Bản án số 12/2020/DS-PT ngày 13/02/2020 của TAND tỉnh Trà Vinh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 12/2020/DS-PT ngày 13/02/2020 của TAND tỉnh Trà Vinh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Trà Vinh
Số hiệu: 12/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Đoàn Văn T với Nguyễn Văn M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số: 12/2020/DS-PT
Ngày 13-02-2020
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Hoàng Vân.
Ông Trần Văn Dựa.
Ông Huỳnh Đắc Đương.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thơ - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông
Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 17/2020/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm
2020 về việc “Tranh chaáp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 24/2019/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2020/QĐ-PT ngày 16
tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của ông Đoàn Văn T: Ông Lâm Khắc S, sinh
năm 1977 theo văn bản ủy quyền ngày 13/02/2020 (có mặt).
Địa chỉ: số 34 đường K, khóm A, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1949 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn M: Ông Phan Văn H, sinh
năm 1963 theo văn bản ủy quyền ngày 16/01/2020 (có mặt).
Địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950 (có mặt).
3. Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1976 (vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1977 (vắng mặt).
5. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1980 (vắng mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
6. Ông Nguyễn Quốc M, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H,
Nguyễn Thị Q và ông Nguyễn Quốc M: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950 theo
văn bản ủy quyền ngày 09/01/2019 (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Mai Thị T, sinh năm 1970 (có mặt).
2. Bà Đoàn Thị Bảo T, sinh năm 1995 (vắng mặt).
3. Ông Đoàn Quốc H, sinh năm 1996 (vắng mặt).
4. Bà Võ Thị Cẩm T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của Mai Thị T: Ông Lâm Khắc S, sinh năm
1977 theo văn bản ủy quyền ngày 13/02/2020 (có mặt).
Địa chỉ: số 34 đường K, khóm A, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của Đoàn Thị Bảo T ông Đoàn Quốc H:
Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1966 theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2018 (có
mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người đại diện hợp pháp của Thị Cẩm T: Bà Nguyễn Thị C, sinh
năm 1950 theo văn bản ủy quyền ngày 09/01/2019 (có mặt).
Địa chỉ: ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Cbị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 m 2018, đơn khởi kiện bổ sung
ngày 23 tháng 4 năm 2019, các lời khai trong quá trình giải quyết v án của
nguyên đơn ông Đoàn Văn T lời khai của ông Lâm Khắc S người đại diện
hợp pháp cho nguyên đơn ông Đoàn Văn T tại phiên t hôm nay, trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất 3.090m
2
, thửa số 71, tờ bản đồ số 0002 diện tích đất
920m
2
, thửa số 72, tờ bản đsố 0002, cùng tọa lạc tại ấp X, P, huyện C, tỉnh
Trà Vinh là của cha ông là ông Đoàn n U cho ông, ngày 18/12/1991 ông được
Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên thửa đất
số 71, 72 gia đình ông đào một đường nước chiều ngang khoảng 2.5m, chiều
dài 63m với tổng diện tích thực đo 162.4m
2
gia đình ông sử dụng từ năm
1985 cho đến nay. Giáp ranh với đất của ông thửa số 63, tờ bản đồ số 2, diện
tích 2.080m
2
thửa số 64, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.660m
2
của hộ ông
Nguyễn Văn M. Trong quá trình sử dụng đất, gia đình ông M đã lấn qua thửa đất
số 71, 72 của ông. Nay ông yêu cầu hộ ông M, gồm: Ông Nguyễn n M,
Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H, bà Nguyễn Thị Q, ông
Nguyễn Quốc M Thị Cẩm T trả lại cho ông tổng diện tích đất thực đo
162.4m
2
. Trong đó, thửa A diện tích 46.8m
2
thuộc thửa số 72, tờ bản đồ số 0002
nằm trong tổng diện ch 920m
2
, loại đất thổ quả thửa A1 diện tích 115.6m
2
thuộc thửa số 71, tờ bản đồ số 0002 nằm trong tổng diện tích là 3.090m
2
, loại đất
ruộng 2 vụ lúa, cùng tọa lạc tại ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
3
Tại bản tự khai ngày 13 tháng 01 năm 2019, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án của bị đơn ông Nguyễn Văn M lời khai của ông Phan Văn H
người đại diện hợp pháp cho bị đơn ông Nguyễn Văn M tại phiên toà hôm nay,
trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 63, diện tích 2.080m
2
thửa đất số 64, diện
tích 1.660m
2
, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp X, P, huyện C, tỉnh Trà Vinh
của ông Nguyễn Văn M và Nguyễn Thị C chuyển nhượng của bà Lâm Thị
B (Tùng) vào năm 1982, ngày 25/9/1997 Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hông M, sau khi chuyển nhượng gia đình
ông M sử dụng đất cho đến nay. Thửa đất số 63, 64 của hộ ông M giáp ranh với
thửa đất số 71, 72 của ông T. m 1985 ông T tự ý đào mương lấn qua thửa đất
số 63, 64 của hộ ông M, năm 1991 tiếp tục đào mở rộng qua thửa 63 thêm 1.5m
sử dụng qua thửa đất số 63, 64, sau đó xáng thổi thành mương lạng như hiện
nay nên ông M không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T.
Bị đơn bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H, bà
Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn Quốc M có lời trình bày và yêu cầu như ông Nguyễn
Văn M.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia t tụng đứng về phía
nguyên đơn bà Mai Thị T, Đoàn Thị Bảo T và ông Đoàn Quốc H lời trình
bày và yêu cầu như nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía bị đơn
Võ Thị Cẩm T lời trình bày và yêu cầu như bị đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2019/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện C, đã tuyên như sau:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T.
Công nhận phần diện tích đất tranh chấp thực đo 162.4m
2
(ký hiệu là A, A1)
trong đó: Thửa A diện tích 46.8m
2
thuộc thửa số 72 nằm trong tổng diện tích
920m
2
, tờ bản đồ số 0002, loại đất thổ quả; Thửa A1 diện tích 115.6m
2
thuộc
thửa số 71 nằm trong tổng diện tích 3.090m
2
, tờ bản đồ số 0002, loại đất ruộng 2
vụ lúa, cùng tọa lạc tại ấp X, P, huyện C, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng
của ông Đoàn Văn T.
Buộc hộ ông Nguyễn Văn M bao gồm: Ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị
C, ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn
Quốc M ThCẩm T nghĩa vụ trả lại cho ông Đoàn Văn T tổng diện
tích đất đã lấn chiếm thực đo 162.4m
2
(ký hiệu A, A1) trong đó: Thửa A diện
tích 46.8m
2
thuộc thửa số 72 nằm trong tổng diện ch 920m
2
, tờ bản đồ số 0002,
loại đất thquả; Thửa A1 diện tích 115.6 m
2
thuộc thửa số 71 nằm trong tổng
diện tích 3.090m
2
, tờ bản đồ số 0002, loại đất ruộng 2 vụ lúa, cùng tọa lạc tại ấp
X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Thửa A diện tích 46.8m
2
có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa D, có số đo 18.40m.
- Hướng Tây giáp thửa B, có số đo 18.40m.
- Hướng Nam giáp thửa A1, có số đo 2.51m.
- Hướng Bắc giáp đường đal, có số đo 2.51m.
4
Thửa A1 diện tích 115.6 m
2
có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa D, số đo 43.59m.
- Hướng Tây giáp thửa C, có số đo 43.59m.
- Hướng Nam giáp thửa số 69, có số đo 2.73m.
- Hướng Bắc giáp thửa A, có số đo 2.73m.
(Có sơ đồ kèm theo).
Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi bản án chưa hiệu lực pháp luật đề
nghị các đương sự không được tự ý thay đổi hiện trạng đất tranh chấp.
Trên diện tích đất tranh chấp thực đo 162.4m
2
không tài sản gì, c
đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên v nghĩa vụ chu án phí; chi phí thẩm định,
định giá tài sn và quyn kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 03 tháng 12 năm 2019 ông Nguyễn Văn M Nguyễn Thị C
kháng cáo, không đồng ý trả tổng diện tích đất thực đo 162.4m
2
, thuộc thửa số
71, 72, ng tờ bản đồ số 0002, tọa lạc tại ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho
ông Đoàn Văn T.
Ti phiên tòa phúc thm hôm nay.
- Người đại diện hợp pháp cho bị đơn ông Nguyễn Văn M Nguyễn Th
C gi nguyên kháng cáo.
- Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn không đồng ý vi yêu cu kháng
cáo ca ông Nguyễn Văn M Nguyễn Thị C và đề ngh y án sơ thẩm.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Trà Vinh phát biu ý kiến v vic
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của
Hội đồng xét xử tại phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của các bên
đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề ngh Hi
đồng xét x căn cứ khon 1 Điu 308 ca B lut T tng dân s không chp
nhn yêu cu kháng cáo ca ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị C gi
nguyên quyết định ca bn án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp,
thụ giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị C còn trong hạn
luật định hợp lệ, nên được chấp nhận.
Về nội dung tranh chấp:
5
[2] Ông Nguyễn Văn M Nguyễn Thị C kháng cáo, không đồng ý trả
diện tích đất 162.4m
2
, thuộc thửa số 71, 72, cùng tờ bản đồ số 0002, tọa lạc tại ấp
X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Đoàn Văn T.
[3] t yêu cầu kháng cáo của ông M C là không sở để chấp
nhận. Bởi lẽ, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/02/2019 của Tòa
án nhân dân huyện C Công văn số: 28/CV-CNHCK ngày 25/3/2019 02
đồ khu đất (kèm theo Công văn số: 28/CV-CNHCK ngày 25/3/2019) của Văn
phòng đăng đất đai tỉnh Trà Vinh Chi nhánh huyện C, thì phần đất tranh chấp
thực đo theo sự hướng dẫn chỉ ranh của các đương sự có diện tích 162.4m
2
, thuộc
một phần thửa đất số 71, 72 (Trong đó, thửa A diện tích 46.8m
2
so với tài liệu đo
đạc năm 1991 nhằm một phần thửa số 72; Thửa A1 diện tích 115.6m
2
so với tài
liệu đo đạc năm 1991 nhằm mt phần thửa số 71).
Tổng diện tích đất theo hiện trạng do ông T chỉ ranh thửa B diện tích
650.1m
2
so với tài liệu đo đạc năm 1991 nhằm một phần thửa số 72. Theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông T vào
ngày 18/12/1991 thì thửa đất số 72 diện tích 920m
2
. Như vậy, theo hiện trạng
diện tích đất ông T đang sử dụng giảm 223.1m
2
so với diện tích đất ông T được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (diện tích 920m
2
650.1m
2
46.8m
2
=
223.1m
2
) do mở rộng kênh, mở rộng đường chênh lệch giữa hai tài liệu đo
đạc.
Tổng diện tích đất theo hiện trạng do ông T chỉ ranh thửa C diện tích
3.067,3m
2
so với tài liệu đo đạc năm 1991 nhằm một phần thửa số 71. Theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông T vào
ngày 18/12/1991 thì thửa đất số 71 diện tích 3.090m
2
. Như vậy, theo hiện
trạng diện tích đất ông T đang sử dụng tăng 92.9m
2
so với diện tích đất ông T
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (diện tích 3.090m
2
3.067,3m
2
115.6m
2
= 92.9m
2
) là do chênh lệch giữa hai tài liệu đo đạc.
Tổng diện tích đất theo hiện trạng do ông M Cchỉ ranh thửa D diện
tích 1.768,4m
2
so với tài liệu đo đạc năm 1991 nhằm trọn thửa số 63. Theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân n huyện C cấp cho hộ ông M
vào ngày 25/9/1997 thì thửa đất số 63 diện tích 2.080m
2
. Như vậy, theo hiện
trạng diện tích đất hông M đang sử dụng giảm 311.6m
2
so với diện tích đất hộ
ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (diện tích 2.080m
2
1.768,4m
2
= 311.6m
2
) do mở rộng kênh, mở rộng đường chênh lệch giữa
hai tài liệu đo đạc.
Tổng diện tích đất theo hiện trạng do ông M C chỉ ranh thửa E diện
tích 1.825,0m
2
so với tài liệu đo đạc năm 1991 nhằm trọn thửa số 64. Theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông M
vào ngày 25/9/1997 thì thửa đất số 64 diện tích 1.660m
2
. Như vậy, theo hiện
trạng diện tích đất hộ ông M đang sử dụng tăng 165.0m
2
so với diện tích đất hộ
ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (diện tích 1.825,0m
2
1.660m
2
= 165.0m
2
) là do chênh lệch giữa hai tài liệu đo đạc.
6
Như vậy, qua kết quả thẩm định tại chỗ theo sự hướng dẫn chỉ ranh của các
đương sự thì diện tích đất thuộc thửa số 71 của ông T và thửa số 64 của hộ ông M
đều tăng so với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, nguyên
nhân tăng diện tích do chênh lệch giữa hai tài liệu đo đạc. Còn diện tích đất
thuộc thửa số 72 của ông T thửa số 63 của hộ ông M đều giảm so với diện tích
đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, nguyên nhân giảm diện tích do
mở rộng kênh, mở rộng đường chênh lệch giữa hai tài liệu đo đạc. Đối với
diện tích đất tranh chấp 162.4m
2
thì thuộc một phần thửa đất số 71, 72 của ông T
nên căn cứ khẳng định diện tích đất hộ ông M đang sdụng diện tích
đất 162.4m
2
thuộc một phần thửa đất số 71, 72 của ông T. Ông M bà Ccho
rằng, diện tích đất tranh chấp 162.4m
2
của ông bà nhưng ông M C không
khai đăng để được cấp quyền sử dụng đất, trong khi thửa đất số 63, 64
nằm liền kề với diện tích đất tranh chấp 162.4m
2
thì ông M C khai đăng
và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho hộ ông Mvào ngày 25/9/1997.
[4] Mặt khác, thể hiện trong hồ sơ vụ án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh đối
với những người chủ đất của thửa đất số 63, 64 nông Văn D,
Nguyễn Thị Đ, Lâm Thị B đều xác nhận cái mương lạng do ông T tự đào
trên hướng Đông của thửa đất số 71, 72, ông T đào đã lâu không nhớ năm nhưng
mương lạng giáp với diện tích đất hướng Tây thửa đất số 63, 64 của hộ ông M,
mục đích ông T đào mương diện tích 162.4m
2
là để tát nước dẫn vào ruộng ti
thửa đất số 69 của ông T và ông U, đồng thời ông T không có lấn qua thửa đất số
63, 64 của hộ ông M. Ngoài ra, còn có một số người dân sinh sống tại địa phương
đất liền kề với đất tranh chấp như ông Văn L, ThT, Huỳnh
Thị A, ông Nguyễn Văn T, ông Ngô Hồng K, ông Nguyễn Văn M, ông Trương
Văn V đều có lời khai như ông D, bà Đ bà B.
[5] Ông M C cung cấp giấy xác nhận ngày 15/11/2019, để chứng
minh ông đóng thuế nông nghiệp thủy lợi phí từ năm 1982 đến khi Nhà
nước miễn thuế (bút lục số 204). Xét thấy, giấy xác nhận này không có căn cứ để
chứng minh diện tích đất tranh chấp 162.4m
2
thuộc thửa đất số 63, 64 của hộ ông
M nên không có cơ sở để xem xét.
[6] Tại bảng tường trình ngày 15/10/2019 của ông M, C (bút lục số 196,
197) tại phiên tòa m nay C cũng thừa nhận hộ ông M không sử dụng
diện tích đất tranh chấp 162.4m
2
mà do ông T sdụng từ năm 1985 cho đến nay.
Tại phiên tòa hôm nay, bà C đưa ra 02 người làm chứng Ngô Thị A
Thị L biết đất tranh chấp của hông M, nhưng lời khai của bà A L
mâu thuẫn với lời khai của bị đơn bà C và cũng không có chứng cứ nào khác phù
hợp với lời khai của A L nên không sở đHội đồng xét xử xem
xét. Ông H là người đại diện hợp pháp cho ông M bà C cũng không xuất trình
được chứng cứ khác để chứng minh diện tích đất 162.4m
2
của hộ ông M,
nên yêu cầu kháng cáo của ông M và bà C là không có cơ sở để chấp nhận.
7
[7] Từ các nhận định phân tích trên, nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát
viên; Không chấp nhận kháng cáo của ông M C, giữ nguyên bản án
thẩm.
[8] Ông M, sinh năm 1949 C, sinh năm 1950 người cao tuổi được
quy định tại Điều 2 của Luật người cao tuổi đơn xin miễn án phí, theo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 nên miễn án phí cho ông M và bà C.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M
Nguyễn Thị C.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 24/2019/DS-ST ngày 19 tháng 11
năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C.
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158,
Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 163, Điều 175 Điều 176 của Bộ luật dân s năm
2015.
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 170 khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai
năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn T.
2. ng nhận phần diện tích đất tranh chấp thực đo 162.4m
2
(ký hiệu là A,
A1), trong đó: Thửa A diện tích 46.8m
2
thuộc thửa số 72 nằm trong tổng diện tích
920m
2
, tờ bản đồ số 0002, loại đất thổ quả; Thửa A1 diện tích 115.6m
2
thuộc
thửa số 71 nằm trong tổng diện tích 3.090m
2
, tờ bản đồ số 0002, loại đất ruộng 2
vụ lúa, cùng tọa lạc tại ấp X, P, huyện C, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng
của ông Đoàn Văn T.
3. Buộc hộ ông Nguyễn Văn M bao gồm: Ông Nguyễn Văn M, Nguyễn
Thị C, ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thị Q, ông Nguyễn
Quốc M ThCẩm T nghĩa vụ trả lại cho ông Đoàn Văn T tổng diện
tích đất đã lấn chiếm thực đo 162.4m
2
(ký hiệu A, A1), trong đó: Thửa A diện
tích 46.8m
2
thuộc thửa số 72 nằm trong tổng diện tích 920m
2
, tờ bản đồ số 0002,
loại đất thổ quả; Thửa A1 diện tích 115.6 m
2
thuộc thửa số 71 nằm trong tổng
diện tích 3.090m
2
, tờ bản đồ số 0002, loại đất ruộng 2 vụ lúa, cùng tọa lạc tại ấp
X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Thửa A diện tích 46.8m
2
có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa D, có số đo 18.40m.
- Hướng Tây giáp thửa B, có số đo 18.40m.
8
- Hướng Nam giáp thửa A1, có số đo 2.51m.
- Hướng Bắc giáp đường đal, có số đo 2.51m.
Thửa A1 diện tích 115.6 m
2
có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa D, có số đo 43.59m.
- Hướng Tây giáp thửa C, có số đo 43.59m.
- Hướng Nam giáp thửa số 69, có số đo 2.73m.
- Hướng Bắc giáp thửa A, có số đo 2.73m.
(Có sơ đồ kèm theo).
4. Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi bản án chưa hiệu lực pháp luật
đề nghị các đương sự không được tự ý thay đổi hiện trạng đất tranh chấp.
5. Trên diện tích đất tranh chấp thực đo 162.4m
2
không tài sản gì, các
đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
6. Về chi pxem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản: Tổng chi phí
xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản 8.428.000 đồng (Tám triệu, bốn
trăm hai mươi tám ngàn đồng). Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị C, ông
Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thị Qông Nguyễn Quốc M
phải chịu số tiền 8.428.000 đồng (Tám triệu, bốn trăm hai mươi tám ngàn
đồng) để hoàn trả lại cho ông Đoàn Văn T.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí cho ông Nguyễn Văn M
Nguyễn Thị C. Buộc ông Nguyễn Tuấn A, ông Nguyễn Tuấn H, bà Nguyễn
Thị Q ông Nguyễn Quốc M phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn
đồng). Ông Đoàn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho
ông Đoàn Văn T 362.250 đồng (Ba trăm sáu mươi hai ngàn, hai trăm năm mươi
đồng) tiền tạm ứng án phí thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019607 ngày
05/12/2018 và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã
nộp theo biên lai thu tiền số 0002852 ngày 03/5/2019 của Chi cục Thi hành án
n sự huyện C.
8. Về án phí phúc thẩm: Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông
Nguyễn Văn M Nguyễn Thị C.
Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
9
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Trà Vinh;
- TAND huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Huỳnh Văn Hoàng Vân
Tải về
Bản án số 12/2020/DS-PT Bản án số 12/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất