Bản án số 132/2022/DS-PT ngày 13/07/2022 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 132/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 132/2022/DS-PT ngày 13/07/2022 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 132/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/07/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu bà L trả lại cho bà phần đất 36,6m2 loại đất trồng cây lâu năm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 132/2022/DS-PT
Ngày: 13/7/2022.
V/v: tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ánh Bình
Các Thẩm phán: -Ông Nguyễn Văn Trường
-Ông Lê Nguyên Khoa
- Thư ký phiên toà: Đỗ Thị Bích Liễu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đi din Vin kim st nhân dân tnh Vnh Long tham gia phiên tòa:
ông Phan Thanh Hào - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2022, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 182/2021/TLPT-DS ngày 31 tháng 12
năm 2021, về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số:97/2021/DS-ST, ngày 16/11/2021
của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2022/QĐ-PT ngày 24 tháng
6 năm 2022, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Trần Thị Bích Th, sinh năm 1988; Đại chỉ: phường M,
thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Trần Hoàng T, sinh năm
1979. Địa chỉ: phường B, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Thị
M, sinh năm 1962. Địa chỉ: phường N, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
(theo văn bản ủy quyền ngày 22/11/2021 và văn bản ủy quyền ngày 27/12/2021).
(có mặt).
2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1977. Địa chỉ: khóm B,
phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Minh C, sinh năm
1976. Địa chỉ: phường H, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (theo văn bản ủy
quyền ngày 13/7/2022) (có mặt).
3.Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm
1976. Địa chỉ: khóm S, phường H, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (
mặt).
Người kháng cáo: Trần Thị Bích Th nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Thúy L là bị đơn trong vụ án.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ ánBản án dân sự thẩm
của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long thì nội dung vụ án được tóm tắt như
sau:
Tại Đơn khởi kiện ngày 13/8/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/9/2020
của Trần Thị Bích Th trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 06/11/2018, Trần Thị Bích Th nhận chuyển nhượng của ông
Đào Đức T thửa đất số 519, số tbản đồ 20, diện tích 137,9m
2
đất trồng cây lâu
năm, tọa lạc tại khóm B, phường T, thành phố Vĩnh Long, Th được chỉnh
mặt 3 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Giáp ranh với thửa đất số 519 của nguyên đơn đất của Nguyễn Thị
Thúy L thuộc thửa 518, tbản đồ số 20, diện tích 90,4m
2
, đất tại đô thị, L
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/7/2018, giáp ranh giữa hai
thửa đất là vách tường nhà cấp 4 của bà L. Khi bà Th đăng ký đo đạc lại thửa đất
để làm thủ tục chuyển nhượng cho người khác thì bà L ngăn cản không cho đo
đạc yêu cầu phải chừa cho L phần đất chiều rộng khoảng 01 mét, chiều dài
18 mét để mở cửa sổ và làm lối đi, lối thoát hiểm, bà Th không đồng ý nên xảy ra
tranh chấp. vậy Th khởi kiện yêu cầu L phải trả lại diện tích đất khoảng
18m
2
(rộng 1mét - dài 18m) thuộc thửa 519, tờ bản đồ số 20, đất trồng cây lâu
năm, tọa lạc tại khóm B phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, không
hỗ trợ chi phí di dời.
Tại tờ tường trình ngày 18/11/2020, Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Th khởi kiện lấn chiếm đất không chính xác. hiện trạng giữa thửa đất
L và đấtTh con đường thoát hiểm công cộng, phía dưới là cống thoát nước
sinh hoạt thoát nước mưa cho cả xóm. Đường thoát hiểm cống thoát nước
công cộng này đã từ khi chủ đầu được phép hình thành khu dân vào
khoảng năm 2006 đến nay. Khi Th mới đến đầu mua thửa đất này để bán
lại, đã nhiều lần nói cho Th biết sự việc như trên. Đến sau này không biết
bằng cách nào Th chiếm luôn con đường thoát hiểm cống thoát nước công
cộng Th đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mới đây Th
bán thửa đất nêu trên và yêu cầu bà ký giáp ranh, nhưng vì quyền lợi của bà và cả
xóm nên không ký. Từ đó Th cho rằng lấn chiếm đất, y ban nhân dân
phường T khảo sát, hòa giải không thành, bà Th tiếp tục khởi kiện tại Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Long. Bà không lấn chiếm đất của bà Th, mục đích của
ngăn cản việc Th bán luôn phần cống thoát nước công cộng đường
thoát hiểm của cả xóm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2021/DS-ST ngày 16/11/2021 của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Long đã quyết định:
Áp dụng các Điều 166, Điều 167, Điều 168 Luật Đất đai; Điều 166 Bộ luật
Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
3
Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Bích
Th.
Buộc Nguyễn Thị Thúy L giao trả lại cho Th phần đất 36,6m
2
loại
đất trồng cây lâu năm, đã làm đường đan láng xi măng diện tích 36,6m
2
(rộng
02 mét, dài 18,3 mét, có vị trí giáp cạnh ranh thửa 518) thuộc thửa 519, tờ bản đồ
20, trong tổng diện tích 137,9m
2
đất trồng cây lâu năm, tọa lạc khóm B, phường
T, thành phố Vĩnh Long được cấp quyền sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 14/11/2018.
Th được quyền sở hữu đường đan láng xi măng diện tích 36,6m
2
(rộng 02 mét, dài 18,3 mét) bậc tam cấp khối lượng 1,8 mét x 0,6 mét x 0,25
mét bằng 0,27m (vị trí giáp cạnh ranh thửa 518) trong phạm vi diện tích 137,9m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 519, tọa lạc tại khu đất khóm B, phường T,
thành phố Vĩnh Long, do Th đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày
14/11/2018.
Buộc bà Th nghĩa vụ hoàn lại tổng giá trị đường đan láng xi măng
bậc tam cấp bằng tổng số tiền là 6.628.500 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai mươi tám
nghìn năm trăm đồng) cho bà L.
Dành cho các bên đương sự được quyền khởi kiện vụ việc khác khi
tranh chấp và yêu cầu đối với không gian và ống thoát nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày 25/11/2021, bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy L kháng cáo yêu cầu xác
minh lại toàn bộ quá trình thửa đất được phân lô, mời người làm chứng, người
làm chủ phân của khu đất, giám định lại toàn bộ hệ thống cống, đường công
cộng trong khu vực để xác định thời gian xây dựng, người xây dựng kể chệ
thống điện sinh hoạt nằm ngay giữa thửa đất 519.
Ngày 26/11/2021, nguyên đơn bà Trần Thị Bích Th kháng cáo không đồng
ý trả số tiền 6.628.500 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai ơi tám nghìn năm trăm
đồng) giá trị đường đal cho bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Hoàng T không đồng
ý trả cho bị đơn giá trị đường đal và bậc tam cấp với số tiền 6.628.500đ, vì bị đơn
không làm cống, không láng xi măng hai bên do chủ đầu m sẵn từ
trước, Th cũng không nhu cầu sdụng bậc tam cấp. Yêu cầu công nhận
phần đất tranh chấp 36m
2
cho nguyên đơn buộc bị đơn phải tháo dỡ bậc tam
cấp trên phần đất tranh chấp.
Ý kiến ông Nguyễn Minh C đại diện hợp pháp cho bị đơn: yêu cầu hội
đồng xét xử xemt lại đường cống cho bị đơn sử dụng làm lối thoát nước, lối đi
lối thoát hiểm. Bị đơn không yêu cầu nguyên đơn trả giá trị đường đal bậc
tam cấp số tiền là 6.628.500đ như án sơ thẩm đã tuyên, vì bị đơn không làm cống
láng xi măng bậc tam cấp trên đất, khi bị đơn mua nđây đã bậc tam
cấp rồi.
Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:
4
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của
những người tham gia tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ
cho đến khi xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân strong quá trình giải quyết ván; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng
các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; Các đương sự
mặt thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
V ni dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của bà Th. Không chấp
nhận kháng cáo của bà L, sửa án sơ thẩm. Án phí dân sự phúc thẩm: do sửa án sơ
thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; trên sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến trình hay của các đương
sự, căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: ngày 16/11/2022 Tòa án cấp thẩm tuyên án, ngày
25/11/2021 bị đơn Nguyễn Thị Thúy L kháng cáo, ngày 26/11/2021 nguyên
đơn Trần Thị Bích Th kháng cáo còn trong thời hạn theo quy định tại Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
đúng quy định được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Minh C chồng L yêu cầu
đưa ông Nguyễn Minh C vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan. Xét thấy ông C và bà L là vợ chồng (có giấy chứng nhận đăng
kết hôn) đang sinh sống trên thửa đất 518 đang tranh chấp ranh đất với
Th, xét thấy việc đưa ông C tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm không làm ảnh
hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án nên
được chấp nhận.
[3]Về nội dung: xét kháng cáo của nguyên đơn Trần Thị Bích Th
Thửa đất số 519, tờ bản đồ số 20, diện tích 137,9m
2
đất trồng cây lâu năm,
tọa lạc khóm B, phường T, thành phố Vĩnh Long do bà Th đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc do Th nhận chuyển nhượng của ông Đào
Đức T vào ngày 14/11/2018 đất trống, phía giáp ranh với thửa 518 của bà L
một đường cống chiều rộng 02 mét, chiều dài 18,04 mét, hai bên cống được láng
xi măng nằm trọn trong thửa 519 của bà Th. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận
đường cống phần láng xi măng, bậc tam cấp do chủ đầu xây dựng
trước khi L, Th mua đất đây, bị đơn không xây dựng. Tại phiên tòa
hôm nay phía bị đơn ng không yêu cầu nguyên đơn trả lại giá trị các công
trình đã sẵn. Tòa án cấp thẩm tuyên buộc nguyên đơn trả cho bị đơn giá trị
đường đal bậc tam cấp với stiền 6.628.500đ chưa phù hợp. Do đó kháng
5
cáo của nguyên đơn không đồng ý trả cho bị đơn số tiền 6.628.500đ căn cứ
chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn:
Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày
14/3/2022, nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận đường cống láng xi măng và bậc
tam cấp có sẵn từ trước khi nguyên đơn và bị đơn mua nhà đất ở đây, các bên đều
thừa nhận nên đây những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy
định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn cho rằng đường cống láng
xi măng đất công cộng nên bị đơn được quyền sử dụng làm lối thoát nước, lối
đi lối thoát hiểm không căn cứ. phần đất này diện tích 36m
2
thuộc
thửa 519, diện tích 137,9m
2
ông Đào đức T đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, sau đó ông T chuyển nhượng lại toàn bộ thửa 519 cho Th, giáp
ranh giữa hai bên không thhiện đất công cộng. vậy yêu cầu của bị đơn
không có căn cứ chấp nhận.
Tòa án cấp thẩm tuyên buộc bị đơn trả cho nguyên đơn phần đất diện
tích 36m
2
thuộc tách thửa 519, nhưng không tuyên tứ cận cụ thchưa chính
xác. Hơn nữa trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 15/5/2021 của chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai thành phố Vĩnh Long kèm theo Bản án thẩm không thể
hiện vị trí, hình thể, kích thước phần đất tranh chấp. Vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm
phải tiến hành khảo sát, đo đạc lại vào ngày 14/3/2022. Theo kết quả trích đo bản
đồ địa chính khu đất ngày 20/6/2022 của Sở tài nguyên môi trường tỉnh Vĩnh
Long thì phần đất tranh chấp diện tích 36m
2
thuộc tách thửa 519, tờ bản đồ số
20 do Trần Bích Th đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm các
mốc: 1,2,3,6,1. Vì vậy phải sửa án sơ thẩm về phần này.
[5]Đối với bị đơn trình bày phần cống phần láng xi măng hiện nay gia
đình bđơn đang sử dụng thải nước sinh hoạt hàng ngày làm lối đi, lối thoát
hiểm, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét cho bị đơn được sử dụng, nhưng ở cấp sơ
thẩm bị đơn không yêu cầu phản tố, cấp thẩm chưa giải quyết nên không
thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Nếu bị đơn yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ án
khác.
[6]Xét quan điểm của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận;
[7]Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát. Sửa bản án dân sự thẩm số 97/2021/DS-ST ngày
16/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
[8] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chổ, khảo sát đo đạc
tại cấp phúc thẩm 5.928.000đ bà Th đã nộp tạm ứng. Tại phiên tòa người đại
diện hợp pháp của Th tự nguyện nộp toàn bộ nên công nhận stự nguyện của
bà Th và bà Th đã nộp xong.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: do sửa án thẩm nên các đương s
không phải chịu án phí phúc thẩm.
[10]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng buộc L
nộp 1.728.00, bà Th đã nộp tạm ứng đã chi nên buộc bà L có nghĩa vụ hoàn
lại cho Th số tiền 1.728.000đ buộc L phải chịu toàn bộ tiền án phí
6
thẩm dân sự 300.00. Hoàn trả cho Th 300.000đ theo biên lai số 0005740
ngày 07/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, những
phần này không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xkhông giải quyết,
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khon 2 Điu 308 ca B lut t tng dân s;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Bích Th;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy L;
Sửa Bản án dân sthẩm số: 97/2021/DS-ST, ngày 16/11/2021 của Tòa
án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
Áp dụng các Điều 166, Điu 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 164, Điều
166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điu 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bích Th;
2.Buộc Nguyễn Thị Thúy L ông Nguyễn Minh C chấm dứt hành vi
cản trở việc sử dụng đất của Trần Thị ch Th đối với phần đất 36m
2
thuộc
thửa 519, diện tích 137,9m
2
, đất trồng cây lâu năm, tọa lạc khóm B, phường T,
thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
3.Công nhận cho Trần Thị Bích Th được quyền sử dụng diện tích đất
36m
2
, thuộc tách thửa 519, tờ bản đồ số 20, loại đất trồng cây lâu năm, gồm các
mốc giới: 1,2,3,6,1, do bà Trần Bích Th đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ( chỉnh lý mặt 3), tọa lạc khóm B, phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh
Long.
(Kèm theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 20/6/2022 của Sở tài
nguyên và môi trường tỉnh Vĩnh Long).
4.Về chi phí tố tụng: Trần Thị Bích Th tự nguyện nộp 5.928.000đ (năm
triệu chín trăm hai mươi tám nghìn), bà Th đã nộp xong.
5.Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu án phí phúc
thẩm. Hoàn trả cho Trần Thị ch Th 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) theo
biên lai số 0000853 ngày 02/12/2021, hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thúy L
300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000881 ngày 10/12/2021của
Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long.
6.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí thẩm, chi phí tố
tụng buộc L nộp 1.728.000 đồng nhưng do Th đã nộp tạm ứng đã chi
nên buộc bà L nghĩa vụ hoàn lại cho bà Th số tiền 1.728.000đ. Buộc L phải
chịu toàn bộ tiền án phí thẩm dân sự 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Hoàn
trả cho Th 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005740 ngày
07/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, không có kháng
cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, hiệu lực pháp luật kể t
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7
7. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
Điu 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND cùng cp; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TANDTP Vĩnh Long;
- CCTHADSTP Vĩnh Long;
- Đương s;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Ánh Bình
Tải về
Bản án số 132/2022/DS-PT Bản án số 132/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất