Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Giang (TAND tỉnh Hải Dương) |
Số hiệu: | 12/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 30/06/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị Nguyễn Thị Cúc xin ly hôn anh Trương Tất Thao, tranh chấp về nuôi con. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2025
"Về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN - HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc, bà Phạm Thị Bông.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hoàng Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Thanh Miện.
- Đại diện VKSND huyện Thanh Miện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thi
D - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án, Toà án nhân dân huyện
Thanh Miện, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự
thụ lý số 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh
chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-
HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 09/2025/QĐST-
HNGĐ ngày 07/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C - sinh năm 1993
Nơi cư trú: Thôn Phù Tải 2, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương.
Chỗ ở: Thôn Tiêu Sơn, xã Thanh Giang, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương.
- Bị đơn: Anh Trƣơng Tất T - sinh năm 1990
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình khai tại
Toà án và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình
bày: Chị và anh Trương Tất T, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 12/9/2014. Sau khi cưới vợ chồng
chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên
nhân là do anh T thường xuyên ghen tuông vô cớ về gây sự đánh đập chị vì các
con còn nhỏ nên chị cố chịu đựng để con có bố, có mẹ. Tháng 12/2024 chị đi mua
sắm đồ, khi đi đến thị trấn T anh T đã dùng mũ bảo hiểm đánh chị vỡ cả mũ bảo
hiểm, khi về nhà anh dùng gậy phơi quần áo đánh chị bầm tím hết cả người, từ đó
ngày nào cũng đánh đập chị thậm tệ, sau đó anh T đuổi và giao trả chị về nhà đẻ
2
ở, mẹ và anh trai chồng đã chở chị về nhà đẻ chị, chị về nhà đẻ được một tuần vì
thương nhớ các con nên chị quay về chung sống với anh T nhưng khi về chung
sống được thời gian anh T lại tiếp tục ghen tuông đánh đập chị. Ngày 01/01/2025
(tết dương lịch), anh T đã dùng dùi cui điện, chân, tay đánh đập chị thậm tệ và
khoá cửa không cho chị ra ngoài, sau đó gia đình chị biết đã đến đưa chị đi bệnh
viện điều trị. Sau khi ra viện chị về thẳng nhà đẻ ở được một ngày thì anh T đến
gây sự chửi bới, lăng mạ mẹ chị và đe doạ giết cả gia đình chị, nên chị phải đến
nhà người thân ở nhờ và vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2025 đến nay không
quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không
còn, không thể hàn gắn được, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn anh T để hai bên ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Trương Tất Thiên V,
sinh ngày 24/08/2015 và cháu Trương Tất Vinh Q, sinh ngày 28/01/2018, hai
cháu hiện đang ở với bố. Ly hôn nguyện vọng chị mong muốn được nuôi một con
nhưng anh T có nguyện vọng nuôi cả hai con, cháu V, cháu Q đều có nguyện
vọng ở với bố. Chị đồng ý theo nguyện vọng của các con và anh T. Ly hôn chị đề
nghị Tòa án giao cho anh T nuôi dưỡng cả hai con, anh T tự nguyện không yêu
cầu chị cấp dưỡng tiền nuôi con chung, chị đồng ý nhưng chị vẫn có trách nhiệm
với các con. Về tài sản chung, vay nợ, công sức: Chị không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Quá trình làm việc với Toà án, quá trình khai tại Toà án và các tài liệu
khác có tại hồ sơ, bị đơn anh Trương Tất T trình bày: Anh xác định về điều
kiện, thời gian kết hôn thống nhất như phần trình bày của chị C. Trong quá trình
chung sống anh phát hiện chị C có dấu hiệu không chung thủy với anh, anh bắt
gặp quả tang chị C tin nhắn với người đàn ông khác. Dẫn đến vợ chồng đánh, cãi
chửi nhau, vợ chồng không hòa hợp từ tháng 01/2025, vợ chồng sống ly thân mỗi
người sống một nơi, anh vẫn ở nhà cùng với bố mẹ đẻ anh, chị C sống ở nhà đẻ
chị C. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không có biện pháp nào để hàn gắn
tình cảm. Nay chị C xin ly hôn anh muốn chị C quay về để nuôi dạy các con, nếu
chị C kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị C có 02 con chung là cháu Trương
Tất Thiên V, sinh ngày 24/08/2015 và cháu Trương Tất Vinh Q, sinh ngày
28/01/2018, hai cháu hiện đang ở với anh. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cho
anh nuôi dưỡng cả hai con, anh đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng hai
con đến khi trưởng thành. Anh tự nguyện không yêu cầu chị C cấp dưỡng tiền
nuôi con chung với anh. Hiện tại anh đang làm nghề xây dựng, thu nhập bình
quân khoảng 20.000.000 đồng/tháng ngoài ra anh có nhà ở riêng, bố mẹ anh còn
khỏe mạnh nên sẵn sàng hỗ trợ cho anh việc nuôi dưỡng hai con khi anh đi làm.
Về tài sản chung, vay nợ, công sức: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
3
Lời khai của người thân gia đình chị C, bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà là
mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị C. Quá trình chung sống chị C, anh T đã phát sinh
nhiều mâu thuẫn. Bà được nghe chị C kể lại anh T thường xuyên đánh đập, chửi
mắng chị do anh T hay ghen tuông. Mỗi khi anh T đánh đập chị C thì chị C tự
cam chịu. Tối ngày 14/11/2024 (âm lịch) anh T gọi điện phản ánh với bà là chị C
đi ngoại tình sau đó chửi mắng đe dọa bà. Tối ngày 03/12/2024 (âm lịch) thì bà,
con bà và Công an xã đến nhà anh T thấy chị C bị bầm tím người nằm trên
giường, gia đình bà đưa chị C đi viện Đa khoa tỉnh Hải Dương điều trị được 03
ngày thì chị C xin về ở cùng gia đình bà. Anh T, chị C sống ly thân từ tháng
01/2025 không quan tâm đến nhau. Nay chị C xin ly hôn anh T, việc ly hôn do chị
C, anh T quyết định bà không can thiệp. Anh T, chị C có 02 con chung, các cháu
hiện đang ở với bố. Việc giải quyết nuôi dưỡng con chung bà đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh T, chị C không có
tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gì với ông bà.
Lời khai của người thân gia đình anh T, ông Trương Tiến L trình bày: Ông
là bố đẻ của anh Trương Tất T. Quá trình chung sống anh T phát hiện chị C có
quan hệ ngoài luồng, không chung thủy với anh T nên anh T ghen tuông, đánh
đập chị C ngoài ra anh chị không có mâu thuẫn gì khác. Anh T sống ly thân từ
tháng 01/2025 đến nay. Nay chị C xin ly hôn, ông đề nghị Tòa án tiến hành hòa
giải để anh chị về đoàn tụ. Nếu chị C cương quyết xin ly hôn, ông đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh T, chị C có 02 con chung, các cháu
hiện đang ở với bố. Việc giải quyết nuôi dưỡng con chung ông đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh T, chị C không
có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gì với ông bà.
Kết quả làm việc, xác minh tại chính quyền địa phương và các đoàn thể xã
T trình bày: Anh T, chị C có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T. Trong
thời gian chung sống anh T, chị C có xảy ra mâu thuẫn. Về mâu thuẫn và nguyên
nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh T, chị C địa phương không nắm được chi tiết
cụ thể. Địa phương có nghe phản án lại là anh T nghe được thông tin chị C không
chung thủy với anh T, có quan hệ tình cảm với người khác nên anh T ghen tuông
đánh đập chị C. Chị C về nhà đẻ ở từ tháng 01/2025 đến nay và vợ chồng sống ly
thân từ đó. Nay chị C xin ly hôn anh T, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Tại bản tự khai của cháu Trương Tất Thiên V và cháu Trương Tất Vinh Q
trình bày: Cháu V và cháu Q đều có nguyện vọng ở với bố khi bố mẹ ly hôn vì
anh em không phải sống xa nhau, cuộc sống của các cháu đang ổn định.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương phát
biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật. Trong quá trình giải quyết và tại phiên
tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng trình
tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị
4
đơn chấp hành không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải
quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 Luật
Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Trương
Tất T.
Về con chung: Giao cháu Trương Tất Thiên V, sinh ngày 24/08/2015 và
cháu Trương Tất Vinh Q, sinh ngày 28/01/2018 cho anh Trương Tất T nuôi
dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu
cầu chị C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom
con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, vay nợ, công sức: Chị Nguyễn Thị C và anh Trương Tất
T, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ
thẩm ly hôn, được đối trừ vào tiền tạm án phí số BLTU/23/0006856 ngày
07/02/2025 chị đã nộp.
NhËn ®Þnh cña tßa ¸n:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị C là nguyên đơn có đơn khởi kiện xin ly
hôn anh Trương Tất T là bị đơn; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải
Dương; Quan hệ pháp luật là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình quy định tại
khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểu a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Chị C nộp đơn
khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, tại phiên tòa lần thứ hai anh T vẫn
vắng mặt không có lý do, chị C có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội
đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật
Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Trương Tất T kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải
Dương ngày 12/9/2014. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ khi đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào trình bày của chị
C, lời trình bày của người thân hai bên gia đình và tài liệu thu thập chứng cứ có
cơ sở xác định: Trong quá trình chung sống chị C, anh T sống hòa thuận, hạnh
phúc đến tháng 12/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T ghen
tuông vô cớ về đánh đập chị thậm tệ, nhiều lần, có lần phải đi viện điều trị, chị về
nhà đẻ ở từ tháng 01/2025 và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan
tâm đến cuộc sống của nhau. Chị C xác định tình cảm giữa chị và anh T không
5
còn, không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh T. Anh T xác định
trong quá trình chung sống chị C không chung thủy với anh dẫn đến vợ chồng
đánh, cãi chửi nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2025 mỗi người sống một
nơi, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không có biện pháp nào để hàn tình
cảm. Nay chị C xin ly hôn anh muốn chị C quay về đoàn tụ để nuôi dạy các con,
nếu chị C kiên quyết xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Khi Tòa án
báo gọi hoà giải và khi xét xử anh T không chấp hành theo giấy báo của Tòa án,
chứng tỏ anh T không có thiện trí để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nên anh
không hợp tác với Tòa án. Nhận thấy hôn nhân giữa chị C, anh T đã lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được, cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị C được ly hôn anh T. Vì vậy
xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn Trương Tất T là phù hợp quy định tại Điều
56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị C, anh T có 02 con chung là cháu Trương Tất Thiên
V, sinh ngày 24/08/2015 và cháu Trương Tất Vinh Q, sinh ngày 28/01/2018.
Cháu V, cháu Q đang ở với bố. Xét về nguyện vọng của cháu V, cháu Q có
nguyện vọng được ở với bố. Anh T có nguyện vọng được nuôi cả hai con, anh tự
nguyện không yêu cầu chị C cấp dưỡng tiền nuôi con chung với anh. Chị C đồng
ý với nguyện vọng của các con và anh T, chị đề nghị Tòa án giao cho anh T nuôi
dưỡng cả hai con, anh T không yêu cầu chị cấp dưỡng tiền nuôi con chung nhưng
chị có tranh nhiệm với các con. Anh T đang làm xây dựng thu nhập khoảng
20.000.000 đồng/tháng, bố mẹ anh vẫn khoẻ mạnh, sẽ tạo điều kiện và giúp anh
nuôi con. Các cháu đang ổn định trường lớp, chỗ ở. Để đảm bảo quyền lợi về mọi
mặt và sự phát triển của cháu V, cháu Q, Hội đồng xét xử cần giao cháu V, cháu
Q cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị C không
phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh T và vẫn có quyền đi lại thăm nom con
chung, không ai được cản trở phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và
gia đình.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị C và
anh Trương Tất T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị C khởi kiện vụ án Hôn nhân và gia đình nên
phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ
luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và
gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án.
6
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Trương
Tất T.
2- Về con chung: Xử giao cháu Trương Tất Thiên V, sinh ngày 24/08/2015
và cháu Trương Tất Vinh Q, sinh ngày 28/01/2018 cho anh Trương Tất T tiếp tục
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự
nguyện của anh T về việc không yêu cầu chị C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3-.Về tài sản chung, vay nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị đã nộp
theo biên lai ký hiệu: BLTU/23, Số: 0006856 ngày 07/02/2025 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, chị C đã thực hiện xong
nghĩa vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án
sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Thanh Miện;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Chi cục THADS huyện Thanh Miện;
- UBND xã Thanh Giang, huyện Thanh
Miện;
(để ghi vào sổ hộ tịch).
(CNKH số 46; ngày 12/9/2014);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đào Quang Khuyến
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm