Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 14/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Cao Lộc (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
Số hiệu: | 14/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 16/09/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị D. Chị Chu Thị D được ly hôn với anh Hà Văn K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hứa Văn Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Hường.
Bà Tô Thị Lợi.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Tùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 27
tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024,
Quyết định hoãn phiên toà số 65/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị D, sinh năm 1988; cư trú tại: Thôn N, xã T,
huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Hà Văn K, sinh năm 1987; cư trú tại: Thôn N, xã T, huyện C,
tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn đề ngày 21 tháng 5 năm 2024 và
trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Chu Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn K trước khi kết hôn có được tìm
hiểu nhau. Có được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán
của địa phương. Chị và anh Hà Văn K tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05-3-
2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu vợ chồng
chung sống hạnh phúc. Đến năm 2012, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cách dậy con, xảy ra xô sát. Mặc
2
dù gia đình hai bên đã giúp đỡ, khuyên bảo nhưng tình cảm vợ chồng không tiến
triển. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Kể từ khi ly thân,
chị và anh Hà Văn K không còn tình nghĩa vợ chồng, đã không chung sống với
nhau, không liên lạc với nhau, bỏ mặc ai sống ra sao thì sống. Chị yêu cầu Tòa án
giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn K.
Về con chung: Chị và anh Hà Văn K có 02 (hai) con chung là cháu Hà Tuấn
K1, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2007 và cháu Hà Tuấn P, sinh ngày 11 tháng 8
năm 2009. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Hà Tuấn P; anh Hà
Văn K là người trực tiếp nuôi cháu Hà Tuấn K1. Chị và anh Hà Văn K không phải
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung và cho vay chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập anh Hà Văn
K theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng anh K không
có mặt tại Toà án theo như giấy triệu tập của Toà án. Toà án đã tiến hành xác minh
tình trạng hôn nhân của chị Chu Thị D và anh Hà Văn K, xác định được khoảng
năm 2020 thì chị D đã chuyển hẳn ra ngoài sinh sống, làm việc thỉnh thoảng mới
về thăm con. Chị Chu Thị D có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Do
đó, Toà án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ theo quy định và không tiến hành phiên họp hoà giải.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã
chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải
quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định và thực hiện đầy đủ quyền,
nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng
quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Chu Thị D và anh Hà Văn K đã vi phạm
nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị
Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Chu Thị D được ly hôn với anh Hà Văn K. Về
con chung: Để đảm bảo quyền lợi của con, không làm ảnh hưởng đến việc học tập
của con, căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề
nghị giao cháu Hà Tuấn P cho chị Chu Thị D được trực tiếp nuôi đến khi đủ 18
tuổi. Giao cháu Hà Tuấn K1 cho anh Hà Văn K được trực tiếp nuôi đến khi đủ 18
tuổi. Chị Chu Thị D và anh Hà Văn K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản
trở. Về tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị
3
không xem xét giải quyết. Về nợ chung và cho vay chung: Do đương sự xác định
không có nên không đề nghị xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí ly
hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Chu Thị D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn. Bị đơn anh Hà Văn K cư trú tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Theo quy định của
các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm
quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Nguyên đơn chị Chu Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hà Văn K
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 238 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất
cả các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị D và anh Hà Văn K kết hôn trên cơ
sở tự nguyện, khi kết hôn đảm bảo các điều kiện về kết hôn và có giấy chứng nhận
đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn cấp ngày 05
tháng 3 năm 2007. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Chu Thị D và anh Hà Văn K
là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Do quan hệ hôn nhân giữa chị Chu Thị
D và anh Hà Văn K là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Chu Thị D yêu cầu Tòa án
giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn nên xác định quan hệ tranh
chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều
28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về tình trạng hôn nhân: Sau khi kết hôn, sau một thời gian chung sống
thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Từ
khi ly thân đến nay, vợ chồng không còn sống chung với nhau, không có quan hệ
tình cảm, không có sự quan tâm lẫn nhau, ai sống ra sao thì sống. Do đó, có căn cứ
xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Chu Thị D và anh Hà Văn K đã lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu được ly hôn với anh Hà Văn K của chị
Chu Thị D.
[5] Về con chung: Cháu Hà Tuấn K1 có nguyện vọng được ở với anh Hà
Văn K. Cháu Hà Tuấn P có nguyện vọng được ở với chị Chu Thị D. Do đó, để đảm
bảo quyền lợi về mọi mặt của con, không làm ảnh hưởng đến việc học tập của con.
Hội đồng xét xử giao cháu Hà Tuấn P cho chị Chu Thị D được trực tiếp nuôi đến
khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Hà Tuấn K1 cho anh Hà Văn K được trực tiếp nuôi đến
khi đủ 18 tuổi. Chị Chu Thị D và anh Hà Văn K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai
được cản trở.
4
[6] Về tài sản chung: Do chị Chu Thị D không yêu cầu Toà án giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về nợ chung và cho vay nợ chung: Do chị Chu Thị D xác định không
có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Chị Chu Thị D là nguyên đơn nên phải chịu án phí phí ly hôn
sơ thẩm theo quy định của khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4
Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị D được ly hôn anh Hà Văn K.
2. Về con chung: Chị Chu Thị D là người được trực tiếp nuôi cháu Hà Tuấn
P, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2009 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Văn K là người
được trực tiếp nuôi cháu Hà Tuấn K1, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2007 cho đến
khi đủ 18 tuổi. Chị Chu Thị D và anh Hà Văn K không phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung. Chị Chu Thị D và anh Hà Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Chu Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Chu Thị D đã nộp đủ số tiền án phí ly
hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Toà án số 0000889 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị
đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
5
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Cao Lộc, T. Lạng Sơn;
- Chi cục THADS H. Cao Lộc, T. Lạng Sơn;
- UBND X. Thuỵ Hùng, H. Cao Lộc, T. Lạng
Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hứa Văn Nghiệp
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm