Bản án số 13/2021/HS-ST ngày 23/09/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 13/2021/HS-ST ngày 23/09/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 13/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN S Độc lập – Tự do – hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 13/2021/HS-ST
Ngày: 23-9-2021.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Bình Trọng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Hồng;
2. Bà Dương Thị Hoa.
- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân HUYỆN
S, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên
toà: Bà Dương Thị Hồng Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân HUYỆN S, tỉnh Lào
Cai xét xthẩm C khai vụ án hình sự thụ số: 11/2021/TLST-HS ngày 27 tháng
8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 10
tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo: G T D, tên gọi khác: G T C sinh ngày 27/3/1994 tại
HUYỆN S, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ dân phố P M, thị trấn S, HUYỆN S, tỉnh Lào
Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Hmông; giới tính: Nữ; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; con ông G S
S sinh năm 1974; con bà M T V sinh năm 1970; có chồng là S T C sinh năm 1991
02 con, con lớn sinh năm 2013 con sinh năm 2016; tiền án: Không, tiền sự:
Không. Nhân thân: Chưa án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính chưa bị
xử kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 24/6/2021, tạm giam ngày 27/6/2021; ngày được
cho tại ngoại: Không; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ C an HUYỆN S, tỉnh
Lào Cai - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thanh Quang - Trợ giúp viên Pháp C
tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp số 1 thuộc trung tâm trợ giúp pháp Nhà nước
tỉnh Lào Cai - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh S T C sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Tổ dân phố P M, thị trấn S, HUYỆN S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh G A S sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Thôn C P, xã C C, HUYỆN S, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 09 giờ ngày 24/6/2021 trong khi làm nhiệm vụ tại chợ C C thuộc
2
thôn C C S, xã C C, HUYỆN S tổ C tác C an HUYỆN S phát hiện G T D biểu
hiện nghi vấn đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi dừng xe G T D đã tự giác giao
nộp 03 gói nhỏ nilon màu đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng (D khai đó
Heroine) từ trong túi thổ cẩm đeo trên người nộp cho tổ C tác. Tổ C tác đã lập biên
bản bắt người phạm tội quả tang tạm giữ của D 03 gói nilon màu đỏ bên trong
chứa chất bột màu trắng và 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exceter màu sơn đen Biển
kiểm soát 24B-439.16.
Tại quan điều tra G T D đã khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, được
một số người nghiện nói cho biết chợ C C người bán ma túy nên khoảng 09 giờ
00 phút ngày 24/6/2021 D điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exceter Biển kiểm
soát 24B-439.16 từ nhà tại tổ dân phố P M, thị trấn S, HUYỆN S đến khu vực chợ C
C thuộc thôn C C S, C C, HUYỆN S tại đây D gặp một người đàn ông không
tên, tuổi, địa chỉ mua của người đó 03 (ba) gói nilon màu đỏ bên trong chứa chất
bột khô màu trắng là ma túy Heroine với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mục
đích để sử dụng. Sau khi mua được Heroine G T D đã cất 03 (ba) gói nilon trên vào
một túi thổ cẩm đeo trên người rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi được khoảng 200m
G T D bị tC tác C an HUYỆN S phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật
niêm phong vật chứng.
Quá trình điều tra bị cáo G T D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến các tài liệu chứng cứ khác đã trong
hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exceter màu
sơn đen Biển kiểm soát 24B-439.16, 03 (ba) gói nilon màu đbên trong chứa chất
bột khô màu trắng, 01 (một) túi thổ cẩm có 03 (ba) xéc kéo trong đó 02 (hai) xéc o
bị hỏng có kích thước 14x20cm.
Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong
giao nhận đối tượng giám định ngày 25/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sC an tỉnh
Lào Cai xác định: 03 gói nilon màu đỏ bên trong chứa chất bột khô màu trắng thu
giữ được của G T D ngày 24/6/2021 có khối lượng 0,18 (không phẩy mười tám) gam.
Tiến hành mở niêm phong, trích 0,05 (không phẩy không năm) gam từ 0,18 gam để
phục vụ giám định, niêm phong 0,13 gam sau trích mẫu giao lại quan trưng cầu
giám định.
Tại bản kết luận giám định số 162/GĐMT ngày 27/6/2021 của Phòng kỹ thuật
hình sự C an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,18 (không phẩy mười tám) gam chất bột khô
màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Đối với 0,13 (không phẩy mười ba) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám
định; 01 (một) túi thổ cẩm có 03 (ba) xéc kéo trong đó 02 (hai) xéc kéo bị hỏng có
kích thước 14x20cm chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự HUYỆN S để xử theo
quy định.
Ngoài ra còn vật chứng của vụ án chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha
Exceter màu sơn đen Biển kiểm soát 24B-439.16 mà bị cáo D sử dụng vào việc phạm
tội, kết quả điều tra chứng minh đó là tài sản riêng của người quyền lợi, nghĩa vụ
3
liên quan anh S T C sinh ngày 21/02/1991 nơi ttdân phố P M, thị trấn S,
HUYỆN S, tỉnh Lào Cai chồng của bị cáo D do bcáo D tý lấy đi sử dụng vào
việc phạm tội, khi bị cáo D lấy xe đi anh C không biết. Ngày 18/8/2021 quan
cảnh sát điều tra C an HUYỆN S đã trả lại chiếc xe này cho anh S T C đúng quy
định.
Cáo trạng số 10/CT-VKS-SMC ngày 27/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân
HUYỆN S, tỉnh Lào Cai truy tố bị can G T D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định khung hình
phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều
51 của Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo G T D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về xử vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều
47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự
tuyên tịch thu, tiêu hủy:
+ Toàn bộ số vật chứng còn lại sau khi trích mẫu giám định gồm: 0,13 gam
Heroine được cho vào túi nilon đựng mẫu tiến hành niêm phong bằng cách cho túi
nilon đựng vật chứng còn lại cùng các mảnh nilon màu đỏ niêm phong ban đầu
gửi giám định vào một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Lào Cai, tại
các mép dán của bì niêm phong mới này có chữ ký ghi rõ họ tên của P N T, B T H, L
T D, G T D, hình dấu tròn của Phòng thuật hình sự C an tỉnh Lào Cai được dán
phủ băng dính trong suốt, trên mặt còn lại của niêm phong mới này ghi: “Vật
chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang G T D ngày
24/6/2021 tại khu vực chợ C C, HUYỆN S, tỉnh Lào Cai;
+ 01 (một) túi thổ cẩm có 03 (ba) xéc kéo trong đó 02 (hai) xéc kéo bị hỏng có
kích thước 14x20cm (đã qua sử dụng).
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều
51. Cho bị cáo G T D được hưởng mức án 01 năm tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm
giữ là ngày 24/6/2021.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo G T D đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại
cơ quan điều tra, ý kiến của người bào chữa, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan, của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ vụ án.
Bị cáo người dân tộc thiểu số năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức
và hiểu biết pháp luật nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã mua của một người
lạ không biết tên tuổi, địa chỉ tại chợ C C thuộc thôn C C S, xã C C, HUYỆN S với
4
giá 300.000 đồng cất dấu vào trong túi thổ cẩm đeo trên người để về sử dụng, trên
đường đi về thì bị tổ C tác của C an HUYỆN S bắt bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 162/GĐMT ngày 27/6/2021 của Phòng kỹ thuật
hình sự C an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,18 (không phẩy mười tám) gam chất bột khô
màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin). Ngày 27/6/2021 bị cáo
D đã nhận được Thông báo kết luận giám định Công nhân là đúng.
Hành vi của bị cáo G T D như trên đã vi phạm vào khoản 1 Điều 249 của Bộ
luật hình snăm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tội ng trữ trái phép chất ma
túy”; được quy định như sau:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.......
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11
có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Hành vi của bị cáo D nguy hiểm cho hội, không chỉ xâm phạm quy định
của Nhà nước v chế độ quản các chất ma túy mà còn gây mất trật t tại địa
phương, coi thường pháp luật của Nhà nước ảnh hưởng đến trật tự an toàn hội.
vậy cần phải xử nghiêm minh, ra một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính
chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bcáo ra khỏi đời sống hội một
thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo người
nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra tại phiên tòa bị
cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng 01 tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình
sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với người đàn ông bị cáo D đã mua ma túy tại chợ C C, HUYỆN S
nhưng không tên, tuổi, địa chỉ của người này. Quá trình điều tra quan cảnh sát
điều tra C an HUYỆN S đã tiến hành xác minh nhưng không làm được, khi nào
làm rõ sẽ xử lý sau.
Về toàn bộ chứng cứ lời buộc tội của Viện Kiểm sát chứng cứ gỡ tội của
người bào chữa cho bị cáo quan điểm của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội
đồng xét xử cho bcáo được hưởng mức án 01 năm phù hợp với tình chất, mức
độ, hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma y của bcáo với khối lượng 0,18
gam Heroine nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, gia đình thuộc diện hộ
nghèo không tài sản riêng giá trị nên không áp dụng hình phạt bsung
hình phạt tiền tiền đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
Xét thấy: Toàn bộ số vật chứng còn lại sau khi trích mẫu giám định gồm 0,13
gam Heroine và 01 (một) túi thổ cẩm có 03 (ba) xéc kéo trong đó 02 (hai) xéc kéo bị
hỏng có kích thước 14x20cm (đã qua sử dụng). Đối với 0,13 gam Heroine vật Nhà
nước cấm tàng trữ, lưu hành căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình
5
sự điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu hủy; đối
với 01 (một) túi thổ cẩm có 03 (ba) xéc kéo trong đó 02 (hai) xéc kéo bị hỏng có kích
thước 14x20cm (đã qua sử dụng) là C cụ để đựng chất ma túy và đã qua sử dụng hiện
không có giá trị sử dụng nên căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình
sự điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy là đúng
quy định.
[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra C an HUYỆN
S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN S, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Trợ giúp vên
pháp bào chữa cho bị cáo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình đúng quy định
của pháp luật. Trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không ai ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
Đối với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN S tại
phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo G T D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự
thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản
1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y ban
thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình
sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23
của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản
2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo G T D tên gọi khác G T C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy”.
2. Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo G T D tên gọi khác G T C 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 24/6/2021.
3. Về việc xử lý vật chứng, tịch thu tiêu hủy:
+ 0,13 gam Heroine được cho vào túi nilon đựng mẫu niêm phong bằng cách
cho túi nilon đựng vật chứng còn lại cùng các mảnh nilon màu đỏ niêm phong
ban đầu gửi giám định vào một thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh
Lào Cai, tạc các mép dán của bì niêm phong mới này có chữ ký ghi rõ họ tên của P N
T, B T H, L T D, G T D, hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Lào Cai
được dán phủ băng dính trong suốt, trên mặt còn lại của niêm phong mới này ghi:
“Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang G T D ngày
6
24/6/2021 tại khu vực chợ C C, HUYỆN S, tỉnh Lào Cai;
+ 01 (một) túi thổ cẩm có 03 (ba) xéc kéo trong đó 02 (hai) xéc kéo bị hỏng có
kích thước 14x20cm (đã qua sử dụng). Các vật chứng này hiện đang được lưu giữ tại
Chi cục thi hành án dân sự HUYỆN S, tỉnh Lào Cai.
4. Về án phí: Bị cáo G T D tên gọi khác G T C phải chịu 200.000 đồng (hai
trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a 9 Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh;
- Sở tư pháp tỉnh;
- VKSND HUYỆN S;
- C an HUYỆN S; Đã ký và đống dấu
- CQ CSĐT CA H. S;
- Chi cục THA DS HUYỆN S;
- CQTHA Hình sự CA HUYỆN S;
- Nhà tạm giữ CA HUYỆN S; Trần Bình Trọng
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Lưu: HS, THS, THAHS.
7
Tải về
Bản án số 13/2021/HS-ST Bản án số 13/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất