Bản án số 1280/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1280/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1280/2026/DS-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1280/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1280/2026/DS-PT Bản án số 1280/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1280/2026/DS-PT Bản án số 1280/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1280/2026/DS-PT
Ngày 09/9/2026
“Tranh chấp hợp đồng cầm cố
và hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng.
Ông Nguyễn Hữu Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam, Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1268/2026/TLPT-DS ngày 21
tháng 7 năm 2026, về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm
2026, Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1595/2026/QĐ-PT
ngày 27 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn K, sinh ngày 01/01/1960, địa chỉ: Số nhà
B, ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1997, địa
chỉ: Số A, ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Bị đơn:
1/ Ông Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/01/1961 (có mặt).
2/ Bà Lê Thị D, sinh ngày 01/01/1962 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị D1, sinh ngày 26/8/1966 (có mặt).
2/ Anh Phạm Văn L, sinh năm 1985 (vắng mặt).
2
3/ Anh Phạm Văn C, sinh năm 1987 (vắng mặt).
4/ Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
5/ Ông Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/01/1946, địa chỉ: Số C, đường T,
khu V, phường N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
6/ Ông Lâm Thái S, sinh ngày 01/01/1972, địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố
Cần Thơ (vắng mặt).
7/ Ông Nguyễn Văn H1, sinh ngày 01/01/1969, địa chỉ: Ấp T, xã T, thành
phố Cần Thơ (vắng mặt).
8/ Ông Lê Út H2, sinh ngày 01/01/1973 (vắng mặt).
9/ Bà Nguyễn Thị L1, sinh ngày 01/01/1980 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị D là bị đơn trong vụ
án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/6/2025, đơn khởi kiện bổ sung ngày
31/10/2025 và trong quá trình giải quyết án, nguyên đơn và người đại diện
trình bày:
Vợ chồng Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị D1 (viết tắt là vợ chồng ông K)
có phần đất diện tích 14.300m², thửa đất số 55, tờ bản đồ số 7 đất toạ lạc tại ấp
T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ – Viết
tắt là thửa số 55) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Phạm Văn K.
Vào năm 1996, ông K có mua vịt của ông Nguyễn Văn H tại Hậu Giang
nhưng lúc đó điều kiện kinh tế khó khăn nên ông Nguyễn Văn B có đứng ra giới
thiệu ông H cho ông K và số tiền ông K nợ ông H là 4.932.000đ (Bốn triệu, chín
trăm ba mươi hai nghìn đồng). Do nuôi vịt chết, kinh tế thì quá khó khăn không
có khả năng trả cho ông H nên ông K đã đi làm ăn xa để có tiền trả nợ. Do ông
B là người giới thiệu nên ông H đòi ông B tiền ông K nợ mua vịt, do anh em với
nhau nên ông B thỏa thuận với ông K rằng ông B sẽ đứng ra trả nợ cho ông H
4.932.000 đồng và ông B sẽ lấy 02 công đất thuộc một phần thửa 55 của ông K
canh tác, nghĩa là ông K sẽ cầm cố phần đất 02 công tầm cấy cho ông B, khi nào
cần sẽ lấy lại bằng số tiến ông B trả cho ông H. Do tin tưởng nên ông K đồng ý
giao 2 công tầm cấy cho ông B canh tác, sự việc thoả thuận bằng lời nói không
có lập thành văn bản. Đến năm 2015, ông H có nhắc nợ nhưng do nghĩ ông B đã
trả nên ông K không nói gì, đến năm 2024 ông H tiếp tục nhắc nợ, thấy vậy ông
K liên hệ ông B hỏi sự việc, ông B cho rằng đã trả nợ cho ông H rồi. Ông H thì
cho rằng chưa trả nợ và đưa ra giấy nợ, thấy vậy ông K thanh toán nợ cho ông H
theo biên nhận nợ và có ký xác nhận của ông Nguyễn Văn H. Thực chất, ông B,
bà D đã lừa dối là trả nợ cho ông H rồi lấy đất của ông K canh tác, nay sự thật
3
ông B không có trả nợ cho ông H như lời ông B đã nói, vì vậy, ông K yêu cầu
ông B, bà D trả lại phần đất 02 công tầm cấy (nằm trong diện tích 14.300m²),
thửa số 55 thì ông B, bà D lại lật lọng cho rằng ông B, bà D nhận chuyển
nhượng nhưng không có giấy tờ gì chứng mình cho việc chuyển nhượng này.
Nay ông Phạm Văn K yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng bằng lời nói giữa ông Phạm
Văn K với ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D bị vô hiệu.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D giao trả phần đất diện
tích 2.262,7m
2
, thuộc 1 phần thửa số 55, tờ bản đồ số 7 (17) và phần đất diện
tích 985,4m
2
, thuộc 1 phần thửa số 75, tờ bản đồ số 7 (17) đất cùng toạ lạc tại ấp
T, xã T, thành phố Cần Thơ cho ông Phạm Văn K.
- Buộc vợ chồng ông Lê Út H2, bà Nguyễn Thị L1 giao trả phần đất diện
tích 647,9m
2
, thuộc 1 phần thửa số 75, tờ bản đồ số 7 (17) đất toạ lạc tại ấp T, xã
T, thành phố Cần Thơ cho ông Phạm Văn K.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị
D trình bày:
Phần đất diện tích 14.300m², thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 7, đất toạ
lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Phạm Văn K. Trong phần đất này vợ chồng ông B có canh
tác 2,5 công tầm cấy. Phần đất này có được là do vợ chồng ông B nhận chuyển
nhượng vào tháng 10 năm 1997. Việc chuyển nhượng không có làm giấy tờ,
nhưng có cha là cụ Nguyễn Văn N (đã chết năm 2003) ký tên chứng kiến. Nay vợ
chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
ông Phạm Văn K.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông Nguyễn Văn H với ông Nguyễn Văn B có mối quan hệ thông gia. Ông
H thống nhất với lời trình bày của ông Phạm Văn K về số tiền nợ mua vịt, tờ xác
nhận nợ đúng là chữ ký của ông. Việc tranh chấp giữa các bên về cầm cố đất như
thế nào thì ông H không biết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, ông Lâm Thái S trình bày:
Ông Lâm Thái S chỉ là người canh tác đất của ông Phạm Văn K. Trong
thửa số 55 diện tích 14.300m
2
, ông nhận chuyển nhượng của ông K 4.000m
2
và
thuê 5.200m
2
(phần đất này không tranh chấp). Phần còn lại ông Nguyễn Văn B
canh tác (phần tranh chấp). Năm 2024, vợ chồng ông B cho ông S thuê lại canh
tác hàng năm, diện tích là 2,5 công tầm lớn với giá 2.000.000đ/công/năm. Trong
trường hợp buộc giao trả đất cho ông K thì ông S sẽ thỏa thuận lại với ông K và
ông B. Trong vụ án này ông S không yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
4
Ông Nguyễn Văn H1 là em ruột bà Nguyễn Thị D1 (vợ ông K) và ông
Nguyễn Văn B. Phần đất diện tích 14.300m², thửa số 55 đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn K. Trong phần đất tranh chấp hiện
nay theo sơ đồ quản lý dữ liệu thì có 2 phần thuộc thửa 75 do ông Nguyễn Văn
H1 đứng tên. Nhưng thực tế không phải đất của ông Nguyễn Văn H1 do có sự
nhầm lẫn. Đất ông Nguyễn Văn H1 giáp ranh với đất của vợ chồng ông Phạm
Văn K. Thửa đất ông H1 thuộc thửa số 75, tờ bản đồ số 7, diện tích 5 công tầm
lớn (khoảng 6.500m
2
), tọa lạc tại T, xã T, thành phố Cần Thơ (viết tắt là thửa số
75). Thửa số 75 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông H1 đã
chuyển nhượng hết đất cho ông Lê Út H2. Phần đất đang tranh chấp giữa vợ
chồng ông K với vợ chồng ông B không có liên quan gì đến ông Nguyễn Văn H1.
Trong gia đình ai cũng biết đây là đất của vợ chồng ông Phạm Văn K.
Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 21/11/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan, ông Lê Út H2, bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Năm 2001, vợ chồng ông H2 có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích
647.9m
2
, thuộc một phần thửa số 75, tờ bản đồ số 7 (17) đất tọa lạc tại ấp T, xã T,
thành phố Cần Thơ của vợ chồng ông B với giá chuyển nhượng 05 chỉ vàng 24k,
việc chuyển nhượng không có lập văn bản do là bà con với nhau. Sau khi nhận
chuyển nhượng, vợ chồng ông H2 đã giao đủ số vàng 05 chỉ vàng 24k cho vợ
chồng ông B và nhận đất canh tác.
Ông Phạm Văn K cho rằng phần đất vợ chồng ông H2 canh tác là đất của
ông K và yêu cầu vợ chồng ông H2 giao trả phần đất diện tích 647.9m
2
, thuộc 1
phần thửa số 75 cho ông K thì vợ chồng ông H2 cũng đồng ý giao trả nhưng vợ
chồng ông B phải hoàn trả cho vợ chồng ông H2 05 chỉ vàng 24k. Nay vợ chồng
ông Lê Út H2, bà Nguyễn Thị L1 yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2001 giữa vợ
chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D với vợ chồng ông Lê Út H2, bà Nguyễn
Thị L1 phần đất diện tích 647.9m
2
, thuộc 1 phần thửa số 75, tờ bản đồ số 7(17)
đất tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D giao trả lại số vàng 05
chỉ vàng 24k.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm
2026, Tòa án nhân dân Khu vực 9, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
“Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Phạm Văn K.
2. Tuyên bố Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất bằng lời nói đối với diện
tích 3.896m
2
, thuộc thửa số 55 + 75, tờ bản đồ số 7 (tờ bản đồ mới số 17) đất
toạ lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ giữa ông Phạm Văn K với vợ chồng
ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D bị vô hiệu.
2.1. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D và ông Lâm Thái S
cùng có nghĩa vụ giao trả phần đất diện tích 3.248,1m
2
thuộc 1 phần thửa số 55
5
và 1 phần thửa số 75 , tờ bản đồ số 7 (tờ bản đồ mới số 17) đất toạ lạc tại ấp T,
xã T, thành phố Cần Thơ cho vợ chồng ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị Diệu .
Phần đất buộc giao trả có vị trí như sau:
Một phần của thửa số 55:
- Hướng Đông giáp thửa 1003 có số đo 40,94m + 33,74m;
- Hướng Tây giáp thửa 74 có số đo 33,46m + 25,71m + 14,14m;
- Hướng Nam giáp 1 phần thửa 75 có số đo 29,20m;
- Hướng Bắc giáp 1 phần thửa 55 có số đo 30,21m;
Diện tích: 2.262,7m
2
.
Một phần của thửa số 75:
- Hướng Đông giáp thửa 1003 có số đo 34,96m;
- Hướng Tây giáp thửa 994 có số đo 34,19m;
- Hướng Nam giáp 1 phần thửa 75 có số đo 27,87m;
- Hướng Bắc giáp 1 phần thửa 55 có số đo 29,20m;
Diện tích: 985,4m
2
.
Tổng diện tích: 3.248,1m
2
(Phần diện tích này ông Lâm Thái S đang canh
tác). (Kèm theo sơ đồ đo vẽ).
2.2. Buộc vợ chồng ông Lê Út H2, bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ giao trả
phần đất diện tích 647,9m
2
thuộc 1 phần thửa số 75 , tờ bản đồ số 7 (tờ bản đồ
mới số 17) đất toạ lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ cho vợ chồng ông
Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị Diệu . Phần đất buộc giao trả có vị trí như sau:
Một phần của thửa số 75:
- Hướng Đông giáp thửa 1003 có số đo 23,31m;
- Hướng Tây giáp thửa 994 có số đo 24,19m;
- Hướng Nam giáp 1 phần thửa 75 có số đo 26,79m;
- Hướng Bắc giáp 1 phần thửa 75 có số đo 27,87m;
Diện tích: 647,9m
2
(Kèm theo sơ đồ đo vẽ).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, vợ chồng Phạm Văn K, bà Nguyễn
Thị D1 và vợ chồng ông Lê Út H2, bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ liên hệ cơ
quan có thẩm quyền để được xem xét cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định chung của pháp luật về đất đai.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập đối với vợ chồng ông Lê Út H2, bà Nguyễn
Thị L1 cụ thể như sau:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2001 giữa vợ
chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D với vợ chồng ông H2 phần đất diện tích
6
647.9m
2
, thuộc 1 phần thửa số 75, tờ bản đồ số 7(17) đất tọa lạc tại ấp T, xã T,
thành phố Cần Thơ.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D hoàn trả lại
87.200.000đ (Tám mươi bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) cho vợ chồng ông Lê
Út H2, bà Nguyễn Thị L1 (Tương đương 05 chỉ vàng 24k, tại thời điểm xét xử).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của vợ chồng ông Lê Út H2, bà
Nguyễn Thị L1 cho đến khi thi hành án xong đối với khoản tiền phải trả mà ông
Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D chậm trả tiền thì ông B, bà D phải trả lãi đối với số
tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.”
Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D có đơn kháng
cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K, bà D1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến: Về
việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xác định phần đất tranh chấp giữa ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị
D1 và ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D: Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại
chỗ ngày 18/8/2025 của cấp sơ thẩm theo sự chỉ ranh xác định giữa các bên
đương sự thì phần đất tranh chấp có diện tích 3.896m
2
, thuộc một phần thửa đất
số 55 và một phần của thửa đất số 75, tờ bản đồ số 7 (tờ bản đồ mới số 17) đất
toạ lạc tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ, cụ thể gồm có ba phần như sau:
1/ Phần diện tích: 2.262,7m
2
, thuộc một phần thửa 55, hiện trạng ông Lâm
Thái S đang quản lý sử dụng, do thuê đất từ ông Nguyễn Văn B, cụ thể tứ cận
như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 1003 có số đo 40,94m + 33,74m;
- Hướng Tây giáp thửa 74 có số đo 33,46m + 25,71m + 14,14m;
- Hướng Nam giáp 1 phần thửa 75 có số đo 29,20m;
- Hướng Bắc giáp 1 phần thửa 55 có số đo 30,21m;
7
2/ Phần diện tích: 985,4m
2
, thuộc một phần thửa 75, hiện trạng ông Lâm
Thái S đang quản lý sử dụng, do thuê đất từ ông Nguyễn Văn B, cụ thể tứ cận
như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 1003 có số đo 34,96m;
- Hướng Tây giáp thửa 994 có số đo 34,19m;
- Hướng Nam giáp 1 phần thửa 75 có số đo 27,87m;
- Hướng Bắc giáp 1 phần thửa 55 có số đo 29,20m;
3/ Phần diện tích: 647,9m
2
, thuộc một phần thửa 75, hiện trạng ông Lê Út
H2 đang quản lý sử dụng, do nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Văn B, cụ
thể tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 1003 có số đo 23,31m;
- Hướng Tây giáp thửa 994 có số đo 24,19m;
- Hướng Nam giáp 1 phần thửa 75 có số đo 26,79m;
- Hướng Bắc giáp 1 phần thửa 75 có số đo 27,87m;
[2] Xét về tính pháp lý phần đất tranh chấp: Thửa số 55 đã được Ủy ban
nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ngày 13/6/1994 cho vợ chồng ông Phạm Văn K. Đối với thửa 75 do ông Nguyễn
Văn H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng qua xác minh ông
Nguyễn Văn H1 thừa nhận phần đất tranh chấp có diện tích 985,4m
2
(thuộc
phần số 2) + 647,9m
2
(thuộc phần số 3) tại thửa 75 là thuộc quyền sử dụng của
vợ chồng ông K, không có liên quan đến ông.
[3] Về quá trình quản lý, sử dụng: Vào năm 1997, diện tích tranh chấp
gồm (1) + (2) + (3) = 3.896m
2
, loại đất lúa, vợ chồng ông K giao cho vợ chồng
ông B quản lý sử dụng (ông K cho rằng là cầm cố, phía ông B cho rằng là
chuyển nhượng). Đến năm 2001, vợ chồng ông B chuyển nhượng phần (3) diện
tích 647,9m
2
cho vợ chồng ông Lê Út H2 với giá 05 chỉ vàng 24K (vợ chồng
ông H2 đang canh tác). Đến năm 2024, vợ chồng ông B cho ông Lâm Thái S
thuê phần (2) + (3) diện tích 3.248,1m
2
(ông Lâm Thái S đang canh tác).
[4] Ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D xác nhận nguồn gốc phần đất tranh
chấp là của vợ chồng ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị D1, nhưng vợ chồng ông
K đã chuyển nhượng cho ông B, bà D, chứng cứ chứng minh là giấy chuyển
nhượng đất do cha ruột của ông B và D1 là ông Nguyễn Văn N (ông B và bà D1
là anh em ruột) đứng ra chuyển nhượng thay cho vợ chồng ông K với giá 1,1 cây
vàng 24K và vợ chồng B đã đưa vàng cho ông N để giao lại cho vợ chồng K.
Trong giấy chuyển nhượng đất ông B cung cấp không có chữ ký xác nhận của
vợ chồng ông K, ông N đã chết vào năm 2003. Vợ chồng ông K không thừa
nhận có việc chuyển nhượng đất nêu trên, ông K cho rằng lý do giao đất cho vợ
chồng ông B quản lý canh tác là cầm cố đất để ông B trả nợ thay ông tiền mua
vịt còn thiếu của ông Nguyễn Văn H với số tiền là 4.932.000đ, đến năm 2024
ông mới biết số tiền nợ mua vịt phía ông B vẫn chưa trả cho ông H, nên ông đã
8
tự thanh toán và ông có cung cấp giấy biên nhận ông H xác nhận đã số tiền
4.932.000đ, vì vậy nay ông K yêu cầu vợ chồng ông B trả lại phần đất đã cầm cố
trước đây.
[5] Hội đồng xét xử nhận thấy về mặt pháp lý phần đất tranh chấp là thuộc
quyền sử dụng của vợ chồng ông K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng, vợ chồng B cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần đất này của vợ chồng
ông K thông qua cha ruột là ông N là chưa đúng chủ thể có quyền chuyển
nhượng đất và ông B chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông N
chuyển nhượng đất cho ông B có sự đồng ý của vợ chồng ông K hoặc có nhận
vàng của ông B, bà D. Vì vậy, cấp sơ thẩm buộc ông B, bà D phải giao trả lại
quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho ông K, bà D1 là theo giấy chứng nhận đã
được cấp là có cơ sở.
[6] Về hợp đồng cầm cố phần đất tranh chấp bằng lời nói giữa vợ chồng
ông K với vợ chồng ông B bị vô hiệu do không đúng quy định của Luật đất đai,
nên các bên có nghĩa vụ giao trả cho nhau những gì đã nhận, vợ chồng ông B và
vợ chồng ông H2 giao trả lại phần đất diện tích 3.896m
2
(Ông Lâm Thái S canh
tác 3.248,1m
2
và vợ chồng ông H2 canh tác 647,9m
2
) cho vợ chồng ông K, về số
tiền cố đất 4.932.000đ ông K đã trực tiếp trả nợ cho ông H, phía B cũng xác
nhận không có liên quan gì đến số tiền nợ này giữa ông K và ông H. Vì vậy, cấp
sơ thẩm không buộc vợ chồng K thanh toán tiền cố đất cho vợ chồng ông B là
có cơ sở.
[7] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vợ
chồng ông H2: Năm 2001, vợ chồng ông H2 có nhận chuyển nhượng phần đất
diện tích 647.9m
2
của vợ chồng ông B với giá chuyển nhượng 05 chỉ vàng 24k,
việc chuyển nhượng chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Sau khi nhận chuyển nhượng
vợ chồng ông H2 đã giao đủ số vàng 05 chỉ vàng 24k cho vợ chồng ông B và
nhận đất canh tác. Nay vợ chồng ông H2 đồng ý giao trả phần đất diện tích
647,9m
2
cho vợ chồng ông K nhưng vợ chồng ông B phải giao trả cho vợ chồng
ông H2 số vàng 05 chỉ vàng 24k. Hội đồng xét xử nhận thấy, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông B với vợ chồng ông H2 là chưa
đúng quy định pháp luật về chủ thể được quyền chuyển nhượng đất nên hợp
đồng bị vô hiệu, vợ chồng ông H2 yêu cầu hoàn trả 05 chỉ vàng 24K tương
đương số tiền 87.200.000 đồng, cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
[8] Từ các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D, chấp nhận đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D là
người cao tuổi nên thuộc trường hợp đã miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
9
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị
D, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 29 tháng 01 năm 2026,
Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
2/ Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B, bà Lê Thị D là người
cao tuổi nên thuộc trường hợp đã miễn nộp tiền án phí, được nhận lại số tiền
tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003197 ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Thi hành
án Dân sự thành phố Cần Thơ.
3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ
sung năm 2014.
Nơi nhận:
- Phòng KTNV-TT-THA TA TPCT;
- TAND Khu vực 9 – Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND Khu vực 9 – Cần Thơ;
- PTHADS Khu vực 9 – Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Quang Nhuận
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1280/2026/DS-PT Bản án số 1280/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1280/2026/DS-PT Bản án số 1280/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất