mộng T1 có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu C và ông T4 phải
trả lại căn nhà và thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
, tọa lạc tại số E
đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long công nhận tài sản trên cho
T1.
Trong quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
anh Trần Trung N1, chị Phạm Thị Kim T2, cháu Trần Khánh Q, cháu Trần Gia
K anh N1, chị T2 đại diện trình bày: Thống nhất ý kiến T1, không có ý kiến
khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Thiên L, cháu Nguyễn Phước T3 chP đại diện
trình bày: Thống nhất ý kiến ông Anh T4, không có ý kiến khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cháu Nguyễn Hoàng P1 có Lan C đại diện trình bày: Thống nhất ý kiến người
đại diện hợp pháp bà Lan C, không có ý kiến khác.
Tại bản án dân sự thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 235 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
5
Áp dụng các Điều 218, 219 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí của Tòa án
danh mục ban hành kèm theo. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Công nhận căn nhà đất tọa lạc tại
số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là tài sản chung của
Nguyễn Hoàng Lan C và ông Nguyễn Hữu Anh T4.
Giao cho ông Nguyễn Hữu A Tuấn được quyền sở hữu căn nhà gắn liền với
quyền sdụng đất thửa s69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
tọa lạc tại số E
đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Có trích đo hiện trạng khu đất
kèm theo).
Ông Nguyễn Hữu Anh T4 phải giao lại cho Nguyễn Hoàng L1 Chi số
tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng).
Ông Nguyễn Hữu Anh T4 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất theo quy định của pháp luật.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Tăng Mộng T1.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định
tại chỗ, án phí dân sự thẩm, nghĩa vụ thi hành án quyền kháng cáo của đương
sự theo luật định.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T4 người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tăng Mộng T1 có đơn kháng cáo với nội dung:
- Ông Nguyễn Hữu Anh T4 yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng lấy kết quả định giá đất ngày 10/02/2023 của Toà án nhân dân
thành phố V để làm căn cứ giải quyết vụ án. Ông T4 không đồng ý trả cho nguyên
đơn Nguyễn Hoàng L1 Chi ½ giá trị tài sản tranh chấp với số tiền
4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng) không đồng ý chịu án phí sơ thẩm tài sản
tranh chấp không phải của ông T4 và bà C. Ông T4 yêu cầu công nhận phần đất
và tài sản gắn liền với thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
, toạ lạc tại
số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tài sản hợp pháp của
Tăng Mộng T1.
- Tăng Mộng T1 yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng lấy kết quả định giá đất ngày 10/02/2023 của Toà án nhân dân thành phố
V để làm căn cứ giải quyết vụ án, công nhận phần đất và tài sản gắn liền với thửa
đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75.8m
2
, toạ lạc tại số E đường N, phường A,
thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tài sản hợp pháp của T1. Tại đơn kháng cáo bổ
6
sung ngày 19/4/2024 T1 cho rằng trong trường hợp Tòa án cho rằng nhà, đất
phần sở hữu, sử dụng của C thì bà T1 đồng ý hoàn trả giá trị cho C ½
theo giá hội đồng định giá đã định.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
V, tỉnh Vĩnh Long quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-DS ngày 19/4/2024 với
nội dung: Kháng nghị toàn bộ bản án dân sự thẩm số 26/2024/DS-ST ngày
05/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố V theo hướng sửa bản án dân s
thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố V.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T4 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu
cầu công nhận thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75.8m
2
căn nhà gắn liền
đất toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long do ông T4,
bà C đứng tên là tài sản hợp pháp của bà T1. Ông T4 đồng ý xác định giá trị thửa
đất 69, căn ngắn liền theo Biên bản thỏa thuận giá ngày 19/6/2024 tại cấp phúc
thẩm. Trong trường hợp căn cứ xác định thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện
tích 75,8m
2
và căn nhà gắn liền đất là tài sản thuộc sở hữu chung của ông T4, bà
C thì ông T4 xin nhận nđất đồng ý giao phần đất và căn nhà thuộc quyền s
dụng của ông cho bà T1; không yêu cầu bà T1 trả lại giá trị. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị P đồng ý với ý kiến của ông T4 tại phiên tòa,
không có yêu cầu khác.
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Tăng Mộng T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu công nhận thửa đất
số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
căn nhà gắn liền đất toạ lạc tại số E
đường N, phường A, thành phố V tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bà
T1 yêu cầu ông T4, bà Chi t lại nhà, đất cho bà T1. Bà T1 đồng ý xác định giá
trị thửa đất 69, căn nhà gắn liền theo Biên bản thỏa thuận giá ngày 19/6/2024 tại
cấp phúc thẩm. Trong trường hợp Tòa án xác định nhà, đất tài sản chung của
T4, C giao nđất trên cho T4. Theo sự tự nguyện của ông T4 giao nhà, đất
trên cho sử dụng, sở hữu T1 đồng ý nhận và sẽ trả lại giá trị nhà, đất cho
C theo phán quyết của Tòa án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long thay đổi một
phần yêu cầu kháng nghị số 05/QĐ-VKS-DS ngày 19/4/2024 về phần giá tài sản
tranh chấp thửa đất 69 căn ngắn liền thửa đất đề nghị xác định theo Biên
bản thỏa thuận ngày 19/6/2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Sửa án
thẩm. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Anh T4, người quyền lợi, nghĩa
7
vụ liên quan Tăng Mộng T1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn và buộc bà Tăng Mộng T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Hoàng L1
Chi một phần ba của số tiền chênh lệch tăng giá trị nhà, đất do tăng theo giá thị
trường. Công nhận tài sản tranh chấp thửa đất 69 căn nhà gắn liền thửa đất
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Tăng Mộng T1.
Anh N đại diện hợp pháp nguyên đơn: Đồng ý xác định giá trị thửa đất 69,
căn nhà gắn liền theo Biên bản thỏa thuận giá ngày 19/6/2024 tại cấp phúc thẩm.
Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn Anh T4, T1 không đồng ý
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát thành phố V. Nguyên đơn bà C yêu
cầu chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà C công nhận thửa đất 69, căn nhà gắn liền là
tài sản thuộc sở hữu chung của ông T4, C trong đó C sở hữu ½. Hiện nay
C không có nhà ở phải thuê nhà ở, đang gặp khó khăn về chỗ ở xin nhận nhà,
đất đồng ý trả giá trị ½ thửa đất, nhà cho ông T4 bằng số tiền 3.463.443.500
đồng. Đề nghị hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ đối với
Công ty T8, xác định nguồn gốc căn nhà số B đường T của bà C sử dụng góp vào
đầu tư, xây dựng nhà đất tranh chấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử người tham
gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ vụ án
đến xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật ttụng dân
sự 2015, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý,
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T4 người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan bà Tăng Mộng T1.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm s 05/QĐ-VKS-DS ngày
22/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố V.
Sửa Bản án dân ssơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố V.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn
Hoàng Lan C. Đối với yêu cầu công nhận căn nhà và đất tọa lạc tại số E đường
N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tài sản chung của Nguyễn Hoàng
Lan C và ông Nguyễn Hữu Anh T4.
8
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hoàng
Lan C. Buộc Tăng Mộng T1 nghĩa vtrả cho bà Nguyễn Hoàng L1 Chi một
phần ba của số tiền chênh lệch tăng giá trị nhà đất do tăng theo giá thị trường
2.130.487.119 đồng : 3 = 710.162.373 đồng.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Tăng Mộng T1.
Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lan C bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh
T4 giao trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tăng Mộng T1 căn nhà
gắn liền với quyền sử dụng đất thửa s69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m² tọa lạc
tại số E đường N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Có trích đo hiện trạng
khu đất kèm theo).
Công nhận cho Tăng Mộng T1 được quyền sở hữu căn nhà gắn liền với
quyền sdụng đất thửa số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m² tọa lạc tại số E
đường N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Có trích đo hiện trạng khu
đất kèm theo).
Tăng Mộng T1 liên hệ với quan thẩm quyền đăng cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất theo
quy định của pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hữu Anh T4 không nhận phần số
tiền chênh lệch tăng giá trị nhà đất do tăng theo giá thị trường giao cho
Tăng Mộng T1.
Về chi phí tố tụng: Buộc bà C và ông T4 phải chịu.
Về án phí dân sự: Do sửa án thẩm nên sửa án pdân sự sơ thẩm các
đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các nội dung khác của quyết định bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng
nghị có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Vthủ tục tố tụng: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm
Thị Kim T2, anh Trần Trung N1, cháu Trần Khánh Q cháu Trần Gia K
người đại diện hợp pháp là chPhạm Thị Kim T2 và anh Trần Trung N1 đã được
triệu tập hợp nhưng đơn xin xét xử vắng mặt. Người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan cháu Nguyễn Hoàng P1 người đại diện hợp pháp Nguyễn
9
Hoàng Lan C đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ
Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xvắng mặt đối với các
đương sự trên.
Về xác định quan hệ tranh chấp: Cấp thẩm thụ lý, giải quyết yêu cầu độc
lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tăng Mộng T1 về đòi lại quyền
sử dụng đất và nhà nhưng bản án thẩm chỉ xác định quan hệ tranh chấp “chia
tài sản chung” là thiếu sót nên cấp phúc thẩm bổ sung.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp nguyên đơn yêu cầu tạm ngừng
phiên tòa đthu thập chứng cứ liên quan đến nguồn gốc căn nhà số B đường T do
C đứng tên quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 91, Điều 259 Bộ luật tố tụng dân
sự thì nghĩa vụ chứng minh cho lời trình bày trên của nguyên đơn do nguyên đơn
cung cấp nhưng trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn không cung cấp.
Do đó, không căn cứ tạm ngừng phiên tòa theo yêu cầu của người đại diện hợp
pháp nguyên đơn.
[2] Xét nguồn gốc thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
, toạ lạc
tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, các đương sự đều thừa
nhận thửa đất trên được hợp thành từ 03 (ba) thửa đất gồm: Thửa đất số 61, tờ bản
đồ số 5, diện tích 55,9m
2
, loại đất: đất tại đô thị được nhận chuyển nhượng từ
Thị Kiều O; Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 5, diện tích 16,7m
2
, loại đất ODT
do ông Nguyễn Hữu Anh T4 Nguyễn Hoàng Lan C mua hợp thức hoá của
nhà nước; Tách thửa đất số 65, tờ bản đồ số 5, diện tích 3,2m
2
, loại đất ODT do
bà C, ông T nhận chuyển nhượng từ bà Tăng Mộng T1.
Căn nhà (khách sạn L4) được xây dựng trên thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện
tích 75,8m
2
, toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Các đương sự thừa nhận số tiền đầu tư ban đầu là 2.700.000.000 đồng.
[3] Xét phần đất thửa số 61, tờ bản đồ số 5, diện tích 55,9m
2
, do ông T, bà
C nhận chuyển nhượng từ Lê Thị Kiều O. Theo hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất lập ngày 04/11/2014, tại Điều 2
nội dung:
“1/ Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất nêu
tại Điều 1 Hợp đồng này là: 495.000.000 đồng (Bốn trăm chín mươi lăm triệu
đồng) ...
2/ Phương thức thanh toán: Bên B thanh toán cho bên A một lần ngay khi
Hợp đồng này được công chứng.
10
Việc thanh toán số tiền nêu tại khoản 1 Điều y do hai bên tự thực hiện
và chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
C cho rằng phần đất trên giá chuyển nhượng thực tế 2.500.000.000
đồng C, ông T mỗi người góp ½ giá trị đất bằng số tiền 1.250.000.000 đồng.
C trực tiếp giao tiền cho O tại Ngân hàng trước thời điểm hợp đồng
chuyển nhượng tại Phòng công chứng ngày 04/11/2014. Việc giao nhận số tiền
trên giữa ông T, C O hai bên không lập biên nhận. Nguồn tiền C
được do bản thân dành dụm nhiều năm và năm 2015 bà C chuyển nhượng phần
đất, căn nhà số B đường T cho ông L2, giá chuyển nhượng 1.800.000.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2024, ông Lai Văn X và bà Lê Thị Đan T5
chủ sở hữu căn nhà và phần đất số 23 đường T xác định vào năm 2015 bà T1 (tự
V) thỏa thuận nhận chuyển nhượng nhà, đất tại số B đường T với ông, nhưng
lâu quá ông, bà không nhớ rõ số tiền giao dịch nhưng bà T1 chỉ đưa tiền cọc, hai
bên không lập hợp đồng. Sau đó vài tháng T1 thay đổi ý kiến không đồng
ý chuyển nhượng nhà đất nên ông X, T5 đã trả lại tiền cọc cho T1, bà T1 trả
lại nhà, đất cho ông, bà khẳng định không giao dịch mua bán nhà đất trên
với C. Ngoài lời trình bày thì C không cung cấp chứng cứ chứng minh
việc xác lập giao dịch phần đất, căn nhà số B đường T với ông Lai Văn X
Thị Đan T5 và C sử dụng nguồn tiền chuyển nhượng trên để nhận chuyển
nhượng thửa đất số 61 từ O vào ngày 04/11/2014.
Mặt khác, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 188/2016/QĐST-
HNGĐ, ngày 21/9/2016 của Tòa án nhân dân thành phố V giữa nguyên đơn ông
Văn T6 bị đơn bà Nguyễn Hoàng Lan C, theo quyết định thì tại thời điểm
thuận tình ly hôn giữa ông T6, bà C không tài sản chung và tại Bản tường trình
ngày 15/7/2024 (BL 517) anh Trần Hồ N cũng thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân
giữa bà C, ông Đ không có tài sản chung.
Còn ông Anh T thì không thừa nhận cùng C góp tiền ½ để chuyển
nhượng thửa đất 61 của O. Ông T cho rằng gchuyển nhượng thửa đất 61 thực
tế là 2.100.000.000 đồng và T1 người trực tiếp thỏa thuận giao dịch giá cả,
xem nhà, trả tiền cho O. Ông T, C chỉ đến Văn phòng công chứng tên
vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo yêu cầu của T1. T1
thì cho rằng giá chuyển nhượng thực tế đối với thửa đất số 61 và căn nhà gắn liền
thửa đất từ Lê Thị Kiều O 2.100.000.000 đồng, nguồn tiền của bà T1 và bà
T1 người trực tiếp thỏa thuận mua bán nhà, đất và giao tiền cho O tại nhà bà
O. Việc giao nhận tiền giữa bà O với T1 không có lập biên nhận.
11
Theo lời khai của Lê Thị Kiều O, giá chuyển nhượng trên hợp đồng
495.000.000 đồng nhưng giá chuyển nhượng thực tế 2.100.000.000 đồng.
O trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 61, tờ bản đồ số 5, diện tích
55,9m
2
căn nhà gắn liền đất với T1 (tự V) T1 người giao số tiền
2.100.000.000 đồng cho O tại nhà O trước thời điểm hợp đồng chuyển
nhượng tại phòng công chứng. Sau đó, khi ra phòng công chứng thì T1 yêu cầu
bà O ký kết hợp đồng chuyển nhượng với bà C, ông T. Lý do thỏa thuận giữa C,
T, T1 về việc bà C, ông T đứng tên hợp đồng chuyển nhượng bà không rõ. Ngoài
ra, tại văn bản xác nhận ngày 18/6/2022 của Đặng Thị Thu N2 là người môi
giới việc chuyển nhượng nhà, đất tại số E đường N giữa O, T1 đã thừa nhận
T1 là người giao dịch, thanh toán số tiền 2.100.000.000 đồng cho bà O.
Như vậy, có căn cứ xác định phần đất thửa số 61, tờ bản đồ số 5, diện tích
55,9m
2
, do ông T, bà C ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ
Lê Thị Kiều O, giá chuyển nhượng thực tế là 2.100.000.000 đồng và số tiền trên
của T1 do T1 trả cho O. Sau đó ông T, C nhập thửa đất trên với
các phần đất khác được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận
ngày 04/8/2016 tại thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
. Do đó, chấp
nhận một phần kháng cáo của ông T, T1 xác định số tiền trả cho O
2.100.000.000 đồng khi nhận chuyển nhượng thửa đất 61 là của bà T1.
[4] Thửa đất số 64, tờ bản đồ số 5, diện tích 16,7m
2
, loại đất ODT theo hồ
sơ thể hiện tại Quyết định số 5647/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của Ủy ban nhân
dân thành phố V về việc giao đất cho ông Nguyễn Hữu Anh T Nguyễn
Hoàng Lan C, phần đất tọa lạc tại khóm L, phường A, thành phố V. Sau đó, ngày
27/01/2016 ông T, bà C nộp tiền sử dụng đất trên bằng số tiền 200.400.000 đồng.
Đến ngày 07/3/2016, ông T, C được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản gắn liền với đất
diện tích 16,7m
2
, thửa đất 64, tbản đsố 5, loại đất ODT. T1 cho rằng nguồn
tiền để nộp trả tiền đất cho nhà nước do bà T1 bỏ ra nhưng C không thừa
nhận, ngoài lời trình bày T1 không cung cấp chứng cứ khác chứng minh nên
không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T1 về phần đất trên.
[5] Xét phần đất tách thửa đất số 65, tờ bản đsố 5, diện tích 3,2m
2
, loại
đất ODT do C, ông T nhận chuyển nhượng từ Tăng Mộng T1. C cho
rằng do nhận chuyển nhượng từ T1 số tiền 24.000.000 đồng nguồn
tiền của bà ½ là 12.000.000 đồng còn lại ½ của ông T bra. Tuy nhiên, ông T, bà
T1 không thừa nhận cho rằng hợp đồng chuyển nhượng ghi gchuyển nhượng
12
24.000.000 đồng nhưng thực tế T1 tự cắt một phần thửa đất bà T1 để cho
ông T, bà C đứng tên xây dựng khách sạn cho phù hợp diện tích, công trình khách
sạn đang xây dựng. Ngoài lời trình bày thì T1, ông T không cung cấp chứng
cứ khác chứng minh. Tại Điều 2 của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thể thể hiện “Phương thức thanh toán: Thanh toán hết một lần bằng tiền Việt
Nam đồng ngay sau khi hợp đồng được công chứng chứng nhận; Việc thanh toán
số tiền nêu tại khoản 1 Điều này do hai bên tthực hiện chịu trách nhiệm trước
pháp luật”. Tại biên lai thuế thu nhập nhân ngày 26/7/2016 thể hiện Tăng
Mộng T1 đã nộp tiền thuế thu nhập cá nhân 480.000 đồng nhưng bà T1 cho rằng
mình không có nhận tiền chuyển nhượng đất là không có căn cứ. Do đó, xác định
phần đất tách thửa số 65, tờ bản đồ số 5, diện tích 3,2m
2
, loại đất ODT bà C, ông
T đã nhận chuyển nhượng từ T1 số tiền 24.000.000 đồng đã giao tiền cho
T1 xong.
Như vậy, căn cứ xác định thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
,
tọa lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long ông T, C
được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
04/8/2016 là hợp pháp nên được công nhận. Tài sản trên được hình thành từ các
nguồn tiền gồm: số tiền bà T1 2.100.000.000 đồng; ông T, bà C mỗi người góp ½
bằng số tiền (100.200.000 đồng + 12.000.000 đồng = 112.200.000 đồng).
[6] Về nguồn gốc tiền xây dựng căn nhà (khách sạn L4) trên thửa đất số 69,
tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
, toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố
V, tỉnh Vĩnh Long: Các đương sự thống nhất giá đầu ban đầu 2.700.000.000
đồng. Bà C cho rằng nguồn tiền do bà và ông T góp vào mỗi người góp ½ tương
đương số tiền 1.350.000.000 đồng. Tại Biên bản ghi lời khai ngày 03/6/2024 bà
C cho rằng bà trực tiếp bỏ tiền các khoản gồm: Xây dng nhà thô hình thc mua
công th, vật tư, ép cc, thiết kế tng cộng 1.700.000.000 đồng; Hoàn thin bên
trong nhà: Phòng cháy cha cháy, thang máy, trang trí ni thất, đóng laphong,
mua bàn t, ghế, chăn, gi nm, máy lnh, h thng wifi, camera: khon
1.000.000.000 đng. Do C không thời gian nên nhờ T1 giao dch vi
nhà cung cp thiết b, vật tư như gọi điện đặt hàng, chn sn phm và ngun tin
do bà C vi ông T mỗi người ½ đưa tiền mt cho bà T1 tr, bà C đưa tiền nhiều
ln cho bà T1 và không lp biên nhn. Tuy nhiên, ông T, bà T1 không thừa nhận
và cho rằng tất cả các vật tư, thiết bị xây dựng nhà trang tnội thất cho khách
sạn gắn liền thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
, toạ lạc tại số E
đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long do T1 bỏ ra đầu tư và trả
tiền trực tiếp cho các doanh nghiệp, nhà thầu khi giao dịch.
13
Tại giấy đề nghị thanh toán giữa công ty TNHH B Tăng Mộng T1 ngày
12/4/2016 thể hiện T1 kết thi công nhà số 50 Nguyễn Thị Ú đã thanh
toán cho công ty TNHH B số tiền 309.800.000 đồng; Ngày 10/11/2016 và Ngày
26/12/2016 T1 thanh toán tiền lắp đặt thang máy cho Công ty T9 số tiền
200.000.000 đồng; Năm 2016 T1 đặt mua cửa đi, cửa sổ lùa nhôm, kính
thanh toán cho Công ty TNHH MTV T10 số tiền 120.082.600 đồng; Năm 2016
T1 đặt mua vật liệu xây dựng đã thanh toán tiền cho D1 số tiền 390.000.000
đồng; Năm 2016 T1 đặt mua vật liệu xây dựng đã thanh toán cho DN
Quân số tiền 45.973.000 đồng. Các chứng từ chuyển khoản của T1 tại ngân
hàng S vào các ngày 22/8/2016, ngày 29/8/2016, ngày 26/12/2016 và ngày
18/4/2017 nội dung T1 trả tiền mua thang máy, tổng cộng số tiền 331.471.300
đồng. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2014 đối với bà Lê Thị N3 chủ DNTN
L, ông Lai Văn X, Thị Đan T5 chủ D1ông Nguyễn Đức T7 chủ Công ty
TNHH MTV T10 đều xác định bà T1 (tự V) là người trực tiếp giao dịch đặt mua
vật liệu xây dựng, cửa nhôm, kính công trình nhà tại số E, đường N T1
người trực tiếp thanh toán tiền cho các DN, các DN không biết không giao dịch
với bà Lan C.
Xét C cho rằng ông T mỗi người góp ½ số tiền tương đương
1.350.000.000 đồng để đưa nhờ T1 đứng ra mua vật tư, thiết bị khi xây dựng
căn nhà (khách sạn L4). C cho rằng khi đưa tiền cho T1 là đưa tiền mặt,
không lập biên nhận. Tuy nhiên, T1, ông T không thừa nhận. Ngoài lời trình
bày thì C không cung cấp chứng cứ chứng minh đã đầu số tiền 1.350.000.000
đồng để xây dựng và mua sắm thiết bị, nội thất căn nhà số E đường N
Ngoài ra, tại phần nhận định của bản án thẩm “xác định tài sản nhà
đất số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh LongT1 đã tặng cho bà
C, ông T phù hợp. C không kháng cáo với nhận định trên của bản án
thẩm.
Do đó, có căn cứ xác định nguồn tiền đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản
căn nhà số E đường N ban đầu 2.700.000.000 đồng là tiền của bà T1.
[7] Xét bà T1, ông T kháng cáo cho rằng số tiền bà T1 đầu tư nhận chuyển
nhượng thửa đất 61 bằng số tiền 2.100.000.000 đồng số tiền 2.700.000.000
đồng đầu tư xây dựng căn nhà (khách sạn L4), tọa lạc tại số E đường N do bà T1
nhờ bà C, ông T đứng tên dùm bà T1 là không có căn cứ. Bởi lẻ, tại cấp sơ thẩm
T1 thừa nhận do T1 đầu nhận chuyển nhượng đất xây dựng nhà là
nhằm tạo công ăn việc làm cho hai anh em T, C để họ tiền sinh sống nuôi
14
mẹ già, khi nào làm có dư thì từ từ trả tiền lại cho bà. Vì vậy, có căn cứ xác định
số tiền 2.100.000.000 đồng bà T1 trả cho bà O khi nhận chuyển nhượng thửa đất
61 và tiền đầu tư xây dựng căn nhà gắn liền thửa đất tọa lạc tại số E, đường N là
do T1 cho ông T, C mượn. Nên căn cứ xác định thửa đất số 69, tờ bản
đồ số 5, diện tích 75,8m
2
căn nhà (khách sạn L4) gắn liền thửa đất tài sản chung
của bà C, ông T.
vậy, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo ông T, T1 xác định trong
khối tài sản chung của ông T và bà C đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện
tích 75,8m
2
và căn nhà (khách sạn L4) gắn liền thửa đất có nguồn tiền của bà T1
cho ông T, C mượn 2.100.000.000 đồng + 2.700.000.000 đồng =
4.800.000.000 đồng.
[8] Xét tại cấp phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận giá trị phần đất tranh
chấp số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
trị giá theo giá thị trường hiện nay là
4.548.000.000 đồng. Giá trị còn lại hiện nay của khách sạn 2.378.887.119 đồng.
Tổng giá trị nhà đất 6.926.887.119 đồng. Trong đó, C thừa nhận tài sản
chung của C, ông T mỗi người hưởng ½ bằng số tiền 3.463.443.559 đồng.
Trong đó, phần bà T1 cho ông T C mượn đầu tư nhận chuyển nhượng đất,
xây dựng nhà là 4.800.000.000 đồng. Vì vậy, bà C và ông T mỗi người có nghĩa
vụ trả cho bà T1 số tiền là 2.400.000.000 đồng.
Căn nhà trên hiện nay do ông T, bà P đang quản sử dụng. Án thẩm
giao căn nhà trên cho ông T buộc ông T trả giá trị nhà đất cho C C
không kháng cáo. Tại phiên tòa, ông T, P cho rằng nhà, đất là tài sản của T1
nên tự nguyện trả lại nhà, đất trên cho T1 không yêu cầu T1 trả giá trị
nhà, đất cho ông T. Bà T1 đồng ý nhận lại nhà, đất. Xét sự tự nguyện của ông T,
bà P là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật nên được công nhận.
vậy, buộc C, ông T, bà P giao thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích
75,8m
2
và căn nhà gắn liền phần đất toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành
phố V, tỉnh Vĩnh Long cho bà T1 quản lý, sử dụng và bà T1 không phải hoàn trả
giá trị nhà đất cho ông T.
Căn cứ khoản 2 Điều 378 của Bộ luật dân sự thìT1 có nghĩa vụ trả cho
C phần gtrị chênh lệch nhà, đất là: 3.463.443.559 đồng 2.400.000.000 đồng
= 1.063.443.559 đồng.
Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo bà T1, ông T, kháng nghị của Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố V, sửa một phần bản án sơ thẩm.
15
[9] Về án phí: Bà C phải chịu án phí đối với số tiền được chia trong tài sản
chung là 1.063.443.559 đồng = (36.000.000 đồng + (1.063.443.559 đồng
800.000.000 đồng = 263.443.559 x 3%) = 43.903.000 đồng.
Ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm.
T1 phải chịu án phí đối với phần giá trị nhà, đất được giao. Tuy nhiên,
T1 sinh năm 1961 đến nay trên 60 tuổi người cao tuổi đơn xin miễn án
phí nên được miễn án phí và bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí khảo sát đo đạc và
định giá không có kháng cáo, không kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, Điều 259, Khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng
dân sự; Điều 12, điều 26, điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
V, tỉnh Vĩnh Long.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu Anh T4. Chấp
nhận một phần kháng cáo của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tăng
Mộng T1. Sửa bản án dân sự thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm
2024 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 218, Điều 219,
khoản 2 Điều 378, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật Dân s
năm 2015. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị
Lan C1 về việc xác định thửa đất số 69, tờ bản đsố 5, diện tích 75,8m
2
căn
nhà gắn liền thửa đất, toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Long tài sản chung của Nguyễn Thị Lan C1 ông Nguyễn Hữu Anh T;
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Tăng Mộng T1.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hữu Anh T Nguyễn ThP
giao thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
và căn nhà gắn liền thửa đất,
16
toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long cho chị Tăng
Mộng T1 sử dụng và sở hữu và không yêu cầu bà Tăng Mộng T1 hoàn trả giá trị
nhà và đất số tiền 1.063.443.559 đồng.
3. Công nhận thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
căn nhà
gắn liền thửa đất, toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh
Long cho bà Tăng Mộng T1 (Kèm theo trích đo hiện trạng khu đất).
4. Buộc Tăng Mộng T1 nghĩa vụ trả giá trị phần thửa đất số 69, tờ
bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
căn nhà gắn liền thửa đất toạ lạc tại số E đường
N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long cho bà Nguyễn Thị L3 Chi bằng số
tiền 1.063.443.559 đồng (Một tỷ không trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi
ba ngàn năm trăm năm mươi chín đồng).
5. Buộc Nguyễn Thị Lan C1, ông Nguyễn Hữu Anh T Nguyễn Thị
P giao thửa đất số 69, tờ bản đồ số 5, diện tích 75,8m
2
căn nhà gắn liền thửa
đất toạ lạc tại số E đường N, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long cho Tăng
Mộng T1 Tăng Mộng T1 không phải trả giá trị nhà, đất cho ông Nguyễn
Hữu Anh T4 bằng số tiền 1.063.443.559 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Các đương sự nghĩa vụ đăng khai quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
6. Án phí: Nguyễn Thị Lan C1 phải chịu án phí dân sự thẩm số
tiền 43.903.000 đồng. Số tiền C1 đã nộp tạm ứng án p dân sự sơ thẩm
58.250.000 đồng theo biên lai thu số 0001352 ngày 13/7/2022 tại Chi Cục Thi
hành án dân sự thành phố V sẽ được khấu trừ. Sau khi khấu trừ hoàn trả cho
C1 số tiền tạm ứng án phí là 14.347.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm bốn mươi
bảy ngàn đồng).
Ông Nguyễn Hữu Anh T4 không phải chịu án phí dân ssơ thẩm dân
sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông T4 số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sphúc
thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu s 0006790 ngày
16/4/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố V.
T1 được miễn án phí dân sự thẩm và không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm. Hoàn trả cho bà T1 số tiền tạm ứng án phí dân sthẩm 300.000
đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001638 ngày 02/11/2022 2022 tại
Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố V.
17
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí đo đạc, định giá, xem
xét thẩm định tại chỗ, án phí thẩm không kháng cáo, không kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- CA 01;
- TACC 01;
- VKSND TVL 02;
- TAND TPVL 01;
- VKSND TPVL 01;
- Chi Cục THADS TPVL 01;
- Đương sự 11;
- HCTP 01;
- Phòng KTNV&THA 01;
- Lưu: 04.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sơn Nữ Phà Ca
Tải về
Bản án số 141/2024/DS-PT Bản án số 141/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 141/2024/DS-PT Bản án số 141/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất