Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 28/03/2024 của TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 28/03/2024 của TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tràng Định (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 13/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Lý Văn G - Lương Minh H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––
Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày 28-3-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nông Thị Hồng Thắm;
Ông Nguyễn Đức Thọ.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
tham Gphiên toà: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2024 Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh
Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở
Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Điểm cầu thành phần: Nhà
tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với vụ án hình sự sơ
thẩm
thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm
2024 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị
cáo:
1. Lý Văn G, tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/10/1975 tại huyện T,
tỉnh L; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh L
; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mạc Văn T (đã chết); con bà:
Lý Thị S, sinh năm 1953; Vợ: Lăng Thị T, sinh năm 1978; Con: Có 01 con, sinh
năm 2000; tiền án: 01 tiền án cụ thể ngày 22/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện
Tràng Định xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy,
chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2023; tiền sự: Không; Nhân thân: Đã
bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo hiện đang bị
tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ
ngày 28/11/2023 cho đến nay, có mặt.
2. Lương Minh H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 05/12/1997 tại huyện
T, tỉnh L. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh

2
L; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn T, sinh
năm 1970; con bà: Trần Thị H, sinh năm 1972; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền
sự: Không; Nhân thân: Đã bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý
kỷ luật. Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện
Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 01/12/2023 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra
(CSĐT) tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng
Sơn làm nhiệm vụ tại thôn B, xã C, huỵện T, tỉnh L phát hiện Lương Minh H
đang điều khiển xe đạp điện, có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm
tra phát hiện trong tay trái của H có 01 gói chất bột màu trắng, đỏ hình chữ nhật,
có kích thước 1 x 1,7cm, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy.
Lương Minh H khai nhận chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin, H vừa mua
với Lý Văn G với giá 100.000 đồng mục đích đem về để sử dụng. Tổ công tác
đưa Lương Minh H cùng tang vật về trụ sở Công an xã Chi Lăng để lập biên bản
sự việc. Tạm giữ tang vật, đồ vật, tài sản của Lương Minh H gồm: 01 gói chất
bột màu trắng, đỏ hình chữ nhật, có kích thước 01 x 1,7cm, bên trong chứa chất
bột màu trắng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng nhãn hiệu
sam sung lắp 01 sim số 0769.259.520; Số tiền 110.000 đồng tiền ngân hàng nhà
nước Việt Nam; 01 xe máy điện màu đỏ đen. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn
cấp chỗ ở của Lương Minh H, kết quả không thu giữ đồ vật gì liên quan.
Căn cứ lời khai của Lương Minh H, cùng ngày 28/11/2023, Cơ quan
CSĐT Công an huyện Tràng Định tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lý
Văn G phát hiện và thu giữ những đồ vật, tài sản gồm: 01 bật lửa gas; 01 cân
tiểu ly màu đen; 01 mảnh giấy bạc diện 2x5cm; 01 mảnh giấy bạc diện 3x8cm;
01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 3x3cm; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng
nhãn hiệu OPPO màu đỏ; 01 ví giả da bên trong có 01 căn cước công dân mang
tên Lý Văn G ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; số tiền 1.200.000 đồng;
01 túi nilon trong suốt, bên trong đựng chất bột màu trắng dạng cục; 01 gói chất
bột màu trắng dạng cục được gói bằng vỏ bao thuốc lá hoàn kiếm và bọc một
lớp túi nilon màu hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen mang
biển kiểm soát 12T1-095.23.
Tại kết luận giám định số: 50/KL-KTHS, ngày 30/11/2023 của Phòng Kỹ
thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:
+ 01 gói chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Lương Minh H là
chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,124 gam (đã trừ bì).
+ 03 gói chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Lý Văn G là
chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng là 2,938 gam (đã trừ bì).

3
Tại kết luận giám định số: 57/KL-KTHS, ngày 04/12/2023 của Phòng Kỹ
thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Số tiền 110.000 đồng thu giữ của
Lương Minh H và số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Lý Văn G gửi giám định
đều là tiền thật.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Lý Văn G và Lương Minh H khai nhận:
Khoảng 08 giờ ngày 28/8/2023, Lý Văn G một mình xuống thị trấn Đ , huyện C,
tỉnh L mua với một người đàn ông lái xe ôm (không biết tên tuổi, địa chỉ) 03 gói
ma túy Heroin dạng cục với giá 3.000.000 đồng, mục đích đem về nhà chia
thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng
ngày, Lý Văn G đã bán cho Lương Minh H 01 gói ma túy Heroin với giá
100.000 đồng tại khu vực đồi L thuộc thôn B, xã C, huyện T, tỉnh L, số còn lại
chưa kịp bán thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ.
Cáo trạng số: 15/CT-VKSTĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 truy tố các bị
cáo: Lý Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản
1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Lương Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai
của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố
về tội danh như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều
51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 đề
nghị xử phạt bị cáo Lý Văn G từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù
về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249;
Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt Lương
Minh H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” . Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung
đối với tất cả các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;
khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,103 gram Heroine đựng trong gói giấy trong bì thư
niêm phong theo quy định; 2,816 gram Heroine và vỏ bao cũ đựng trong gói
giấy trong bì thư niêm phong theo quy định; 01 bật lửa gas; 01 cân tiểu ly màu
đen; 01 mảnh giấy bạc diện 2x5cm; 01 mảnh giấy bạc diện 3x8cm; 01 mảnh
giấy trắng kẻ ô ly diện 3x3cm.
Tịch thu nộp hóa giá nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màn
hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đỏ lắp 01 sim số 0847.128.234 thu giữ của
Lý Văn G ; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng nhãn hiệu SAM
SUNG lắp 01 sim số 0769.259.520 của Lương Minh H; Tịch thu của Lý Văn G
100.000 đồng (trong tổng số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Lý Văn Gia).
Trả cho các bị cáo: Trả cho Lương Minh H 110.000 đồng (một trăm mười
nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; Trả cho Lý Văn G

4
1.100.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; 01 ví giả da
bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Lý Văn G ; 01 giấy chứng nhận
đăng ký xe mô tô và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen mang
biển kiểm soát 12T1-095.23, các vấn đề khác đề nghị giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau
cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị
cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã
hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ
tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố
và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của
những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện
đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án
được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa đủ cơ sở kết
luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, tại khu đồi L thuộc thôn B, xã C,
huyện T, tỉnh L, Lý Văn G đã có hành vi bán 01 gói ma túy Heroin cho Lương
Minh H có khối lượng 0,124 gam, mục đích H mua về để sử dụng cho bản thân.
Số ma túy còn lại của Lý Văn G có tổng khổi lượng 2,938 gam chưa kịp bán thì
bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ. Như vậy bị cáo Lý Văn G đã phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật
Hình sự. Lương Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi
phạm tội một cách độc lập.
[4] Về tính chất, hậu quả mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo là
người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình
nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã xâm
phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây
mất trật tự an toàn xã hội; ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời
của dân tộc là nguy cơ tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm mới, làm giảm ngân
sách nhà nước để giải quyết các hậu quả do ma túy mang lại. Tuy nhiên khi
quyết định hình phạt ngoài việc xem xét tính chất, mức độ hành vi của việc
phạm tội còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ

5
trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt mới tương xứng với hành vi mà các
bị cáo gây ra.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xét xử,
do vậy là người có nhân thân xấu.
[6] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lương Minh H không có tình tiết tăng
nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Lý Văn G có 01 tình
tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Trong quá trình điều tra, truy
tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền
đối với các bị cáo.
[9] Đối với người đàn ông bán chất ma túy Heroin cho bị cáo Lý Văn G
tại khu vực thị trấn Đ, huyện C, tỉnh L. Xét thấy đây là lời khai một phía của bị
cáo G, mặt khác không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để
xác minh làm rõ.
[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,103 gram Heroine đựng trong gói giấy
trong bì thư niêm phong theo quy định; 2,816 gram Heroine và vỏ bao cũ đựng
trong gói giấy trong bì thư niêm phong theo quy định; 01 bật lửa gas; 01 cân tiểu
ly màu đen; 01 mảnh giấy bạc diện 2x5cm; 01 mảnh giấy bạc diện 3x8cm; 01
mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 3x3cm là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử
dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng
nhãn hiệu OPPO màu đỏ lắp 01 sim số 0847.128.234; 01 điện thoại di động màn
hình cảm ứng màu vàng nhãn hiệu sam sung lắp 01 sim số 0769.259.520 và số
tiền 100.000 đồng (trong tổng số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Lý Văn G) là
tang vật phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước; Đối với số
tiền 110.000 đồng (một trăm mười nghìn đồng) thu giữ của Lương Minh H và số
tiền 1.100.000 đồng thu giữ của Lý Văn G không liên quan đến việc phạm tội
nên trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; Đối
với 01 ví giả da bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Lý Văn G; 01 giấy
chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ
đen mang biển kiểm soát 12T1-095.23, xác định đây là vật dụng gia đình nên trả
lại cho bị cáo.
[11] Những gì khác với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử đều
không được chấp nhận.
[12] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách
ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định cho các bị cáo
đi cải tạo tập trung để các bị cáo nhận thức được hành vi của mình, đồng
thời giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

6
[13] Về án phí: Các bị cáo, phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135,
khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều
52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lý Văn G;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều
50 Bộ luật hình sự đối với Lương Minh H;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a , b khoản 3 Điều 106;
khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà
án đối với tất cả các bị cáo.
1.Về tội danh:
1.1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
1.2. Tuyên bố bị cáo Lương Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Lý Văn G 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày
28/11/2023.
2.2 Xử phạt bị cáo Lương Minh H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ
ngày 01/12/2023.
3. Về vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy: 0,103 gram Heroine đựng trong
gói giấy trong bì thư niêm phòng theo quy định; 2,816 gram Heroine và vỏ bao
cũ đựng trong gói giấy trong bì thư niêm phòng theo quy định; 01 bật lửa gas
màu xanh nhãn hiệu Thống Nhất cũ đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly màu đen mặt
nắp có chữ “POCKET SCALE” cũ đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc diện
2x5cm có vết cháy xén màu đen; 01 mảnh giấy bạc diện 3x8cm có cạnh xé
nham nhở; 01 mảnh giấy trắng kẻ ô ly diện 3x3cm.
3.2. Tịch thu nộp hóa giá nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động
màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI: 866056042588090, bên

7
trong lắp 01 sim số 0847.128.234 cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn
hình cảm ứng màu vàng nhạt nhãn hiệu SAM SUNG, số IMEI:
353298087063791, bên trong lắp 01 sim số 0769.259.520 cũ đã qua sử dụng;
Tịch thu của Lý Văn G 100.000 đồng (trong tổng số tiền 1.200.000 đồng thu giữ
của Lý Văn Gia)
3.3 Trả cho các bị cáo: Trả cho Lương Minh H 110.000 đồng (một trăm
mười nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; Trả cho Lý
Văn G 1.100.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án; 01 ví
giả da bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Lý Văn G; 01 giấy chứng
nhận đăng ký xe mô tô và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen
mang biển kiểm soát 12T1-095.23.
(Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06
tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Tràng Định;
- CQ Điều tra CA huyện Tràng Định;
- CQ THAHS huyện Tràng Định;
- Chi cục THA DS huyện Tràng Định;
- UBND xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh
Lạng Sơn;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Hoàng Văn Bình

8
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA
Hoàng Văn Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm