Bản án số 13/2023/DSST ngày 21/02/2023 của TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2023/DSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2023/DSST
| Tên Bản án: | Bản án số 13/2023/DSST ngày 21/02/2023 của TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lấp Vò (TAND tỉnh Đồng Tháp) |
| Số hiệu: | 13/2023/DSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 13/2023/DSST
Ngày: 21 - 02 - 2023
V/v tranh chấp dân sự về
hợp đồng cầm cố quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
2. Ông Nguyễn Vạn Thế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Phú Quý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên
Ngày 16 và 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò
tiến hành xét xử sơ thẩm công khai
vụ án dân sự thụ lý số: 113/2022/TLST- DS,
ngày 05 tháng 4 năm 2022 về việc “tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử
dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-DS ngày 11
tháng 01 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng
01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Thị Kim H, sinh năm 1977, Địa chỉ:ấp B, xã H, huyện
C, tỉnh A.
- Bị đơn: 1. Anh Lê Văn B, sinh năm: 1976,
2. Chị Nguyễn Thị PT, sinh năm: 1974.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1955,
địa chỉ: khóm B, TT. L, huyện L, tỉnh Đ.
(Chị H và bà P có mặt, anh B và chị PT vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Nguyên đơn chị Tô Thị Kim H trình bày: Ngày 17 tháng 3 năm 2015, anh B
và chị PT cố cho chị H diện tích đất tại thửa số 48, tờ bản đồ số 58 diện tích là
1.300m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Nguyễn Thị PT đứng tên với giá
là 15 chỉ vàng 24Kr 9999, thời hạn cố là 05 năm, đất toạ lạc tại ấp An Bình, xã Hội
An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Do không có điều kiện canh tác nên chị
Hoà cho anh B và chị PT thuê lại với giá 4.000.000đ/năm.
- Tháng 3/2018 , anh B và chị PT cố cho chị H diện tích đất tại thửa số 330, tờ
bản đồ số 23 diện tích là 4.046m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lê Văn
Kh là ông nội của anh B đứng tên, đất toạ lạc tại ấp An Bình, xã Hội An Đông,
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp với giá là 30 chỉ vàng 24Kr 9999, thời hạn cố là 02
năm. Chị H giao vàng cho bà Nguyễn Thị P là chị của chị PT nhận. Do không có
điều kiện canh tác nên chị H cho anh B và chị PT thuê lại với giá 10.000.000đ/năm.
- Vào ngày 19/5/2018, anh B và chị PT cố cho chị H diện tích đất tại thửa số
342, tờ bản đồ số 23 diện tích là 1.484m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông
Lê Văn Kh là ông nội của anh B đứng tên, đất toạ lạc tại ấp An Bình, xã Hội An
Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp với giá là 15 chỉ vàng 24Kr 9999, thời hạn cố
là 01 năm. Chị H giao vàng cho bà P là chị của chị PT nhận. Do không có điều kiện
canh tác nên chị H cho anh B và chị PT thuê lại với giá 4.000.000đ/năm.
Trong các hợp đồng cố đất chị PT và anh B không có ký tên mà chỉ có bà
Nguyễn Thị P ký tên vào hợp đồng. Hợp đồng cũng do bà P là người viết.
Tuy nhiên, thời gian gần đây chị PT và anh B không trả tiền thuê đất cho chị
Hoà theo thoả thuận. Đến thời điểm này số tiền thuê đất mà anh B và chị PT thiếu là
18.000.000đ. Chị H đã nhiều lần đến nhà anh B và chị PT yêu cầu trả tiền thuê đất
nhưng anh B và chị PT không chịu trả và chị PT đã bỏ địa phương đi đâu chị H
không biết. Sau nhiều lần đòi vàng thì bà Nguyễn Thị P đã làm biên nhận thể hiện số
vàng cố đất hai lần sau là do bà P nhận nên bà P thừa nhận có nợ chị H số vàng 45
chỉ vàng 24Kr 9999, biên nhận ghi ngày 1/3/2022. Nay các hợp đồng cầm cố quyền
sử dụng đất cũng đã hết hạn nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết huỹ các hợp đồng
cầm cố quyền sử dụng đất giữa chị H với anh B và chị PT. Buộc anh B và chị PT có
nghĩa vụ trả lại số vàng đã nhận để cố đất là 15 chỉ vàng 24Kr 9999 và buộc bà
Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả số vàng đã nhận là 45 chỉ vàng 24Kr 9999. Đối với
yêu cầu chị PT và anh B trả số tiền thuê đất còn thiếu là 18.000.000đ thì chị H rút
yêu cầu, không yêu cầu Toà án giải quyết đối với số tiền thuê đất. Đối với 03 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính thì chị H sẽ trả lại cho anh B và chị PT.
- Bị đơn là anh Lê Văn B tại biên bản lấy lời khai ngày 19/9/2022 trình bày:
Anh Lê Văn B và chị Nguyễn Thị PT là vợ chồng. Việc chị Tô Thị Kim H kiện vợ
chồng anh B thi anh B có biết vì anh B đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Toà
án và các văn bản khác của Toà. Việc anh B không có văn bản trình bày ý kiến của
mình cũng như không đến Toà án để giải quyết vụ án vì anh B không có nhận tiền
hay vàng của chị H. Anh B thừa nhận anh B và chị PT có cố cho chị H diện tích đất
tại thửa 48, tờ bản đồ số 58 diện tích 1.300m
2
với số vàng là 15 chỉ vàng 24Kr 9999,
thời hạn cố là 05 năm. Sau khi cố diện tích đất này thì chị H cho vợ chồng anh B
thuê lại với giá là 4.000.000đ/năm. Số vàng cố đất chị H giao cho vợ là chị PT nhận,
sau khi nhận vàng chị PT đã chi xài như thế nào thì anh B không biết. Tờ cố đất chỉ
3
làm một lần duy nhất ngoài ra anh B không ký vào tờ hợp đồng cố đất nào khác. Nay
chị H yêu cầu anh B và chị PT có nghĩa vụ trả số vàng cố đất là 60 chỉ vàng 24Kr thì
anh B không đồng ý. Việc cố đất chỉ cố 01 lần với số vàng là 15 chỉ vàng còn số
vàng 45 chỉ thì do anh B cho bà P là chị của Thảo mượn giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông nội anh B là ông Lê Văn Kh để cố cho chị H và bà P nhận vàng
chứ vợ chồng anh B không có nhận. Anh B yêu cầu số vàng 15 chỉ vàng bốn số chín
vợ chồng cố đất thì chị PT nhận và chi xài riêng thì chị PT có trách nhiệm trả, còn 45
chỉ vàng 24Kr 9999 bà P nhận của chị H thì bà P có trách nhiệm trả cho chị H.
- Bị đơn là chị Nguyễn Thị PT không có văn bản trình bày ý kiến của mình
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại các phiên họp về việc kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đều vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị P trình bày: Chị
Nguyễn Thị PT là em ruột của bà P, còn anh Lê Văn B là em rễ. Giữa bà H với anh
B, chị PT có thoả thuận cầm cố quyền sử dụng đất của chị PT đứng tên và hộ ông Lê
Văn Kh đứng tên với giá tổng cộng là 60 chỉ vàng 24Kr loại vàng 9999, sau khi thoả
thuận cố đất xong thì hai bên thoả thuận cho vợ chồng anh B và chị PT thuê lại để
canh tác với giá là 4.000.000đ/công/năm, trong các hợp đồng cố đất bà P là người
viết hợp đồng và ký tên làm chứng và ký tên dùm cho anh B luôn. Khi cố đất thì chị
PT và anh B nhận 15 chỉ vàng bốn số chín cố đất lần đầu, còn các lần cố đất sau thì
bà P có nhận dùm vợ chồng B và PT hai lần tổng cộng là 45 chỉ vàng 24Kr loại vàng
9999, khi nhận vàng có mặt vợ chồng B và PT nhưng vợ chồng PT kêu bà P nhận cất
dùm nên bà P là người trực tiếp nhận dùm 45 chỉ vàng từ bà H giao để bà P giao cất
dùm cho vợ chồng anh B và chị PT và đã đưa cho vợ chồng anh B và chị PT rồi.
Việc đưa số vàng 45 chỉ vàng 24Kr 9999 cho vợ chồng B, PT thì bà P không có
chứng cứ để chứng minh. Sau khi chị PT bỏ nhà đi không trả vàng cho chị H, chị H
có đến nhà bà P đòi thì bà P có viết biên nhận thể hiện bà P có thiếu của chị H 45 chỉ
vàng 24Kr loại vàng 9999, đây là số vàng mà bà P nhận dùm cho chị PT và anh B
khi cố đất, nhưng do PT bỏ trốn nên bà P viết biện nhận thừa nhận thiếu chị Hoà số
vàng trên. Nay chị Hoà yêu cầu bà P phải có nghĩa vụ trả số vàng nhận dùm thì bà P
có ý kiến, hiện nay chị PT đã bỏ địa phương đi đâu bà P không biết nên bà P đồng ý
trả cho chị H số vàng cố đất đã nhận của chị H là 45 chỉ vàng 24Kr loại 9999 theo
như yêu cầu của chị H.
- Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh
Đồng Tháp phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm
và Thư ký phiên toà từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã
thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị H và
bà P đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà. Riêng anh B và chị PT
chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính đối
với thửa đất số 330 và thửa 342 cùng tờ bản đồ số 23 được UBND huyện Lấp Vò cấp
cho hộ ông Lê Văng Kh nhưng anh B và chị PT đã đem cố cho chị H. Để có căn cứ

4
giải quyết toàn diện vụ án đề nghị Hội đồng xé xử cần đưa ông Lê Văn Kh và những
người trong hộ của ông Kh vào tham gia tố tụng với tư cách là những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Do
đó, Viện kiểm sát không phát biểu về nội dung giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của
Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Nguyên
đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, nên xác định quan hệ
pháp luật đối với giao dịch của các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền
sử dụng đất”, đây là tranh chấp thuộc sự điều chỉnh của ngành luật dân sư và thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Lấp Vò, nên vụ
kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo khoản 3
Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
[1.2] Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Lê Văn B để đến
tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh B vẫn vắng mặt không có lý do. Còn chị
PT không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố
tụng trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng chị PT cũng vắng mặt không có lý
do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là anh Lê Văn B và chị
Nguyễn Thị PT theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015.
[1.3] Về tư cách đương sự: Kiểm sát viên đề nghị đưa ông Lê Văn Kh và
những người trong hộ của ông Kh vào tham gia tố tụng với tư cách là những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, xét thấy: Giữa chị H với anh B và chị PT có thỏa
thuận cầm cố đối với 03 thửa đất và anh B, chị PT đã giao cho chị H nhận 03 bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có 02 bản chính đứng tên hộ ông
Lê Văn Kh gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa BD 871525 số vào sổ
cấp GCN: CH01525 thửa số 432, tờ bản đồ số 23 được UBND huyện Lấp Vò cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011 và
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số bìa BD 871526 số vào sổ cấp GCN:
CH01526 thửa số 330, tờ bản đồ số 23 được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn Khảng vào ngày 20/01/2011. Quá trình
giải quyết vụ án anh B trình bày cả hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ
ông Kh, anh B quản lý và anh B đã giao cho chị H khi làm hợp đồng cố đất. Tại
phiên tòa chị H chỉ yêu cầu anh B, chị PT và bà P trả lại số vàng cố đất và chị H
cũng đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh B nhưng
do anh B không có mặt nên chưa nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ các
đương sự không có tranh chấp về việc giữ các bản chính của giấy chứng nhận quyền

5
sử dụng đất. Như vậy, việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của những người trong hộ ông Kh. Do đó, không cần thiết phải đưa hộ ông
Lê Văn Kh vào tham gia tố tụng trong vụ kiện này. Trường hợp những người trong
hộ của ông Kh có tranh chấp về việc yêu cầu anh B trả lại bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của hộ ông Kh thì có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, không chấp nhận đề nghị
của Kiểm sát viên.
[2] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn chị Tô Thị Kim H yêu cầu Toà án
giải quyết buộc anh Lê Văn B và chị Nguyễn Thị PT có nghĩa vụ trả lại số vàng cố
đất là 15 chỉ vàng 24Kr loại vàng bốn số 9 và yêu cầu bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ
số vàng cố đất là 45 chỉ vàng 24Kr lọai vàng bốn số 9. Chị H tự nguyện trả lại cho
anh B 02 bản chính đứng tên hộ ông Lê Văn Kh gồm giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có số bìa BD 871525 số vào sổ cấp GCN: CH01525 thửa số 432, tờ bản đồ
số 23 được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số
bìa BD 871526 số vào sổ cấp GCN: CH01526 thửa số 330, tờ bản đồ số 23 được
UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn
Khảng vào ngày 20/01/2011. Trả cho anh B và chị PT bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất có số bìa BT 886942 số vào sổ cấp GCN: CH04773 thửa số 48, tờ
bản đồ số 58 được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho chị Nguyễn Thị PT vào ngày 23/5/2014 và chị H rút yêu cầu đối với yêu cầu anh
B và chị PT trả tiền thuê đất. Xét thấy.
[2.1] Xét tính hợp pháp của các hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất mà chị
H cung cấp gồm: Tờ giấy có tiêu đề “Tờ cố đất” đề ngày 17/3/2015 viết tay trên giấy
tập học sinh giữa chị Nguyễn Thị PT với chị Tô Thị Kim H. Tờ cố đất này chỉ có chị
PT và người làm chứng ký tên. Tờ “Hợp đồng cố đất” đề ngày 17/3/2015, đánh máy
và điền tay, bên cố đất là Lê Văn B, Nguyễn Thị PT và bên nhận cố đất Tô Thị Kim
H không ký tên, chỉ có người làm chứng ký tên hai bên thỏa thuận cố diện tích đất tại
thửa 48, tờ bản đồ số 58 với giá là 15 chỉ vàng 24Kr 9999. Tờ giấy có tiêu đề “Biên
nhận” được viết trên giấy tập học sinh đề ngày 19/5/2018 thể hiện người mượn Lê
Văn B và Nguyễn Thị PT, người làm chứng Nguyễn Thị Ph và tờ “Hợp đồng cố đất”
đề ngày 19/5/2018 đánh máy và điền tay, hợp đồng chỉ có người làm chứng Nguyễn
Thị Pha và Nguyễn Thị Phương L ký, bên cố đất và bên nhận cố đất không ký tên,
hai bên thỏa thuận cố diện tích đất tại thửa 342, tờ bản đồ số 23 với giá 15 chỉ vàng
24Kr 9999. Tờ “Hợp đồng cố đất” không đề ngày thể hiện tháng 3 năm 2018 đánh
máy và điền tay, hợp đồng chỉ có người làm chứng Nguyễn Thị Ph và Nguyễn Thị
Phương L ký, bên cố đất và bên nhận cố đất không ký tên. Tờ giấy có tiêu đề “Biên
nhận thế chấp” được viết trên giấy tập học sinh đề ngày 30/4/2018 có bên thế chấp
Lê Văn B, Nguyễn Thị PT và người làm chứng Nguyễn Thị P đứng tên hai bên thỏa
thuận cố diện tích đất tại thửa 330, tờ bản đồ số 23. Tại phiên tòa bà P và chị H đều
thừa nhận các hợp đồng nêu trên đều do bà P viết, ký tên bà P còn bên cố đất và nhận
cố đất thì không ký tên, có bản thì bà P ký tên dùm cho anh B và chị PT. Như vậy, về
hình thức của các hợp đồng cố đất là không phù hợp pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ
vào lời trình bày và thừa nhận của các đương sự đủ cơ sở xác định việc cố đất giữa

6
các đương sự đối với các thửa đất số 48, tờ bản đồ số 58 diện tích 1.300m
2
được
UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị
PT vào ngày 23/05/2014, thửa đất số 342, tờ bản đồ số 23 diện tích 1.484m
2
được
UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn
Khảng vào ngày 20/01/2011 và thửa đất số 330, tờ bản đồ số 23 diện tích 4.046m
2
được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê
Văn Khảng vào ngày 20/01/2011 với số vàng cố tổng cộng 60 chỉ vàng 24Kr 9999 là
có thật. Chị H đã giao đủ số vàng cố đất và nhận 03 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng các thửa đất trên.
Tuy nhiên, pháp luật về đất đai không có quy định người sử dụng đất được
quyền cầm cố quyền sử dụng đất nên giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất được xác
lập giữa chị H với anh B và chị PT là không phù hợp pháp luật. Căn cứ Điều 117,
Điều 122, Điều 123, Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6, khoản 4 Điều
12, Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai năm 2013, Hội đồng xét xử tuyên bố hợp
đồng cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập giữa chị Tô Thị Kim H với anh Lê Văn
B và chị Nguyễn Thị PT đối với các thửa đất trên là vô hiệu.
[2.2] Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015, thì giao dịch dân sự vô
hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ
khi xác lập, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, trao trả những gì đã nhận. Đối
với giao dịch của các đương sự chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ với nhau đối với số
vàng mà chị H đã giao cho anh B, chị PT, bà P và chị H đã nhận 03 bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cố, ngoài ra các bên không có phát sinh quyền và
nghĩa vụ đối với việc giao nhận đất. Do đó, yêu cầu của chị H về việc yêu cầu trả lại
số vàng cố đất là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Đối với chị Nguyễn Thị PT đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng
nhưng chị PT không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, Tòa án cũng đã triệu tập chị PT để tham gia phiên họp về việc kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như triệu tập chị PT
đến tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy,
việc vắng mặt của chị PT đươc xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra ý kiến về yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn nên mặc nhiên chị PT đã thừa nhận toàn bộ yêu cầu
của chị H. Còn anh Lê Văn B thừa nhận vợ chồng anh B có cố đất cho chị H và đã
nhận của chị H số vàng là 15 chỉ vàng 24Kr 9999 nhưng anh B cho rằng số vàng này
do chị PT trực tiếp nhận và chi xài cá nhân nên anh B không đồng ý cùng với chị PT
có nghĩa vụ trả số vàng này là không phù hợp. Tại khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và
gia đình quy định vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau: 1. Nghĩa vụ phát
sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm”. Quá trình
giải quyết vụ án anh B cũng thừa nhận vào năm 2015 vợ chồng anh B và chị PT cùng
ký hợp đồng cố đất với chị Tô Thị Kim H với số vàng cố đất là 15 chỉ vàng 24Kr
9999 và chị PT đã nhận đủ số vàng mà chị H đưa. Như vậy, Khi vợ chồng đồng
thuận cùng nhau thực hiện giao dịch dân sự như liên quan đến tài sản chung; vay
tiền; thế chấp tài sản… thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao

7
dịch đó. Do đó, buộc anh Lê Văn B và chị Nguyễn Thị PT phải có nghĩa vụ liên đới
trả cho chị H số vàng cố đất đã nhận là 15 chỉ vàng 24Kr 9999 mới là phù hợp pháp
luật.
[2.4] Đối với bà Nguyễn Thị P, bà P cho rằng chỉ nhận dùm số vàng cố đất
của anh B và chị PT là 45 chỉ vàng 24Kr 9999 chứ bà P không có cố đất cho chị H và
đã giao số vàng cố đất cho chị PT. Quá trình giải quyết vụ án phía anh B trình bày số
vàng cố đất mà bà P nhận là do anh B cho bà P mượn giấy chứng nhận quyền của sử
đất cố để lấy vàng, chứ vợ chồng anh B không có nhận số vàng này. Như vậy, lời
trình bày của anh B phù hợp với lời trình bày của chị H và lời thừa nhận của bà P là
đã nhận 45 chỉ vàng 24Kr 9999 cố đất của chị H. Tại phiên tòa hôm nay bà P đồng ý
trả cho chị H số vàng mà bà P đã nhận khi cố đất là 45 chỉ vàng 24Kr 9999 là phù
hợp. Do đó, bà P phải có nghĩa vụ trả chị H số vàng cố đất đã nhận là 45 chỉ vàng
24kr 9999.
[2.5] Đối với 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính mà phía anh B
và chị PT đưa cho chị H giữ gồm: 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD
871525, vào sổ cấp GCN: CH01525 đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 23, diện
tích 1.484m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất ấp An
Phú, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp Vò
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 871526, vào sổ cấp GCN: CH01526
đối với thửa đất số 330, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.046m
2
, mục đích sử dụng đất
chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất ấp An Phú, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò,
tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho hộ ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011. 3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BT 886942, vào sổ cấp GCN: CH04773 đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 58,
diện tích 1.300m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất ấp
An Bình, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp
Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị PT vào ngày
23/05/2014. Tại phiên tòa chị H đồng ý trả lại 02 bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho hộ ông Lê Văn Kh cho anh Lê Văn B và trả giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp cho chị Nguyễn Thị PT cho anh B và chị PT. Xét thấy
đây là sự tự nguyện của chị H và phù hợp pháp luật nên ghi nhận sự tự nguyện của
chị H.
[2.6] Đối với bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu các đương sự không có
yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.7] Đối với yêu cầu của chị H về việc yêu cầu anh B và chị PT có nghĩa vụ
trả lại số tiền thuê đất là 18.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên
tòa hôm nay chị H xin rút lại yêu cầu này không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó,
đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu anh B và chị PT có nghĩa vụ trả
lại số tiền thuê đất là 18.000.000đ (mười tám triệu đồng).
[3] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của chị Tô Thị Kim H.

8
[4] Về án phí: Theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh B và chị PT phải liên đới
trả cho chị H số vàng 15 chỉ vàng 24Kr 9999, giá vàng tại thời điểm xét xử là
5.415.000đ/chỉ x 15 chỉ = 81.225.000đ x 5% = 4.061.000đ. Chị H không phải chịu
án phí dân sự. Hoàn trả cho chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà Nguyễn Thị P
có yêu cầu miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm vì là người cao tuổi nên miễn án phí cho
bà P.
[5] Về lệ phí tố tụng: Số tiền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là
4.000.000đ (Bốn triệu đồng), chị H tự nguyện chịu là phù hợp với khoản 2 Điều 180
Bộ luật tố tụng dân sự. Số tiền này chị H đã nộp và chi xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản
1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 288, Điều 273 của Bộ luật
tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều và Điều 131 của Bộ luật Dân
sự 2015; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai 2013;
Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Kim H.
1.1. Tuyên bố hợp đồng cố quyền sử dụng đất giữa bên cố đất anh Lê Văn B
và chị Nguyễn Thị PT với bên nhận cố đất Tô Thị Kim H đối với thửa đất số 48, tờ
bản đồ số 58, đất tọa lạc tại ấp An Bình, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng
Tháp đất được Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò cấp cho chị Nguyễn Thị PT vào ngày
23/05/2014 vô hiệu.
1.2. Tuyên bố hợp đồng cố quyền sử dụng đất giữa bên cố đất anh Lê Văn B
và chị Nguyễn Thị PT với bên nhận cố đất Tô Thị Kim H đối với thửa đất số 330 và
thửa đất số 342 cùng tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại ấp An Phú, xã Hội An Đông,
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đất được Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò cấp cho hộ
ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011 vô hiệu.
1.3. Buộc anh Lê Văn B và chị Nguyễn Thị PT phải có nghĩa vụ liên đới trả

9
cho chị Tô Thị Kim H số vàng là 15 (Mười lăm) chỉ vàng 24Kr 999.
1.4. Buộc bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ trả cho chị Tô Thị Kim H số
vàng là 45 (Bốn mươi lăm) chỉ vàng 24Kr 9999.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Tô Thị Kim H trả lại cho anh Lê Văn B 02
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền có số bìa BD 871525, vào sổ cấp GCN: CH01525 đối với thửa đất số 342, tờ
bản đồ số 23, diện tích 1.484m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ
thửa đất ấp An Phú, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, được UBND
huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn Kh vào
ngày 20/01/2011 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền có số bìa BD 871526, vào sổ cấp GCN: CH01526 đối với thửa đất số
330, tờ bản đồ số 23, diện tích 4.046m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa
nước, địa chỉ thửa đất ấp An Phú, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp,
được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê
Văn Kh vào ngày 20/01/2011.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Tô Thị Kim H trả lại cho anh Lê Văn B và
chị Nguyễn Thị PT bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền có số bìa số BT 886942, vào sổ cấp GCN: CH04773 đối với
thửa đất số 48, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.300m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên
trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất ấp An Bình, xã Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh
Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
chị Nguyễn Thị PT vào ngày 23/05/2014.
4. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Kim H về việc yêu cầu
anh Lê Văn B và chị Nguyễn Thị PT trả số tiền thuê đất là 18.000.000đ (Mười tám
triệu đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Buộc anh Lê Văn B và chị Nguyễn Thị PT phải liên đới chịu số tiền án
phí dân sự sơ thẩm là 4.061.000đ (Bốn triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
5.2. Bà Nguyễn Thị P không phải nộp tiền ứng án phí dân sự sơ thẩm do
được miễn.
5.3. Chị Tô Thị Kim H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho
chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.700.000đ (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008706 ngày 04/4/2022 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
6. Về lệ phí tố tụng: Chị H tự nguyện chịu số tiền thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Số tiền này chị H đã nộp và chi
xong.

10
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án
này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng
mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND H.Lấp Vò;
- Chi cục THADS H.Lấp Vò;
- Lưu: VP- Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phan Văn Nội
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm