Bản án số 129/2019/HSST ngày 18/09/2019 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 129/2019/HSST

Tên Bản án: Bản án số 129/2019/HSST ngày 18/09/2019 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 1 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 129/2019/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2019
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 129/2019/HSST
Ngày: 18/9/2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thm nhân dân:
1. Bà Đinh Thị Ngọc Châu
2. Bà Hoàng Thị Lợi
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền Thư Tòa án
nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n: Thị Yến Như - Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hình sự thụ số: 120/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 680/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 m
2019 đối với bị cáo:
Tăng H, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1975, ti Thành phố Hồ Chí Minh; nơi
đăng hộ khẩu thường trú: 157/38/30 đường Mai Xuân Thưởng, phường X,
Quận Y, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hoa;
con ông Trần N (chết) Tăng V; chưa vợ con; nn thân: Ngày 04/7/2001,
bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xphạt 24 tháng về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túytheo bản án số 324/HSST; tiền án: Không; tin
sự: Không; bị cáo b bt tạm giam ngày 24/5/2019 tại nhà tạm giữ Công an Quận
1. (có mặt)
Nời quyền lợi, nghĩa vliên quan:
- Ông Đàm Ngọc L, sinh m 1990; nơi trú: Tổ 5, thôn Xuân Thành,
X, huyện Y, tỉnh H. (vắng mặt)
- Bà Trần Nguyệt L, sinh m: 1977; nơi trú: 157/38/30 đường Mai
Xuân Thưởng, phường X, Quận Y, Thành phố H. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
2
Do nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 24/5/2019, Tăng H điều khiển xe gắn
máy biển số: 49B1 - 14372 đến một hẻm trên đường Bùi Viện, phường X, Quận Y,
Thành phố H gặp người phụ nữ không lai lịch mua 01 gói heroine với giá
90.000 đồng đsử dụng. Khi mua xong, H điều khiển xe đến trước số 85 đường
Nguyễn Trinh, phường X, Quận Y, Thành phố H thì bị tổ tuần tra Công an
phường Nguyễn Cư Trinh tuần tra phát hiện H nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra,
H tự dùng tay trái móc trong túi quần phía trước bên trái ra 01 gói nylon chứa chất
bột màu trắng, H khai heroine nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập biên bản
bắt người phạm tội quả tang. Tại cơ quan điều tra, H khai nhận tn b nh vi
phạm tội như đãu trên.
Theo bản kết luận giám định số: 1162/KLGĐ-H ngày 31/5/2019 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong
01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2328g, loại heroine.
Bản cáo trạng số: 126/CT-VKSQ1 ngày 23/8/2019 của Viện kiểm sát nhân
dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Tăng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo
điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình s m 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm t giữ quyền công tố luận tội tranh
tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cbuộc tội, gỡ tội các tình tiết khác
của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra ơng tnhư nội
dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các i liệu, chứng cứ khác trong hồ
. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đ sở đkết luận bị cáo đã
phạm tội “Tàng trtrái phép chất ma ytheo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên a bcáo đã thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghHội đồng t xáp dụng điểm c khoản 1,
khoản 5 Điều 249; điểm s khon 1 Điều 51 Bộ lut Hình sxphạt b cáo từ 01
(một) năm 06 (u) tng đến 02 (hai) năm tù, phạt tiền bị cáo 5.000.000 (m
triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi vụ số 1162/19 chứa chất ma túy
bên trong có 0,2328g, ma tuý ở thể rắn, loại heroine.
- Trả li bị cáo 01 đin thoi di đng hiu Samsung, số Imei: 355726090861668,
sImei: 355727090861666, nhưng cn tiếp tục tạm giữ đđm bo thi hành án sau này.
- 01 xe gắn máy biển số: 49B1 - 14372, số máy: 44S1057100, số khung:
RLCL44S10BY05796 cần tiếp tục thông báo m kiếm chủ s hữu trên c
phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng, hết thời hạn trên không
3
chủ shữu hoặc người quản hợp pháp đến nhận xe thì trả lại Lan. Trong
trường hp c bên tranh chp v quyền sở hu xe trên nên dành choc bên trong
vụ án n sự khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Tăng H đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận
điều tra cáo trạng truy tố, bị cáo không ý kiến tranh tụng nói lời sau
cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu,
chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản
ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm
tội quả tang, kết luận giám định,… nên căn cứ để kết luận bị cáo Tăng H đã
hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với khối lượng 0,2328g, ma tuý thể rắn,
loại heroine. Do đó, Hội đồng xét xử đủ sở kết luận bị o Tăng H đã phạm
vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm hình phạt được quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 249 Bluật hình snhư Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố
căn cứ, đúng nời, đúng tội.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an Quận 1,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân n Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, nời tiến nh tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Hành vi phạm tội của bị o nguy hiểm cho hội, thực hiện với
quyết tâm cao. Bị cáo đủ nhận thức để biết tác hại của ma túy nhưng muốn
thỏa mãn với động cơ cá nhân nên bất chấp xem thường pháp luật cố tình phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây
nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự hội nguyên nhân làm
phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. B cáo đã bịt xử về tội tàng tr
trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục thực hin phm tội thhiện thái độ xem
thường pháp luật nên cần mức án nghiêm để giáo dục, răn đe phòng ngừa
chung cho hội.
4
[4]. Về tình tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên
tòa bị cáo thành khẩn khai o, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết
giảm nhtrách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình
sự quy định “Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do
đó bị cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung hình phạt tiền. Xét tính chất mức
độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp một khoản
tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.
[6]. Đối với người phụ nữ bán bán ma tuý cho H, quá trình điều tra chưa xác
định được nn thân lai lịch, quan điu tra Công an Quận 1 tiếp tục c minh làm
có cơ sở xử sau.
[7]. Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 gói niêm phong ghi vụ số 1162/19 chứa chất ma túy bên trong
0,2328g, ma tuý thể rắn, loại heroine thu giữ của bị cáo H cần tịch thu, tiêu
hủy.
- Đi với 01 điện thoại di động hiu hiu Samsung, số Imei: 355726090861668,
s Imei: 355727090861666 thu gi ca bị cáo H, xét không ln quan đến vụ án nên trả
li cho bo H, nhưng cần tiếp tục tm giữ đđảm bảo thi hành án sau này.
- Đi vi 01 xe gắn máy biển số: 49B1 - 14372, số máy: 44S1057100, số
khung: RLCL44S10BY05796. Qua xác minh xe trên do ông Đàm Ngọc L, sinh
m 1990; trú tại t 5, thôn Xuân Thành, X, thành phố Y, tỉnh H đứng tên chủ
sở hữu. Ông L khai, năm 2013 ông bán xe trên cho một người tên H không rõ lai
lịch nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Bị cáo H khai mượn xe trên của em gái
Trần Nguyệt L để sử dụng. L khai năm 2015, bà mua xe trên của mt người
không rõ lai lịch có giấy tờ mua bán viết tay nhưng đã thất lạc. Ngày 24/5/2019,
L cho H mượn xe sử dụng, không biết H sử dụng để mua ma túy. quan điều tra
đã đăng báo tìm chủ sở hữu nên yêu cầu quan thi hành án thẩm quyền tiếp
tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong
thời hạn 06 tháng, hết thời hạn trên không chủ sở hữu hoặc người quản hợp
pháp đến nhận xe thì trả lại L. Trong trường hợp c n có tranh chấp về quyền
sở hữu xe trên n dành cho c bên trong ván n sự khác.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2
Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số
5
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nời quyn lợi nghĩa vụ liên quan được
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: Tuyên bố Tăng H phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo
Tăng H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ
ngày 24/5/2019.
Buộc bị cáo Tăng H phải nộp phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung vào
công quỹ Nhà nước.
Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay sau
khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vsố 1162/19 chứa chất ma túy.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 259-19/PNK ngày 16/8/2019 của Công
an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Trlại bị cáo Tăng H 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei:
355726090861668, số Imei: 355727090861666, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm
bảo thi hành án sau y.
Giao 01 (một) xe gắn máy biển số: 49B1 - 14372, số máy: 44S1057100, số
khung: RLCL44S10BY05796 cho quan thi hành án thẩm quyền thông báo
tìm kiếm chủ s hữu trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06
tháng, hết thời hạn trên không chủ sỡ hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến
nhận xe thì trả lại Trần Nguyệt L. Trong trường hợp c n tranh chấp về
quyền sở hữu xe trên nên nh cho c n trong vụ án n sự khác
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 255-19/PNK ngày 16/8/2019 của Công
an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bluật tố tụng hình sự m 2015
khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
6
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí a án; bị cáo Tăng H phải chịu án phí hình ssơ thẩm
200.000 đồng.
Đối với trường hợp khoản tiền phi thu nộp o ngân ch Nhà ớc mà pháp
luật có quy định nghĩa vụ tr i; hoc khoản tin bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ v tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng
khác mà các bên không thỏa thuận về vic trlãi thì quyết định kể từ ngày bản án,
quyết định có hiu lực pháp luật ối với các trường hợp quan thi hành án
quyền chủ động ra quyết đnh thi nh án) hoặc kể từ ngày có đơn thi nh án của
người được thi nh án (đối với c khoản tiền phi tr cho người được thi nh án)
cho đến khi thi hành án xong, n phải thinh án còn phi chịu khoản tiền lãi của s
tiền còn phải thi nh án theo mc lãi suất quy định tại khoản Điều 357, Điu 468
của B luật n sựm 2015, trừ tờng hợp pháp luật có quy định khác.
Áp dụng Điều 26 Luật thi nh án dân sự; trường hợp bản án, quyết định
được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo Tăng H được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tòa tuyên án. Đối với nời tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên a t
thời hạn kng cáo 15 ngày kể tny được giao bản án hoc ngày niêm yết
bản án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tp. HCM;
- VKSND Tp. HCM;
- VKSND Quận 1, Tp. HCM;
- Chi cục THADS Quận 1, Tp. HCM;
- Công an Quận 1, Tp. HCM;
- Phòng PC 53;
- S Tư pháp Tp. HCM
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Huỳnh Ngọc Tuân
Tải về
Bản án số 129/2019/HSST Bản án số 129/2019/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất