Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cao Lộc (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 12/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/09/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xác định tình trạng hôn nhân của chị Nông Ngọc Á và anh Hoàng Văn Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Ngọc Á, cho chị Nông Ngọc Á được ly hôn với anh Hoàng Văn Q là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN
Bn án s: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05-9-2024
V/v: Ly hôn, tranh chp nuôi con.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hường
2. Bà Tô Thị Lợi.
- Thư phiên toà: Quỳnh Anh - Thư Toà án nhân dân huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Bà Vũ Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc,
tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thẩm thụ số:
26/2024/TLST-HNngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ
ngày 09/8/2024 Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày
28/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Ngọc Á, sinh năm 2003; nơi trú: Số nhà C,
đường B, khối I, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- B đơn: Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1998; nơi trú: Thôn B, xã T,
huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2024, bản tự khai tại phiên tòa
nguyên đơn chị Nông Ngọc Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Hoàng Văn Q tổ chức cưới hỏi theo
phong tục tập quán năm 2019, đến ngày 10/12/2021 chị anh Hoàng Văn Q
mới đến Ủy ban nhân dân phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đăng kết
hôn. Sau khi cưới hai vchồng chung sống với nhau hạnh phúc, đến đầu năm
2020 thì phát sinh những mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Hoàng Văn Q thường
2
xuyên qua lại với người phụ nữ khác, khi về lại đánh đập chị, nhưng chị đều bỏ
qua, nhưng đến năm 2022 chị và anh Hoàng Văn Q vẫn xảy ra nhiều mâu thuẫn,
nên anh Hoàng Văn Q đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, chị và anh Hoàng Văn Q
chính thức sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, chị xác định không còn tình
cảm với anh Hoàng Văn Q, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn
với anh Hoàng Văn Q.
Về con chung: Chị anh Hoàng Văn Q 01 con chung Hoàng Nông
Hải Đ, sinh ngày 09/11/2020, hiện nay đang cùng chị. Khi ly hôn, chị
nguyện vọng được nuôi cháu Hoàng Nông Hải Đ không yêu cầu anh Hoàng
Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung, cho vay chung: Không có.
Đối vi b đơn anh Hoàng Văn Q sau khi th lý v án, Tòa án đã tiến hành
triu tp nhiu ln tống đạt văn bn theo quy định ca pháp luật, các văn bn
như: Thông báo về vic th lý v án, Thông báo v phiên hp kim tra vic giao
np, tiếp cn, công khai chng c hòa giải, nhưng anh Hoàng Văn Q c tình
vng mặt, không đến Tòa án đ thc hin vic giao np, tiếp cn, công khai
chng c và hòa gii, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã
tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét x hp l theo quy đnh ca B lut T
tng dân s.
Sau khi thụ vụ án Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác
định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều
208 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại công văn s452/UBND-CAX ngày 17/6/2024
của Ủy ban nhân dân T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, cung cấp các thông tin:
Tình trạng hôn nhân của chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q bình thường,
không xảy ra tình trạng bạo lực gia đình, chị Nông Ngọc Á và anh Hoàng Văn Q
đăng kết hôn ngày 10/12/2021. Sau khi kết hôn, chị Nông Ngọc Á anh
Hoàng Văn Q đi làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 29/7/2024 ti thôn Bn Cm, T, huyn C, tnh Lạng Sơn, Toà án
tiến hành xác minh vi bà Nông Th L và ông Hoàng Văn T là b m đẻ ca anh
Hoàng Văn Q, hai ông cho biết: Chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q tìm
hiểu nhau và tổ chức đám cưới năm 2019, đến năm 2021 mới đi đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, chị
Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q chung sống cùng mđẻ chị Nông Ngọc Á
tại số nhà C, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn anh Hoàng
Văn Q tiếp tục đi làm xa không về nhà, nên gia đình không nắm được nguyên
nhân mâu thuẫn giữa chị Nông Ngọc Á và anh Hoàng Văn Q.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/8/2024 bà Nguyễn Hạ S là mẹ đẻ của chị
Nông Ngọc Á trình bày: Chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q đã một thời
gian tìm hiểu nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới theo
phong tục tập quán vào năm 2019, đến ngày 10/12/2021 mới đi đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn chị
Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q chung sống với gia đình nhà nội được 01
3
tháng thì về chung sống với gia đình bà tại số nhà C, đường B, phường H, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống, bà thấy chị Nông Ngọc Á
anh Hoàng Văn Q hay xảy ra cãi nhau, thậm chí anh Hoàng Văn Q còn đánh chị
Nông Ngọc Á. Đến năm 2022 anh Hoàng Văn Q đi làm ng nhân tại Công ty
tỉnh B, khi được nghỉ anh Hoàng Văn Q về nhà mẹ đẻ thôn B, T, huyện C,
tỉnh Lạng Sơn. Anh Hoàng Văn Q chị Nông Ngọc Á đã sống ly thân từ năm
2022 đến nay. Việc chị Nông Ngọc Á nộp đơn xin ly hôn với anh Hoàng Văn Q
tại Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn bà có biết. Quan điểm của bà
thấy tình cảm giữa chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q đã phát sinh mâu
thuẫn từ lâu, đã đến mức trầm trọng, đnghị Tòa án nhân dân huyện Cao
Lộc, tỉnh Lạng Sơn giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn do đó tòa án sẽ căn cứ các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Về thẩm quyền thụ
vụ án; xác định mối quan hệ tranh chấp; xác định cách của những người tham
gia tố tụng; việc giao nộp chứng cứ; việc thu thập chứng cứ lấy lời khai của
đương sự; việc tống đạt các văn bản tố tụng; việc thông báo, thành phần, trình tự
về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải;
thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn gửi hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu
gửi các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng theo các Điều
28, 35, 68, 96, 97, 175, 177, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét
xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định về việc viết bản tự khai
cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định; bị đơn chưa thực hiện các quyền
và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét x căn cứ
khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83
của Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147,
điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố Tụng dân s; điểm a
khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết s326/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Ngọc
Á, cho chị Nông Ngọc Á được ly hôn với anh Hoàng Văn Q.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Nông Hải Đ cho chị Nông Ngọc Á trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi
con: Anh Hoàng Văn Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con, do chị Nông Ngọc
Á không yêu cầu. Anh Hoàng Văn Q quyền thăm nom con chung không ai
được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không có.
4
Về án phí: Chị Nông Ngọc Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án
ly hôn theo quy định của pháp luật 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Văn Q Toà án đã thực hiện thủ
tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, như: Thông báo thụ lý vụ án,
Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ...
Tòa án đã triệu tập bị đơn anh Hoàng Văn Q hợp lệ lần thứ nhất để đưa ra xét xử
nhưng anh Hoàng Văn Q vắng mặt không có lý do, nên phải hoãn phiên tòa. Tại
phiên tòa hôm nay, anh Hoàng Văn Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn
anh Hoàng Văn Q.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 17/4/2024 chị Nông Ngọc Á
gửi đơn xin ly hôn với anh Hoàng Văn Q yêu cầu giải quyết về con chung,
nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn, tranh chấp vnuôi con theo khoản 1
Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: ChNông Ngọc Á và anh Hoàng Văn Q kết hôn
với nhau trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường
H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 10/12/2021 hôn nhân hợp pháp. Sau
khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đã 01 con chung Hoàng
Nông Hải Đ, sinh ngày 09/11/2020. Sau một thời gian chung sống thì hai bên
phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, hai bên
không tìm được tiếng nói chung. Đến cuối năm 2022 thì hai bên sống ly thân
cho đến nay. Chị Nông Ngọc Á đã nộp đơn ly hôn tại Tòa án và được Tòa án thụ
vụ án vào ngày 06/5/ 2024, tại đơn xin ly hôn, bản khai và tại phiên tòa chị
Nông Ngọc Á xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị tòa án giải quyết
cho ly hôn với anh Hoàng Văn Q. Còn anh Hoàng Văn Q, trong quá trình giải
quyết vụ án không chấp hành Giấy triệu tập của Tòa án, không trình bày ý kiến
đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nông Ngọc Á, việc anh Hoàng Văn Q không
đến Tòa án để trình bày ý kiến thể hiện anh Hoàng Văn Q không muốn hàn gắn
tình cảm vợ chồng. Mặc dù, chị Nông Ngọc Á không đưa ra được tài liệu chứng
minh về mâu thuẫn gia đình như chị trình bày. Tại Công văn số 452/UBND-
CAX ngày 17/6/2024 của Ủy ban nhân dân T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, xác
nhận tình trạng hôn nhân của chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q bình
thường, không xảy ra tình trạng bạo lực gia đình, chị Nông Ngọc Á anh
Hoàng Văn Q đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố L,
tỉnh Lạng Sơn ngày 10/12/2021. Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm
5
2014 thì: Vợ chồng nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia
đình. Điều đó cho thấy chị Nông Ngọc Á và anh Hoàng Văn Q đã không còn
yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau và đã sống ly thân, nên có căn cứ xác định
tình trạng hôn nhân của chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q đã lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình chấp nhận
yêu cầu xin ly hôn của chNông Ngọc Á, cho chNông Ngọc Á được ly hôn với
anh Hoàng Văn Q là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về con chung: Chị Nông Ngọc Á anh Hoàng Văn Q 01 con
chung Hoàng Nông Hải Đ, sinh ngày 09/11/2020. Khi ly hôn chị Nông Ngọc
Á yêu cầu người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung. Hội đồng xét xử thấy hiện nay cháu Hoàng N Hải Đăng đang cùng chị
Nông Ngọc Á, cháu vẫn được chăm sóc tốt đảm bảo các quyền lợi, nên cần
giao cho chị Nông Ngọc Á trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chung là cháu Hoàng Nông Hải Đ. Anh Hoàng Văn Q có quyền và nghĩa vụ
thăm nom con chung không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã giải
thích quyền được yêu cấp cấp dưỡng nuôi con, nhưng ch Nông Ngọc Á
không yêu cầu anh Hoàng Văn Q cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét
xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung, nợ chung và cho vay nợ chung: Không có.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quy
định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn
cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị
Nông Ngọc Á phải chịu án phí dân sự thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định
của pháp luật.
[9] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57,
Điều 58, Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân
Gia đình năm 2014;
6
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235,
Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết s
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Ngọc
Á, cho chị Nông Ngọc Á được lyn anh Hoàng Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Nông Hải Đ, sinh ngày 09/11/2020
cho chị Nông Ngọc Á trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho
đến khi con đủ 18 tuổi; anh Hoàng n Q không phải cấp dưỡng nuôi con
quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Nông Ngọc Á phải chịu tiền án phí dân sự
thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để nộp ngân
sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số BLTU23 số
0000874 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn thu ngày
06/5/2024.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nông Ngọc Á mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hoàng
Văn Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Quyền thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
- THADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- UBND phường Hoàng Văn Thụ, TP. Lạng
Sơn, T. Lạng Sơn;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Đặng Thị Duyện
Tải về
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất