Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST ngày 23/06/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST ngày 23/06/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 12/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2021.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Vĩnh Thái
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Thanh Nguyên.
2. Ông Bùi Ánh Dương.
Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư Tòa án nhân dân huyện
Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Lào Cai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại trụ sTòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh
Lào Cai xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 20/2021/TLST-HN Ngày
03/3/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử s: 12/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/6/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chơng ThT, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện
V, tỉnh L - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vi Văn T, sinh năm 1992. Đa chỉ: Thôn Đ, L, huyện V, tỉnh
Li - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chng: Ông Vi Văn T1, sinh năm 1972. Địa ch: Thôn Đ, L, huyn
V, tnh L - Vng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án
nguyên đơn chị Lương Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn T tnguyện đăng kết hôn ngày
18/01/2013 tại Ủy ban nhân dân L, huyện V, tỉnh L. Vợ chồng anh chị chung sống
hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T nghiện
ma túy, không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị đã khuyên giải
nhiều lần nhưng không được. Do đó, đầu năm 2019 ch chuyển vnhà bố mẹ đẻ
thôn B, xã K, huyện V sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, bỏ mặc nhau
trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không
hàn gắn hạnh phúc được. Đến tháng 6/2020 anh Vi Văn T bị bắt đi cai nghiện ma túy
với thời hạn 12 tháng tại sở cai nghiện ma túy số 01 tỉnh L. Đến nay chị xác định
tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trng, mục đích hôn nhân
không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn giải quyết cho
chị được ly hôn với anh Vi Văn T.
2
Về con: Chị anh Vi Văn T 01 con chung cháu Vi Mạnh C, sinh ngày
07/12/2014. Hiện cháu đang sống cùng chị, khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Vi Mạnh C cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị không
yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị và anh Vi Văn T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị anh Vi Văn T không vay nợ ai, không cho ai vay nợ nên chị
không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn anh Vi Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Thống nhất như lời trình bày của chị Lương Thị T về thời gian
kết hôn, quá trình chung sống, việc anh nghiện chất ma túy bị bắt đi cai nghiện 12
tháng tại scai nghiện ma y số 1 tỉnh L, hiện nay anh đã chấp nh xong quyết định
cai nghiện trở về địa phương. Tuy nhn về u thuẫn vợ chồng anh cho rằng mặc
bị nghiện chất ma túy nng anh vẫn quan tâm đến vợ con, chị T mới là người bỏ mặc,
không quan tâm đến anh. Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai anh không nhất trí ly
n nhưng tại đơn xét xử vắng mặt gửi Tòa án tđến nay anh thấy tình cảm vợ chồng
không n, chị T xin ly n anh cũng nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh T c định anh và chị T có 01 con chung, cháu Vi Mạnh C,
sinh ngày 07/12/2014. Ly hôn anh nhất trí giao cháu Vi Mạnh C cho chị Lương Thị T
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi không cấp
dưỡng tiền nuôi con chung.
Ủy ban nhân dân xã L cung cấp thông tin: Việc đăng ký kết hôn và anh chị
01 con chung là cháu Vi Mạnh C như các đương sự trình bày là đúng.
Công an xã L xác nhận: Anh Vi Văn T và chị Lương Thị T không chung sống
với nhau từ đầu năm 2019 chị T chuyển về sống cùng Bố, Mẹ đẻ ởK, huyện V.
Anh T nghiện chất ma túy ngày 08/6/2020 bị bắt đi cai nghiện bắt buộc với thời
hạn 12 tháng.
Chơng Thị T anh Vin T đơn đề nghị không tiến nh a giải nên v
án thuộc trường hợp không tiếnnh hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207
của Bluật Tố tụng dân sự. Ngày 04/5/2021, Tòa án đã tiến nh phn họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thông o kết quphn họp cho anh T, anh
kng có ý kiến gì.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* V vic tuân theo pháp lut t tng trong quá trình gii quyết v án: Thm phán,
Thư a án, Hi đồng xét x trong qtrình th lý, gii quyết v án đã thc hin
đúng trình t, th tc được pháp lut quy định ca B lut T tng dân s. c đương
s chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của nh theo pháp luật tố tụng Dân sự.
* Về nội dung vụ án: Đề ngh Hội đồng xét xáp dụng Khon 1 Điều 56, các
Điều 81, 82, 83 Luật n nhân và Gia đình. c Điều 228, 229, 238 và Khoản 4
Điều 147 Bộ lut Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Ngh quyết số:
326/2016/UBTVQH 14 quy định v mức thu, min, giảm, thu, nộp quản lý và s
dụng án phí, lệ phía án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị
Lương Thị T được ly hôn với anh Vi Văn T.
3
- Về quan hệ con chung: Giao cháu Vi Mạnh C, sinh ngày 07/12/2014 cho chị
Lương Thị T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi,
anh Vi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Lương Thị T phải chịu án phí vụ án theo quy định Pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết
quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của
pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị ơng Thị T khởi
kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con với b đơn anh Vi n T, nơi trú tại: Thôn Đ,
L, huyện V, tỉnh L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự c định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết củaa án
nn dân huyện Văn n, tỉnh Lào Cai và quan hpp lut : Ly n, tranh chp vnuôi
con khi ly hôn.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia ttụng: Các đương sự vắng mặt
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng có lời khai trong quá trình điều
tra, vắng mặt không do. vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng
dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Lương Thị T anh Vi Văn T kết hôn
trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã
L, huyện V, tỉnh L như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T anh T là hôn nhân hợp
pháp. Qua xác minh tại địa phương và chứng cứ do đương sự cung cấp xác định sau
khi kết hôn anh ch chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2016 thì bắt đầu phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T đua đòi cùng bạn dẫn đến nghiện chất ma túy
nên không tu chí làm ăn, bỏ không quan tâm đến gia đình, con cái. Chị T đã khuyên
giải nhiều lần nhưng anh T không thay đổi nên đến năm 2019 chị T đã bỏ về nhà Bố,
Mẹ đẻ tại thôn B, xã K sinh sống và vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau
nữa cả về tình cảm cũng như kinh tế. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình
khuyên giải nhưng không thành. Đến ngày 08/6/2020 anh T bị bắt buộc cai nghiện tập
trung với thời hạn 12 tháng. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích
hôn nhân không đạt được, chị T xin ly hôn, anh T cũng nhất trí. Do đó, Hội đồng xét
xử chấp nhận yêu cầu của khởi kiện chị Lương Thị T về việc ly hôn với anh Vi Văn
T.
[4] Về nuôi con chung: Xét thấy, chị Lương Thị T và anh Vi Văn T có 01 con
chung cháu Vi Mạnh C, sinh ngày 07/12/2014. Chị T, anh T đã thống nhất việc
người trực tiếp nuôi con. Chị T thu nhập hàng tháng khoảng 6.000.000đ, đủ điều
kiện để nuôi dưỡng cháu C. Anh mới chấp hành xong quyết định cai nghiện bắt
buộc, chưa có việc làm, thu nhập. Mặt khác cháu C hiện đang sống cùng chị T, do đó
tiếp tục giao cháu C cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi
cháu đủ 18 tuổi là phù hợp và đảm bảo được cuộc sống cũng như học tập của cháu C.
[5] Vtài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng
xét xử không đề cập giải quyết.
4
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Lương Thị T phải chịu toàn bộ án phí theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình.
Khoản 4 Điều 147; Điều 238 Blut Ttng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và s
dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn với anh Vi Văn T.
- Về nuôi con: Chị ơng ThT trực tiếp chăm c, nuôi ỡng, giáo dục cháu Vi
Mạnh C, sinh ngày 07/12/2014 cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Anh Vi n T không
phải thực hiện nghĩa vụ cấp ỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con ng các thành viên gia đình không được cản trở người
không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2/ Về án phí: Chị Lương Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai số AB/2012/0001752 ngày 02/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Lương Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự
thẩm. Anh Vi Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án
Dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
Dân sự.
Nơi nhận T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tỉnh(01); Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh(01);
- VKSND huyện(01)
- UBND xã L(01);
- Chi cục THADS(01);
- Các đương sự(02);
- Lưu HS, Văn phòng.
Triệu Vĩnh Thái
Tải về
Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST Bản án số 12/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất