Bản án số 13/2021/DS-PT ngày 15/04/2021 của TAND tỉnh Thái Bình về tranh chấp hợp đồng thuê nhà

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2021/DS-PT ngày 15/04/2021 của TAND tỉnh Thái Bình về tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Bình
Số hiệu: 13/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/04/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 13/2021/DS-PT
Ngày
15-4-2021
V/v Tranh chp hp đng thuê nhà
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH
THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Thảo.
Các Thẩm phán: Ông Trần Xuân Bằng.
Nguyễn Thị Kim Hằng.
- Thư phn tòa: Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân n tỉnh Ti Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Minh Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 08/2021/TLPT-DS ngày 08 tháng 02
năm 2021 về việc Tranh chấp hợp đồng thuê n. Do bản án dân sự sơ thẩm s
21/2020/DS-ST ngày 04 tháng 12m 2020 của Toà án nn dân thành phT, tỉnh Thái
Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số
23/2021/QĐPT-DS ngày 29 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đinh ThT1 - Sinh năm 1982.
Địa chỉ: Nhà X, đường T, khu công nghiệp P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
* Bị đơn: Anh Đặng Xuân B - Sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện VT, tỉnh Thái Bình.
Nơi làm việc: Cửa hàng K, Nhà A, đường T, khu công nghip P, thành phố T,
tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng: Công ty cổ phần thương mại tổng hợp TV.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Văn T2- Chủ tịch Hội đồng quản trị
kiêm Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn T3 - Giám đốc điều hành.
Địa chỉ trụ sở: Lô Y, đường N, khu đô thị mới phường T, thành phố T, tỉnh Thái
Bình.
* Người kháng cáo: Chị Đinh Thị T1 - Nguyên đơn.
(Chị T1, anh B, ông T3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - Chị Đinh Thị T1 trình bày: Chị yêu cầu anh Đặng Xuân B
nghĩa vụ trả tiền mượn nhà cho chị theo hợp đồng mượn nhà có điều kiện, s
05/2017/HĐMNCĐK ngày 15/02/2017 kết giữa chị anh Đặng Xuân B, tính từ
tháng 12/2018 đến thời điểm khởi kiện số tiền tạm tính là 70.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đinh Thị T1 nộp các đơn bổ sung sau: Đơn
đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án đề ngày 25/02/2020; Đơn bổ sung yêu cầu khởi
kiện đề ngày 02/3/2020; Đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 26/3/2020;
Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 25/4/2020; Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề
ngày 01/5/2020; Đơn bổ sung yêu cầu đề ngày 06/5/2020; Đơn yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời đề ngày 21/4/2020; Đơn yêu cầu đối chất và yêu cầu xem xét,
thẩm định tại chỗ đề ngày 16/4/2020; Đơn tố giác tội phạm yêu cầu khởi tố 62
quan, cá nhân, pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật đề ngày 10/7/2020; Thông báo
các sự kiện pháp để giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, hình sự đề ngày
12/10/2020; Đơn yêu cầu cung cấp hvụ án đề ngày 27/10/2020; Đơn ghi ý kiến
tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 02/12/2020.
* Bị đơn - Anh Đng Xuân B tnh bày: Tháng 02/2017, anh ch Đinh Thị T1
hợp đồng th01 gian nhà kho tại Nmáy liên hợp dệt may X, địa chỉ: Đường T,
Khu công nghiệp P, thành phố T, thời hạn thuê 05 năm, giá thuê nhà 3.000.000
đồng/tháng. Anh đã đặt cọc 36.000.000 đồng cho chị T1. Từ khi kết hợp đồng,
anh đã đóng tiền thuê nhà đầy đcho chị T1 theo quý = 9.000.000 đồng/quý và đã
đóng đến hết năm 2018. Tuy nhiên, Nhà X là tài sản được Cục thi hành án dân sự tỉnh
Thái Bình kê biên, bán đấu giá và Công ty Cổ phần thương mại tổng hợp TV (Công ty
TV) đã trúng đấu giá mua được Nhà máy trên nên ngày 01/11/2018 Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Thái Bình đã cưỡng chế và bàn giao tài sản Nhà máy liên hợp dệt may
X cho Công ty TV. Vì vậy, ngày 01/11/2018 anh đã ký kết hợp đồng thuê 01 gian nhà
3
kho nêu trên với Công ty TV để kinh doanh. Anh xác định anh không còn liên quan gì
đến hợp đồng thuê nhà đã kết với chị Đinh Thị T1. Anh không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của chị Đinh ThT1, anh không yêu cầu chị T1 trả lại số tiền đặt cọc thuê
nhà 36.000.000 đồng trong vụ án này.
* Người làm chứng - Công ty Cổ phần thương mại tổng hợp TV- người đại diện
theo ủy quyền ông Đinh Văn T3 trình bày: Do Công ty mua thành công tài sản bán
đấu giá Nhà máy liên hợp dệt may X của Xí nghip dệt HQ, đa chỉ: Đường T,
Khu ng nghip P, thành phố T, tỉnh Thái Bình nên ngày 01/11/2018, Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Thái Bình và các cơ quan liên quan đã giao tài sản trên cho Công ty TV
theo Quyết định giao tài sản số 01/QĐ/CTHADS, Quyết định số 02/QĐ/CTHADS
ngày 18/10/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình. Cùng ngày 01/11/2018,
Công ty Toan Vân anh Đặng Xuân B đã hợp đồng thuê kho số 06/2018/HĐTV,
thời gian thuê 02 năm, g thuê 3.000.000 đồng/tháng. Trước đó anh B hợp
đồng thuê kho với chị Đinh Thị T1 hay không thì Công ty TV không biết. Công ty TV
xác định không liên quan đến vụ án dân sự về việc chị Đinh Thị T khởi kiện anh Đặng
Xuân B. Công ty TV không có yêu cầu độc lập trong vụ án này và từ chối tham gia tố
tụng trong vụ án.
* Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình cung cấp:
Căn cứ 02 Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm s112/2012/KDTM-PT
ngày 26/02/2012 Bản án số 103/2013/KDTM-PT ngày 10/6/2013 của Tòa án phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình đã ban hành
Quyết định thi hành án số 05/QĐ-CTHA ngày 10/10/2012 số 09/QĐ-CTHA ngày
18/10/2018, tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật. Quá trình thi hành án do
ông Đinh Hồng Q - Gm đốc nghiệp dệt HQ không tự nguyện thi hành án nên
chấp hành viên Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ban hành quyết định cưỡng chế
kê biên tài sản số 01/QĐ-CTHADS và số 02/QĐ-CTHADS ngày 18/10/2018, Cục Thi
hành án đã tổ chức cưỡng chế giao tài sản cho người trúng đấu giá vào ngày
01/11/2018. Qtrình tchức biên, thẩm định giá, bán đấu giá, tổ chức giao tài
sản nói trên của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình đã thực hiện đúng quy định
của pháp luật.
Bản án số 21/2020/DS-ST ngày 04/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố
T, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
1. Căn cứ vào các Điều 472, 473, 474, 481 Bộ luật Dân sự; Điều 129 Luật Nhà
ở; khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
4
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T1, sinh năm 1982;
Nơi trú: Nhà X, đường T, khu công nghiệp P, thành phố T, tỉnh Thái Bình về yêu
cầu buộc anh Đặng Xuân B, sinh năm 1987; Hộ khẩu thường trú nơi trú: Thôn
L, V, huyện VT, tỉnh Thái Bình; Nơi làm việc: Cửa hàng Y, Nhà X, đường T, khu
công nghiệp P, thành phố T, tỉnh Thái Bình phải trả 70.000.000 đồng tiền thuê nhà.
3. Về án phí dân sự thẩm: Buộc chị Đinh Thị T phải nộp 3.500.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm. (Chuyển số tiền 1.750.000 đồng tạm ứng án phí chị T1 đã nộp tại
biên lai số 0009750 ngày 21/02/2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái
Bình sang thi hành án phí, chị T1 còn phải nộp 1.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra án sơ thẩm tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 17/12/2020, chị Đinh Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa
án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình. Đề ngh toà án cấp phúc thẩm giải quyết
Đơn khởi kiện số 05-2019-ĐTT/ĐXB ngày 18/7/2019; Giải quyết 54 yêu cầu bổ sung
đơn khởi kiện ngày 02/3/2020; 03 yêu cầu bổ sung trong đơn ngày 26/3/2020; 11 yêu
cầu bổ sung trong đơn ngày 25/4/2020; Các yêu cầu trong đơn bổ sung ngày
01/5/2020 ngày 06/5/2020; Giải quyết đơn tạm đình chỉ giải quyết v án ngày
25/02/2020; Đơn yêu cầu đối chất và xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/4/2020; Đơn
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 21/4/2020; Đơn ngày 10/7/2020
trong đó yêu cầu Tòa án, cơ quan thẩm quyền giải quyết trước 24 vụ việc, khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử 62 quan, nhân, pháp nhân vi phạm pháp luật hình sự,
buộc các quan, nhân, pháp nhân chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
nguyên đơn số tiền tạm tính là 6.852.758.165.200 đồng.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã kết luận quá
trình thực hiện tố tụng của Hội đồng xét xử, các đương sự đảm bảo đúng pháp luật
đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của chị Đinh Thị T1, xử giữ nguyên bản án thẩm s21/2020/DS-ST
ngày 04/12/2020 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập trong hồ vụ án, thẩm tra tại
phiên tòa và quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Chị Đinh Thị T1, anh Đặng Xuân B, ông Đinh Văn T3 có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
* Về nội dung: Xét các yêu cầu kháng cáo của chị Đinh Thị T1.
5
[1] Giải quyết Đơn khởi kiện số 05-2019-ĐTT/ĐXB ngày 18/7/2019, chị Đinh
Thị T2 yêu cầu anh Đặng Xuân B trả chị tiền thuê gian nhà kho từ tháng 12/2018 đến
khi khởi kiện là 70.000.000 đồng.
Ngày 15/02/2017 chị Đinh Thị T1 hợp đồng số 05/2017/HĐMNCĐK cho
anh Đặng Xuân B thuê 01 gian nhà kho tại Nhà X thời hạn 05 năm với giá
3.000.000 đồng/tháng. Anh B đã thanh toán tiền thuê nhà đến hết năm 2018. Tuy
nhiên ngày 01/11/2018, Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định
cưỡng chế, kê biên, xử tài sản thế chấp của nghiệp dệt HQ theo bản án kinh
doanh thương mại phúc thẩm số 112/2012/KDTM-PT ngày 26/6/2012 Bản án số
103/2013/KDTM-PT ngày 10/6/2013 của T phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao,
trong đó toàn bộ Nhà X cho đơn vtrúng đấu giá là Công ty cổ phần thương mại
tổng hợp TV. Như vậy, tính đến ngày 01/11/2018, nghiệp dệt HQ không còn
quyền lợi đối với gian nhà kho (cho anh B thuê) tại NX. vậy Hợp đồng số
05/2017/HĐMNCĐK ngày 15/02/2017 kết giữa chị T1 anh B đương nhiên hết
hiệu lực trước thời hạn. Mọi quyền lợi xuất phát từ nhà X thuộc quyền sở hữu s
dụng ca Công ty Toan Vân. Vì vậy, chị Thu yêu cầu anh B phải trả chị số tiền
70.000.000 đồng thuê gian nhà kho từ tháng 12/2018 đến khi khởi kiện là không có cơ
sở, Tán cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Định Thị T1 là có
căn cứ đúng pháp luật.
[2] Chị T1 đề nghị giải quyết 54 nội dung trong đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện
ngày 02/3/2020; 03 yêu cầu bổ sung trong đơn ngày 26/3/2020; 11 yêu cầu bổ sung
trong đơn ngày 25/4/2020; 01 yêu cầu trong đơn bổ sung ngày 01/5/2020 và 03 u
cầu trong đơn ngày 06/5/2020; đơn ngày 10/7/2020 yêu cầu Toà án, các quan
thẩm quyền giải quyết 24 vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử 62 quan,
nhân, pháp nhân vi phạm pháp luật hình sự, buộc các quan, cá nhân, pháp nhân
bồi thường cho nguyên đơn số tiền 6.852.758.165.200 đồng, xét thấy:
[2.1] Về hình thức: Các đơn khởi kiện bổ sung nêu trên đều do hai nhân là
ông Đinh Hồng Q, chị Đinh Thị T1 lập đơn không đúng quy định, ông
Đinh Hồng Q không được xác đnh tư cách t tng tham gia trong vụ án nên ông
Đinh Hồng Q không có quyền viết đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện.
[2.2] Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện bổ sung trong các đơn nêu trên không liên
quan đến hợp đồng thuê nhà số 05/2017/HĐMNCĐK kết ngày 15/02/2017 giữa
chị T1 anh B. Mặt khác, một số yêu cầu đã được giải quyết bằng bản án, quyết
định hiệu lực pháp luật một số yêu cầu không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án, đồng thời các yêu cầu đều vượt quá phạm vi đơn khởi kiện ban đầu. Căn cứ
6
khoản 1 Điều 244 Bộ luật Ttụng dân sự, Toà án cấp thẩm không chấp nhận xem
xét giải quyết các đơn khởi kiện bổ sung nêu trên là đúng pháp luật.
[3] Đơn đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án ngày 25/02/2020: Xét thấy hình
thức đơn đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án do chị Đinh Thị T1 nghiệp
dệt HQ, ông Đinh Hồng Q ký đại diện là không đúng quy định của pháp luật, đồng
thời các yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện của chị T1 không được chấp nhận nên các căn
cứ chT1 đưa ra không thuộc trường hợp tạm đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều
214 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị T1
là đúng pháp luật.
[4] Giải quyết đơn yêu cầu đối chất và xem xét thẩm định tại chỗ ngày
16/4/2020.
[4.1] Yêu cầu đối chất: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, căn cứ đơn đề
nghị đối chất của chị T1, ngày 25/6/2020, Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành phiên đối
chất giữa các bên đương sự, tuy nhiên do Công ty TV vắng mặt nên chị T1 đnghị
hoãn phiên đối chất vào ngày khác (BL 276). Ngày 16/7/2020 Toà án tiến hành phiên
đối chất lần 2 nhưng chị T1 vắng mặt không do, Công ty TV xin vắng mặt nên
việc đối chất không tiến hành được (BL 299). Việc chị T1 vắng mặt không do
coi như từ bỏ yêu cầu đối chất của mình nên Toà án đã tiến hành giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật.
[4.2] Việc xem xét thẩm định tại chỗ: Chị T1 u cầu Tòa án giải quyết buộc
anh B trả số tiền mượn nhà có điều kiện 70.000.000 đồng, hai bên không tranh chấp
về địa điểm, mặt hàng thuê hay vi phạm về việc sử dụng thuê nnên yêu cầu xem
xét thẩm định tại chỗ đối với gian nhà kho anh B thuê của chị T1 không cần thiết
do đó Toà án cấp thẩm không thực hiện việc xem xét thẩm định tại chỗ đúng
pháp luật.
[5] Giải quyết đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày
21/4/2020. Theo nội dung đơn khởi kiện, chị T1 yêu cầu anh B thanh toán tiền mượn
nhà điều kiện theo hợp đồng, quá trình giải quyết vụ án anh B luôn chấp hành đến
làm việc theo giấy báo, giấy gọi của Toà án, anh B không có hành vi cản trở đến việc
giải quyết vụ án không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người khác. Các
do khác chị T1 đưa ra đều thuộc phạm vi bổ sung yêu cầu khởi kiện nhưng không
được Tòa án chp nhận do đó không có căn cứ áp dụng khon 12 Điều 114 Bộ luật
Tố tụng dân sự để ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên Toà án cấp
sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị T1 là đúng pháp luật.
[6] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của
ch Đinh Th T1, cn gi ngun quyết đnh của bn án thẩm.
7
[7] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên chị Đinh ThT1
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; .
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Đinh Thị T1.
3. Xử giữ nguyên bản án thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 04/12/2020 của Toà
án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.
4. Ván phí: Áp dụng khoản 1 Điu 29 Nghquyết 326/2016/UBTVQH14 quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Đinh Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số
tiền 300.000 đồng chị T1 nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000041 ngày
04/01/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Thái Bình sang thi hành
án phí phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Bình;
- TA, VKS, THADS TP. T;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu HC-TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Phương Thảo
8
Tải về
Bản án số 13/2021/DS-PT Bản án số 13/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất