Bản án số 13/2023/DSST ngày 21/02/2023 của TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2023/DSST

Tên Bản án: Bản án số 13/2023/DSST ngày 21/02/2023 của TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lấp Vò (TAND tỉnh Đồng Tháp)
Số hiệu: 13/2023/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/02/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 13/2023/DSST
Ngày: 21 - 02 - 2023
V/v tranh chấp dân sự về
hợp đồng cầm cố quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
2. Ông Nguyễn Vạn Thế.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Lê Phú Quý Thư ký Tòa án nhân n huyện
Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia
phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên
Ngày 16 và 21 tháng 02 năm 2023, tại trsở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò
tiến hành xét xử thẩm công khai
vụ án dân sự thụ số: 113/2022/TLST- DS,
ngày 05 tháng 4 năm 2022 về việc “tranh chấp dân sự về hợp đồng cầm cố quyền sử
dụng đấttheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-DS ngày 11
tháng 01 m 2023, Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng
01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị Kim H, sinh năm 1977, Địa chỉ:ấp B, H, huyện
C, tỉnh A.
- Bị đơn: 1. Anh Lê Văn B, sinh năm: 1976,
2. Chị Nguyễn Thị PT, sinh năm: 1974.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đ.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1955,
địa chỉ: khóm B, TT. L, huyện L, tỉnh Đ.
(Chị H và bà P có mặt, anh B chị PT vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Nguyên đơn chị Thị Kim H trình bày: Ngày 17 tháng 3 năm 2015, anh B
chị PT cố cho chị H diện ch đất tại thửa số 48, tờ bản đồ s 58 diện tích
1.300m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chNguyễn Thị PT đứng tên với g
15 chỉ vàng 24Kr 9999, thời hạn cố 05 năm, đất toạ lạc tại ấp An Bình, Hội
An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Do không điều kiện canh tác nên ch
Hoà cho anh B chị PT thuê lại với giá 4.000.000đ/năm.
- Tháng 3/2018 , anh B và chị PT cố cho chị H diện ch đất tại thửa số 330, tờ
bản đồ số 23 diện tích là 4.046m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lê Văn
Kh ông nội của anh B đứng tên, đất toạ lạc tại ấp An Bình, Hội An Đông,
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp vi giá 30 chỉ vàng 24Kr 9999, thời hạn cố 02
năm. Chị H giao vàng cho Nguyễn Thị P chị của chị PT nhận. Do không
điều kiện canh tác nên chị H cho anh B chị PT thuê lại với giá 10.000.000đ/năm.
- Vào ngày 19/5/2018, anh B chị PT cố cho chị H diện tích đất tại thửa số
342, tbản đồ số 23 diện tích là 1.484m
2
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông
Lê Văn Kh ông nội của anh B đứng tên, đất toạ lạc tại ấp An Bình, Hội An
Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp với giá 15 chỉ vàng 24Kr 9999, thời hạn cố
01 năm. Chị H giao vàng cho P chị của chị PT nhận. Do không điều kiện
canh tác nên chị H cho anh B chị PT thuê lại với giá 4.000.000đ/năm.
Trong các hợp đồng cố đất chị PT và anh B không tên chỉ
Nguyễn Thị P ký tên vào hợp đồng. Hợp đồng cũng do bà P là người viết.
Tuy nhiên, thời gian gần đây chị PT anh B không trả tiền thuê đất cho chị
Hoà theo thoả thuận. Đến thời điểm này số tiền thuê đất anh B và chị PT thiếu
18.000.000đ. ChH đã nhiều lần đến nhà anh B chị PT yêu cầu trả tiền thuê đất
nhưng anh B ch PT không chịu trả chị PT đã bỏ địa phương đi đâu chị H
không biết. Sau nhiều lần đòi vàng thì bà Nguyễn Thị P đã làm biên nhận thể hiện số
vàng cố đất hai lần sau do P nhận nên P thừa nhận nợ chị H svàng 45
chỉ vàng 24Kr 9999, biên nhận ghi ngày 1/3/2022. Nay các hợp đồng cầm cố quyền
sử dụng đất cũng đã hết hạn nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết hucác hợp đồng
cầm cố quyền sử dụng đất giữa chH với anh B chị PT. Buộc anh B chị PT
nghĩa vụ trả lại số vàng đã nhận để cố đất 15 chỉ ng 24Kr 9999 buộc
Nguyễn Thị P nghĩa vụ trsố vàng đã nhận 45 chvàng 24Kr 9999. Đối với
yêu cầu chị PT anh B trsố tiền thuê đất còn thiếu 18.000.000đ thì chị H rút
yêu cầu, không yêu cầu Tán giải quyết đối với số tiền thuê đất. Đối với 03 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính thì chị H sẽ trả lại cho anh B chị PT.
- Bđơn anh Văn B tại biên bản lấy lời khai ngày 19/9/2022 trình bày:
Anh Văn B chị Nguyễn Thị PT vợ chồng. Việc chị Tô ThKim H kiện vợ
chồng anh B thi anh B có biết anh B đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của T
án các văn bản khác của Toà. Việc anh B không văn bản trình y ý kiến của
mình cũng như không đến Toà án để giải quyết vụ án anh B không nhận tiền
hay vàng của chH. Anh B thừa nhận anh B và chPT cố cho chị H diện tích đất
tại thửa 48, tờ bản đồ s58 diện tích 1.300m
2
với số vàng là 15 chvàng 24Kr 9999,
thời hạn cố 05 năm. Sau khi cố diện ch đất y thì chị H cho vợ chồng anh B
thuê lại với giá 4.000.000đ/m. Số vàng cố đất chị H giao cho vchị PT nhận,
sau khi nhận vàng chị PT đã chi i như thế nào thì anh B không biết. Tờ cố đất chỉ
3
làm một lần duy nhất ngoài ra anh B không vào tờ hợp đồng cố đất nào khác. Nay
chị H yêu cầu anh B và chPT nghĩa vụ trả số vàng cố đất là 60 chỉ vàng 24Kr thì
anh B không đồng ý. Việc cố đất chỉ cố 01 lần với số vàng 15 chỉ vàng còn số
vàng 45 chthì do anh B cho P chị của Thảo mượn giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông nội anh B ông Văn Kh để cố cho chị H P nhận vàng
chứ vợ chồng anh B không có nhận. Anh B yêu cầu số vàng 15 chỉ vàng bốn số chín
vợ chồng cố đất tchị PT nhận và chi xài riêng tchị PT có trách nhiệm trả, còn 45
chỉ vàng 24Kr 9999 bà P nhận của chị H thì bà P có trách nhiệm trả cho chị H.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị PT không văn bản trình bày ý kiến của mình
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại các phiên họp về việc kim tra việc
giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đều vắng mặt khônglý do.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị P trình bày: Ch
Nguyễn Thị PT em ruột của P, còn anh Lê Văn B em rễ. Giữa H với anh
B, chị PT thoả thuận cầm cố quyền sử dụng đất của chị PT đứng tên và hộ ông
Văn Kh đứng tên với giá tổng cộng là 60 chvàng 24Kr loại vàng 9999, sau khi thoả
thuận cố đất xong thì hai bên thoả thuận cho vợ chồng anh B chị PT thuê lại để
canh tác với giá 4.000.000đ/công/năm, trong các hợp đồng cố đất P ngưi
viết hợp đồng tên làm chứng tên dùm cho anh B luôn. Khi cố đất thì chị
PT anh B nhận 15 chỉ vàng bốn số chín cố đất ln đầu, còn c lần cố đất sau thì
P nhận dùm vợ chồng B và PT hai lần tổng cộng 45 chỉ vàng 24Kr loại vàng
9999, khi nhận vàng có mặt vợ chồng B PT nhưng vợ chồng PT kêu bà P nhận cất
dùm nên P nời trực tiếp nhận dùm 45 chỉ vàng từ H giao để P giao cất
dùm cho vợ chồng anh B chPT đã đưa cho vợ chồng anh B chị PT rồi.
Việc đưa s vàng 45 chỉ vàng 24Kr 9999 cho vợ chồng B, PT thì P không
chứng cđể chứng minh. Sau khi chị PT bỏ nhà đi không trả vàng cho chị H, chị H
đến nhà bà P đòi tbà P viết biên nhận thể hiện P thiếu của chị H 45 chỉ
vàng 24Kr loại vàng 9999, đây số vàng P nhận m cho chPT anh B
khi cố đất, nhưng do PT bỏ trốn nên P viết biện nhận thừa nhận thiếu chị Hoà số
vàng trên. Nay chị Hoà yêu cầu P phải nghĩa vụ trả số vàng nhận dùm tP
ý kiến, hiện nay chị PT đã bỏ địa phương đi đâu P không biết nên P đồng ý
trả cho chị H số vàng cố đất đã nhận của chH 45 chvàng 24Kr loại 9999 theo
như yêu cầu của chị H.
- Tại phiên toà thẩm, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh
Đồng Tháp phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật ttụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử thẩm
và Thư ký phiên toà từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã
thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị H
P đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân schấp nh nghiêm chỉnh nội quy phiên toà. Riêng anh B chPT
chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vcủa mình theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính đối
với thửa đất số 330 và thửa 342 cùng tờ bản đồ số 23 được UBND huyện Lấp Vò cấp
cho hộ ông Lê Văng Kh nhưng anh B và chị PT đã đem cố cho chH. Để có căn c
4
giải quyết toàn diện vụ án đề nghị Hội đồng xử cần đưa ông Lê Văn Kh những
người trong hộ của ông Kh vào tham gia tố tụng với tư ch những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Do
đó, Viện kiểm sát không phát biểu về nội dung giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa ý kiến phát biểu của
Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Nguyên
đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, nên xác định quan hệ
pháp luật đối với giao dịch của các đương sự “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền
sử dụng đất”, đây tranh chấp thuộc sự điều chỉnh của ngành luật dân thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn nơi cư ttại huyện Lấp Vò, nên vụ
kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân n huyện Lấp theo khoản 3
Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
[1.2] Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn anh Lê Văn B để đến
tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh B vẫn vắng mặt không do. Còn ch
PT không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố
tụng trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng chị PT cũng vắng mặt không
do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bđơn anh Văn B và ch
Nguyễn Thị PT theo quy định tại Điều 227 Điều 228 Bộ luật T tụng dân s
2015.
[1.3] Về cách đương sự: Kiểm sát viên đề nghị đưa ông Văn Kh
những người trong hộ của ông Kh vào tham gia tố tụng với cách những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, xét thấy: Giữa chị H với anh B chPT thỏa
thuận cầm cố đối với 03 thửa đất anh B, chị PT đã giao cho chị H nhận 03 bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó 02 bản chính đứng tên hộ ông
Lê Văn Kh gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BD 871525 số vào sổ
cấp GCN: CH01525 thửa số 432, tờ bản đồ s23 được UBND huyện Lấp cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Văn Kh vào ngày 20/01/2011 và
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BD 871526 số vào sổ cấp GCN:
CH01526 thửa số 330, tờ bản đồ số 23 được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất cho hộ ông Văn Khảng vào ngày 20/01/2011. Quá trình
giải quyết vụ án anh B trình y cả hai giấy chứng nhận quyền sdụng đất của hộ
ông Kh, anh B quản anh B đã giao cho chị H khi làm hợp đng cố đất. Tại
phiên tòa chị H chỉ yêu cầu anh B, chị PT P trả lại số vàng cố đất chị H
cũng đồng ý trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh B nhưng
do anh B không mặt nên chưa nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ các
đương sự không tranh chấp vviệc giữ các bản chính của giấy chứng nhận quyền
5
sử dụng đất. Như vậy, việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền lợi ích
hợp pháp của những người trong hộ ông Kh. Do đó, không cần thiết phải đưa hộ ông
Lê n Kh vào tham gia tố tụng trong vkiện này. Trường hợp những ni trong
hộ của ông Kh có tranh chấp về việc yêu cầu anh B trả lại bản chính giấy chứng nhận
quyền sdụng đất của hộ ông Kh thì quyền yêu cầu quan Nhà nước có thẩm
quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, không chấp nhận đề nghị
của Kiểm sát viên.
[2] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn chThị Kim H yêu cầu Tán
giải quyết buộc anh Văn B chị Nguyễn Thị PT nghĩa vụ trả lại số vàng c
đất 15 chỉ vàng 24Kr loại vàng bốn số 9 yêu cầu Nguyễn Thị P nghĩa v
số vàng cố đất 45 chỉ vàng 24Kr lọai vàng bốn số 9. ChH tự nguyện trả lại cho
anh B 02 bản chính đứng tên hộ ông Lê Văn Kh gồm giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số bìa BD 871525 số vào scấp GCN: CH01525 thửa số 432, tbản đồ
số 23 được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
ông Văn Kh vào ngày 20/01/2011 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
bìa BD 871526 số vào sổ cấp GCN: CH01526 thửa số 330, tờ bản đồ số 23 được
UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho hộ ông Văn
Khảng vào ngày 20/01/2011. Trả cho anh B chPT bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số bìa BT 886942 số vào sổ cấp GCN: CH04773 thửa số 48, tờ
bản đồ số 58 được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho chị Nguyễn Thị PT vào ngày 23/5/2014 và chH rút yêu cầu đối với yêu cầu anh
B và chị PT trả tiền thuê đất. Xét thấy.
[2.1] Xét tính hợp pháp của các hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất chị
H cung cấp gồm: Tgiấy có tiêu đề Tcố đấtđề ngày 17/3/2015 viết tay trên giấy
tập học sinh giữa chị Nguyễn Thị PT với chị Tô Thị Kim H. Tờ cố đất này chỉ có chị
PT người làm chứng ký tên. Tờ “Hợp đồng cố đất” đề ngày 17/3/2015, đánh máy
điền tay, bên cố đất Văn B, Nguyễn Thị PT và bên nhận cố đất Thị Kim
H không ký tên, chỉ có người làm chứng ký tên hai bên thỏa thuận cố diệnch đất tại
thửa 48, tờ bản đồ s58 vi giá là 15 chỉ vàng 24Kr 9999. Tgiấy có tiêu đề “Biên
nhận” được viết trên giấy tập học sinh đề ngày 19/5/2018 thể hiện người mượn
Văn B và Nguyễn Thị PT, người làm chứng Nguyễn Thị Ph và tờ “Hợp đồng cố đất
đề ngày 19/5/2018 đánh y và điền tay, hợp đồng chỉ ni làm chứng Nguyễn
Thị Pha Nguyễn Thị Phương L ký, bên cđất bên nhận cố đất không ký tên,
hai bên thỏa thuận cố diện tích đất tại thửa 342, tờ bản đồ số 23 với giá 15 chỉ vàng
24Kr 9999. Tờ “Hợp đồng cố đất không đngày thể hiện tháng 3 năm 2018 đánh
máy điền tay, hợp đồng chcó người làm chứng Nguyễn Thị Ph Nguyễn Thị
Phương L ký, bên cố đất và bên nhận cố đất không tên. Tờ giấy tiêu đề “Biên
nhận thế chấp” được viết trên giấy tập học sinh đề ngày 30/4/2018 bên thế chấp
Lê Văn B, Nguyn Thị PT và người m chứng Nguyễn Thị P đứng tên hai bên thỏa
thuận cố diện tích đất tại thửa 330, tờ bản đsố 23. Tại phiên tòa P chị H đều
thừa nhận các hợp đồng nêu trên đều do bà P viết, ký tên bà P còn bên cố đất và nhận
cố đất thì không ký tên, có bản tbà P ký tên dùm cho anh B chị PT. Như vậy, về
hình thức của các hợp đồng cố đất không phù hợp pháp luật. Tuy nhiên, căn c
vào lời trình y và thừa nhận của c đương sự đủ sxác định việc cố đất giữa
6
các đương sự đối với các thửa đất số 48, tờ bản đồ số 58 diện tích 1.300m
2
được
UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Th
PT vào ngày 23/05/2014, thửa đất số 342, tờ bản đồ số 23 diện ch 1.484m
2
được
UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho hộ ông Văn
Khảng vào ngày 20/01/2011 thửa đất số 330, tbản đồ số 23 diện tích 4.046m
2
được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Văn Khảng vào ngày 20/01/2011 với số vàng cố tổng cộng 60 chỉ vàng 24Kr 9999
thật. Chị H đã giao đủ số vàng cố đất nhận 03 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng các thửa đất trên.
Tuy nhiên, pháp luật về đất đai không quy định người sử dụng đất được
quyền cầm cố quyền sdụng đất nên giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất được xác
lập giữa chị H với anh B chPT không phù hợp pháp luật. Căn cứ Điều 117,
Điều 122, Điều 123, Điều 131 của Bộ luật dân sự m 2015; Điều 6, khoản 4 Điều
12, Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai m 2013, Hội đồng xét xử tuyên bhợp
đồng cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập giữa chị Tô Thị Kim H với anh Lê Văn
B và chị Nguyễn Thị PT đối với các thửa đất trên là vô hiệu.
[2.2] Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015, thì giao dịch dân sự vô
hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ của c bên kể từ
khi xác lập, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, trao trả những đã nhận. Đối
với giao dịch của các đương sự chỉ phát sinh quyền nghĩa vụ với nhau đối với số
vàng chH đã giao cho anh B, chPT, P chị H đã nhận 03 bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cố, ngoài ra c bên không phát sinh quyền
nghĩa vụ đối với việc giao nhận đất. Do đó, yêu cầu của chị H về việc yêu cầu trlại
số vàng cố đất là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Đối với chNguyễn Thị PT đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng
nhưng chị PT không văn bản trình bày ý kiến của mình đối vi yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, Tòa án cũng đã triệu tập chị PT để tham gia phiên họp về việc kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hoà giải cũng như triệu tập chPT
đến tham gia phiên tòa đến lần thhai vẫn vắng mặt không do. Như vy,
việc vắng mặt của chPT đươc xem là từ bquyền trình y, đưa ra ý kiến về yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn nên mặc nhiên chị PT đã thừa nhận toàn bộ yêu cầu
của chị H. Còn anh Lê Văn B thừa nhận vợ chồng anh B cố đất cho chH đã
nhận của chị H số vàng 15 chvàng 24Kr 9999 nhưng anh B cho rằng số vàng này
do chị PT trực tiếp nhận chi i cá nhân nên anh B không đồng ý cùng với chị PT
có nghĩa vụ trả số vàng này là không phù hợp. Tại khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân
gia đình quy định vợ chồng các nghĩa vụ chung v tài sản sau: 1. Nghĩa vụ phát
sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm”. Quá trình
giải quyết vụ án anh B cũng thừa nhận vào năm 2015 vợ chồng anh B và chị PT cùng
hợp đồng cố đất với chThị Kim H với svàng cố đất 15 chỉ vàng 24Kr
9999 chPT đã nhận đủ s vàng ch H đưa. Như vậy, Khi vợ chồng đồng
thuận cùng nhau thực hiện giao dịch dân snhư liên quan đến tài sản chung; vay
tiền; thế chấp tài sản… thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao
7
dịch đó. Do đó, buộc anh Văn B và chNguyễn Thị PT phải nghĩa vụ liên đới
trả cho chị H số vàng cố đất đã nhận 15 chỉ vàng 24Kr 9999 mới phù hợp pháp
luật.
[2.4] Đối với bà Nguyễn Thị P, P cho rằng chỉ nhận m số vàng cố đất
của anh B chị PT là 45 chỉ vàng 24Kr 9999 chứ bà P không có cố đất cho chị H
đã giao số vàng cố đất cho chị PT. Quá trình giải quyết vụ án phía anh B trình bày số
vàng cố đất mà P nhận là do anh B cho bà P mượn giấy chứng nhận quyền của sử
đất cố để lấy vàng, chứ vợ chồng anh B không nhận số vàng này. Như vậy, lời
trình bày của anh B phù hợp với lời trình bày của chH lời thừa nhận của P
đã nhận 45 chvàng 24Kr 9999 cố đất của chị H. Tại phiên tòa hôm nay P đồng ý
trả cho chị H số vàng P đã nhận khi cố đất 45 chvàng 24Kr 9999 phù
hợp. Do đó, P phải nghĩa vụ trả chị H svàng cố đất đã nhận 45 chvàng
24kr 9999.
[2.5] Đối với 03 giấy chứng nhận quyền sdụng đất bản chính phía anh B
chPT đưa cho chị H giữ gồm: 1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD
871525, vào sổ cấp GCN: CH01525 đối với thửa đất số 342, tờ bản đồ số 23, diện
tích 1.484m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, địa chthửa đất ấp An
Phú, Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 871526, vào sổ cấp GCN: CH01526
đối với thửa đất số 330, tờ bản đsố 23, diện tích 4.046m
2
, mục đích sử dụng đất
chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất ấp An Phú, Hội An Đông, huyện Lấp Vò,
tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất
cho hộ ông Văn Kh vào ngày 20/01/2011. 3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BT 886942, vào sổ cấp GCN: CH04773 đối với thửa đất số 48, tbản đồ s58,
diện tích 1.300m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất p
An Bình, Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị PT vào ngày
23/05/2014. Tại phiên tòa chị H đồng ý trả lại 02 bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho hộ ông Lê Văn Kh cho anh Văn B trgiấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được cấp cho chị Nguyễn Thị PT cho anh B chị PT. Xét thấy
đây sự tnguyện của chH phù hợp pháp luật n ghi nhận sự tự nguyện của
chị H.
[2.6] Đối với bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu các đương sự không có
yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.7] Đối với yêu cầu của chị H về việc yêu cầu anh B chị PT nghĩa vụ
trả lại số tiền thuê đất là 18.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên
tòa hôm nay chH xin rút lại yêu cầu y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó,
đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu anh B chị PT nghĩa vụ trả
lại số tiền thuê đất là 18.000.000đ (mười tám triệu đồng).
[3] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của chị Tô Thị Kim H.
8
[4] Về án phí: Theo qui định tại Điều 147 Bộ luật ttụng dân sự 2015 và Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, gim,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lphí Tòa án. Anh B chị PT phải liên đới
trả cho chị H số vàng 15 ch vàng 24Kr 9999, giá vàng tại thời điểm xét xử
5.415.000đ/chỉ x 15 ch= 81.225.000đ x 5% = 4.061.000đ. Chị H không phải chịu
án phí dân sự. Hoàn trả cho chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Nguyễn Thị P
yêu cầu miễn tiền án phí dân sự thẩm vì người cao tuổi nên miễn án phí cho
bà P.
[5] Về lệ phí tố tụng: Số tiền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
4.000.000đ (Bốn triệu đồng), chị H tự nguyện chịu phù hợp với khoản 2 Điều 180
Bộ luật tố tụng dân sự. Số tiền này chị H đã nộp và chi xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản
1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 288, Điều 273 của Bộ luật
tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều Điều 131 của Bộ luật Dân
sự 2015; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 167 của Luật đất đai 2013;
Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sdụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Tuyên x:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Kim H.
1.1. Tuyên bố hợp đồng cố quyền s dụng đất giữa bên cố đất anh Văn B
chNguyễn Thị PT với bên nhận cố đất Thị Kim H đối với thửa đất số 48, t
bản đồ số 58, đất tọa lạc tại ấp An Bình, Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng
Tháp đất được Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò cấp cho chị Nguyễn Thị PT vào ngày
23/05/2014 vô hiệu.
1.2. Tuyên bố hợp đồng cố quyền sdụng đất giữa bên cố đất anh Văn B
chị Nguyễn Thị PT vi bên nhận cố đất Thị Kim H đối với thửa đất số 330 và
thửa đất s342 cùng tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại ấp An P, Hội An Đông,
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đất được Ủy ban nhân dân huyện Lấp Vò cấp cho hộ
ông Lê Văn Kh vào ngày 20/01/2011 vô hiệu.
1.3. Buộc anh Lê Văn B chị Nguyễn Thị PT phải nghĩa vụ liên đới trả
9
cho chị Tô Thị Kim H số vàng là 15 (Mười lăm) chỉ vàng 24Kr 999.
1.4. Buộc Nguyễn Thị P phải nghĩa vụ trcho chị Thị Kim H s
vàng là 45 (Bốn mươi lăm) chỉ vàng 24Kr 9999.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Thị Kim H trả lại cho anh Văn B 02
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn
liền với đất gồm: Giấy chứng nhận quyền s dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
gắn liền có số bìa BD 871525, vào sổ cấp GCN: CH01525 đối với thửa đất số 342, tờ
bản đồ số 23, diện tích 1.484m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ
thửa đất ấp An Phú, Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, được UBND
huyện Lấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Văn Kh vào
ngày 20/01/2011 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài
sản gắn liền sbìa BD 871526, vào sổ cấp GCN: CH01526 đối với thửa đất số
330, tờ bản đồ số 23, diện ch 4.046m
2
, mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa
nước, địa chỉ thửa đất ấp An Phú, Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp,
được UBND huyện Lp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Văn Kh vào ngày 20/01/2011.
3. Ghi nhận stự nguyện của chTô Thị Kim H trả lại cho anh Lê Văn B
chị Nguyễn Thị PT bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản gắn liền số bìa số BT 886942, vào sổ cấp GCN: CH04773 đối với
thửa đất số 48, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.300m
2
, mục đích sdụng đất chuyên
trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất ấp An Bình, Hội An Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh
Đồng Tháp, được UBND huyện Lấp Vò cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho
chị Nguyễn Thị PT vào ngày 23/05/2014.
4. Đình chỉ xét xyêu cầu khởi kiện của chị Thị Kim H về việc yêu cầu
anh Lê n B chị Nguyễn Thị PT trả số tiền thuê đất 18.000.000đ (Mười tám
triệu đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Buộc anh Văn B và chị Nguyễn Thị PT phải liên đới chịu số tiền án
phí dân sự sơ thẩm là 4.061.000đ (Bốn triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
5.2. Nguyễn Thị P không phải nộp tiền ứng án phí dân sự thẩm do
được miễn.
5.3. ChTô Thị Kim H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho
chị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.700.000đ (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tán s0008706 ngày 04/4/2022 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
6. Về lệ phí tố tụng: Chị H tự nguyn chịu số tiền thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Stiền này chị H đã nộp chi
xong.
10
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự mặt được quyền kháng cáo bản án
này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng
mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết.
8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự tngười được thi hành án n sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND H.Lấp Vò;
- Chi cục THADS H.Lấp Vò;
- Lưu: VP- Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phan Văn Nội
Tải về
Bản án số 13/2023/DSST Bản án số 13/2023/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất