Bản án số 110/2026/DS-ST ngày 15/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 110/2026/DS-ST ngày 15/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Số hiệu: 110/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Nguyễn Công H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 110/2026/DS-ST Bản án số 110/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/DS-ST Bản án số 110/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
Bản án số: 110/2026/DS-ST
Ngày 15/9/2026
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
giữa chị Thuý và anh Hiếu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Vũ Văn Sâm;
2. Bà Nguyễn Thị Tú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 8 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hưng
Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2026/TLST–DS ngày 23 tháng
7 năm 2026, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 121/2026/QĐXX-DS ngày 19 tháng 8 năm 2026 và quyết định
hoãn phiên toà số 91/2026/QĐST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2026, giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986
Căn cước số ************
Nơi cư trú: Thôn N, xã M, tỉnh Hưng Yên.
Người được nguyên đơn uỷ quyền tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Thị N sinh
năm 1986; Căn cước công dân số ************; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, tỉnh
Hưng Yên.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Công H, sinh năm 1998
Căn cước công dân số ************
Nơi cư trú: Thôn N, xã M, tỉnh Hưng Yên.
(Tại phiên tòa có mặt chị N và anh H; vắng mặt chị T )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, biên bản tự khai, trong quá trình xét xử và tại phiên
toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và người được nguyên đơn uỷ quyền tham
gia tố tụng chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Công H có quan hệ quen biết do là hàng
xóm, chị T có làm việc bên Đài Loan. Năm 2023, chị T cho H vay số tiền
150.000.000 đồng, bằng hình thức chuyển khoản cụ thể:
- Số tiền 92.000.000 đồng mà chị T chuyển trực tiếp vào tài khoản của anh
H, qua các thời gian:
2
+ Ngày 24/5/2023: chị T chuyển tiền về cho H vào số tài khoản 9925679333
mở tại Ngân hàng V chi nhánh T1, số tiền là 22.000.000 (hai mươi hai triệu đồng),
số đơn WCNVVTL230524001;
+ Ngày 11/9/2023: chị T chuyển tiền về cho H vào số tài khoản 9925679333
mở tại Ngân hàng V chi nhánh T1, số tiền là 20.000.000 (hai mươi triệu đồng), số
đơn WCNVVTL230911036;
+ Ngày 11/9/2023: chị T chuyển tiền về cho H vào số tài khoản 9925679333
mở tại Ngân hàng V chi nhánh T1, số tiền là 10.000.000 (mười triệu đồng), số
đơn WCNVVTL230911037;
+ Ngày 11/12/2023: chị T chuyển tiền về cho H vào số tài khoản
9925679333 mở tại Ngân hàng V chi nhánh T1, số tiền là 20.000.000 (hai mươi
triệu đồng), số đơn WCNVVTL231211030;
+ Ngày 11/12/2023: chị T chuyển tiền về cho H vào số tài khoản
9925679333 mở tại Ngân hàng V chi nhánh T1, số tiền là 20.000.000 (hai mươi
triệu đồng), số đơn WCNVVTL231211031.
- Số tiền còn lại là 58.000.0000 đồng chị T nhờ người khác chuyển khoản
cho anh H, trong đó: 35.000.000 đồng: chị T nhờ bà Nguyễn Thị Lan A, số điện
thoại 0866541511, địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên, chuyển khoản vào số
tài khoản 9925679333 mở tại Ngân hàng V chi nhánh T1 cho H; 23.000.000 đồng
chị T nhờ người chuyển khoản vào số tài khoản 9925679333 mở tại Ngân hàng V
chi nhánh T1 cho H.
Nhiều lần chị đòi anh H không trả nên ngày 14/02/2024 chị T yêu cầu anh
H viết giấy tờ vay mượn: theo đó hai bên lập giấy vay mượn với nội dung như
sau: Thỏa thuận anh H vay của chị T số tiền gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm
năm mươi triệu đồng chẵn), thời hạn vay là 1,5 năm (18 tháng), về tiền lãi hai bên
tự thỏa thuận mức lãi là 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng một tháng). Tuy
nhiên, trong suốt quá trình vay tiền và cho đến thời điểm hết hạn hợp đồng (ngày
14/08/2025) và cho đến nay, anh H chưa trả cho chị T khoản tiền gốc nào mặc dù
chị T đã đòi nhiều lần nhưng anh H vẫn không trả. Quá trình trả nợ anh H đã trả
được cho chị số tiền 42.000.000 đồng lãi.
Mặc dù lãi suất thỏa thuận ban đầu (4.000.000đ/tháng, tương đương
32%/năm) vượt quá quy định của Bộ luật Dân sự nhưng chị T tự nguyện điều
chỉnh theo mức lãi suất tối đa của Bộ luật dân sự, mặt khác anh H chưa trả cho
chị T khoản nào.
Nay chị T yêu cầu anh H phải trả cho chị số tiền gốc đã vay là: 150.000.000
đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn); buộc anh H phải trả tiền lãi là
20%/năm tính trên số tiền gốc 150.000.000 đồng từ ngày vay (14/02/2024) cho
đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/9/2026) là 02 năm 07 tháng 01 ngày nhưng chị
tính làm tròn là 02 năm 07 tháng, tương đương số tiền lãi là 150.000.000 đồng x
20%/năm x 02 năm 07 tháng = 77.500.000 đồng. Tổng cộng chị T yêu cầu anh H
trả cho chị cả gốc và lãi là 150.000.000 + 77.500.000.000 đồng = 227.500.000
đồng, được đối trừ đi số tiền lãi 42.000.000 đồng mà anh H đã trả.
3
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn
Công H trình bày: Anh xác nhận mối quan hệ giữa anh và chị Nguyễn Thị T như
chị T đã trình bày là đúng. Anh xác nhận vay của chị T 150.000.000 đồng tiền
gốc, tiền lãi 4.000.000 đồng/tháng. Theo như giấy vay tiền thì thời hạn cho vay là
01 năm 06 tháng nhưng thực tế hai bên thỏa thuận thì không có thời hạn, cứ khi
nào trả hết nợ là xong.
Giấy tờ vay chỉ để chốt lại số nợ. Thực tế thì năm 2023 anh H vay
100.000.000 đồng tiền gốc trước, lãi là 3.000.000 đồng/1 tháng. Sau đó anh H mới
vay thêm 50.000.000 đồng tiền gốc nữa, lãi là 1.000.000 đồng/ tháng cùng vào
năm 2023. Anh trả tiền lãi đều đặn từ thời điểm vay là năm 2023 đến tháng 8 năm
2025. Còn từ tháng 9 năm 2025 đến nay do khó khăn nên anh chưa trả lãi. Số tiền
trả lãi từ năm 2023 đến tháng 8 năm 2025 anh H đã trả là khoảng 60.000.000 đồng
đến 70.000.000 đồng. Ngoài ra, tháng 6 năm 2026, anh H trả thêm cho chị T
2.000.000 đồng tiền lãi. Khoản tiền vay của chị T là vay riêng cá nhân anh, không
liên quan đến gia đình vợ con. Nay chị T khởi kiện, anh thừa nhận có vay và nợ
chị T 150.000.000 đồng tiền gốc, đã đóng lãi đều đặn từ năm 2023 đến tháng 8
năm 2025. Do anh H khó khăn, vợ mới sinh nên anh xin không trả lãi cho chị T,
đối với số tiền gốc 150.000.000 đồng thì anh sẽ trả dần đến khi hết nợ.
Các đương sự không có ý kiến tranh luận đối đáp gì.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Hưng Yên
về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng
xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều cơ bản
tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 463,
Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của chị Nguyễn Thị T; buộc anh Nguyễn Công H có trách nhiệm trả cho
chị T số tiền cả gốc 150.000.000 đồng, lãi suất 20%/năm (được tính từ ngày
14/02/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/9/2026) được đối trừ đi số tiền lãi
mà anh H đã trả 42.000.000 đồng, anh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có
giá ngạch, trả lại chị T tiền tạm ứng án phí đã nộp. Các đương sự có quyền kháng
cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Công H trả
tiền vay, cả gốc và lãi phát sinh, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản; bị đơn
anh H có nơi cư trú thôn N, xã M, tỉnh Hưng Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền
4
của Toà án nhân dân Khu vực 8 – Hưng Yên theo quy định tại khoản 3 Điều 26;
Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết
vụ án Toà án phải tiến hành xác minh nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham
gia phiên toà là phù hợp với quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Công H trả gốc
150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn), lãi suất từ ngày
14/02/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/9/2026) 20%/năm, được trừ đi số
tiền lãi anh H đã trả là 42.000.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị T và ý kiến của anh H thấy rằng: Theo các
chứng từ chuyển khoản thì năm 2023 chị Nguyễn Thị T có chuyển khoản nhiều
lần cho anh Nguyễn Công H vay số tiền 150.000.000 đồng. Sau nhiều lần đòi nợ
thì ngày 14/02/2024 chị T đã lập giấy cho vay tiền thể hiện nội dung anh Nguyễn
Công H vay của chị T số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu
đồng chẵn), lãi suất thoả thuận 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng một tháng),
lãi suất kể từ ngày 14/02/2024. Thời hạn cho vay là 1,5 năm. Anh H xác nhận số
tiền vay và có ký tên vào giấy vay tiền mặt như chị T đã cung cấp. Xét giấy cho
vay tiền ngày 14/02/2024 thể hiện đầy đủ nội dung của hợp đồng vay tài sản. Anh
H cho rằng không có thời hạn mà thoả thuận khi nào trả xong nợ nhưng anh H
không đưa ra căn cứ nào để chứng minh. Do đó, được xác định giấy cho vay tiền
ngày 14/02/2024 là hợp đồng vay tài sản, không có tài sản bảo đảm, có kỳ hạn, có
lãi suất, thể hiện sự tự nguyện, bình đẳng, không bên nào bị ép buộc, lừa dối, do
vậy các bên có trách nhiệm thực hiện. Vì vậy, anh H phải có trách nhiệm trả chị
T số tiền gốc là 150.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại với Điều 116, Điều
117, Điều 463, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự.
Về lãi suất: Giấy cho vay tiền thể hiện lãi suất thoả thuận 4.000.000
đồng/tháng (Bốn triệu đồng một tháng), lãi suất kể từ ngày 14/02/2024 nhưng chị
chỉ tính anh H 20%/năm. Đây là hợp đồng vay có thời hạn, có lãi suất, mức lãi
suất 4.000.000 đồng/tháng đối với số tiền gốc 150.000.000 đồng là cao so với quy
định nên chị H tính lãi suất 20%/năm, mức lãi suất này có căn cứ chấp nhận theo
đúng quy định của khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về số tiền đã trả, chị T cho rằng anh H đã trả số tiền lãi 42.000.000 đồng,
còn anh H cho rằng anh đã trả cho chị H số tiền khoảng 60.000.000 đồng đến
70.000.000 đồng tiền lãi nhưng anh không đưa ra căn cứ nào để chứng minh, do
đó xác định anh H đã trả cho chị T số tiền 42.000.000 đồng tiền lãi suất.
Từ những căn cứ nêu trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T,
buộc anh H trả cho chị T số tiền số 150.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm của
khoản tiền vay, tiền lãi suất được tính từ ngày 14/02/2024 đến ngày xét xử sơ
thẩm là 02 năm 07 tháng (đã làm tròn), được đối trừ đi số tiền lãi suất mà anh H
đã trả 42.000.000 đồng.
[3] Về án phí: Yên cầu của chị Nguyễn Thị T được chấp nhận nên anh
Nguyễn Công H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là phù hợp với
quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số
5
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
[5] Từ những nhận định trên chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn và
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và
Điều 273 Bộ luật tố Tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều
468 và Điều 470 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng
01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp
dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
quy định về án phí, lệ phí Toà án, tuyên xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy :
- Buộc anh Nguyễn Công H có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị T số tiền
gốc 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn).
- Buộc anh H trả cho chị T số tiền lãi suất: 150.000.000 đồng x 20%/năm x
02 năm 07 tháng = 77.500.000 đồng, được đối trừ đi số tiền anh H đã trả lãi cho
chị T là 42.000.000 nên anh H còn phải trả cho chị T số tiền lãi là 35.500.000
đồng.
Tổng cộng anh H phải trả cho chị T số tiền cả gốc và lãi là 150.000.000
đồng + 35.500.000 đồng = 185.500.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu năm
trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (16/9/2026) cho đến khi thi
hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2.Về án phí: Anh Nguyễn Công H phải chịu 9.275.000 đồng (Chín triệu hai
trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại chị
Nguyễn Thị T số tiền 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)
mà chị T đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Hưng Yên theo biên
lai thu số 0000514 ngày 23/7/2026.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và 72
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 8 – tỉnh Hưng Yên;
- VKSND tỉnh Hưng Yên;
- TAND tỉnh Hưng Yên;
- Thi hành án tỉnh Hưng Yên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Duyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 110/2026/DS-ST Bản án số 110/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/DS-ST Bản án số 110/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất