Bản án số 110/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 110/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 110/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 110/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 110/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 110/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | qsd đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 01 năm 2026 và ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ
lý số: 771/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chp
quyền sử dụng đt”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 52/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
-
Nguyên đ
ơ
n:
Ông Nguyễn Khoa N, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là 1
đường N, Phường L, tỉnh Vĩnh Long).
-
B
ị
đ
ơ
n:
Bà Ngô Thị T, sinh năm 1951(vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tổ A, Khóm M,
phường C, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị T:
1. Chị Đoàn Thị Ánh Đ, sinh năm 1967 (có mặt)
2. Chị Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1977 (có mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 110/2026/DS - PT
Ngày 02 - 02 - 2026
V/v “Tranh chp quyền sử
dụng đt”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tổ A, Khóm M,
phường C, tỉnh Vĩnh Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 26/5/2025 và ngày
21/5/2025.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Ngô Thị T: Luật sư
Trần Văn Đ1, Công ty L, thuộc Đoàn luật sư thành phố C.
- Ng
ườ
i có quy
ề
n l
ợ
i, ngh
ĩ
a v
ụ
liên quan:
1. Chị Bùi Thị Thúy H, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tổ A, Khóm M,
phường C, tỉnh Vĩnh Long).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Bùi Thị Thúy H: Luật sư
Trần Văn Đ1, Công ty L, thuộc Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ
2. Chị Bùi Thị Hồng T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Khóm M, phường C,
tỉnh Vĩnh Long).
3. Chị Bùi Thị Bé S, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Khóm M, phường C,
tỉnh Vĩnh Long).
4. Chị Bùi Thị Bé B, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ C, ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tổ C, ấp Đ, xã
N, tỉnh Vĩnh Long).
5. Anh Đỗ Văn N1, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long( nay là Tổ A, Khóm M,
phường C, tỉnh Vĩnh Long)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đỗ Văn N1: Luật sư
Trần Văn Đ1, Công ty L, thuộc Đoàn luật sư thành phố C
6. Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 2004 (vắng mặt))
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long( nay là Tổ A, Khóm M,
phường C, tỉnh Vĩnh Long).
7. Chị Đỗ Thị Anh T3, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long( nay là Tổ A, Khóm M,
phường C, tỉnh Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Bà Ngô Thị T là bị đơn; chị Bùi Thị Thúy H, anh Đỗ
Văn N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo kh
ở
i ki
ệ
n, l
ờ
i khai c
ủ
a nguyên đ
ơ
n anh Nguy
ễ
n Khoa N và trong quá
trình gi
ả
i quy
ế
t v
ụ
án anh Nguy
ễ
n Duy T4 là ng
ườ
i đ
ạ
i di
ệ
n h
ợ
p pháp c
ủ
a nguyên
đ
ơ
n trình bày:
Thửa đất số 93, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.041,8m
2
, tọa lạc ấp
M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do anh Nguyễn Khoa N đứng tên Giấy chứng
nhận quyền sử dụng, quyển sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số VP20804
do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V cấp ngày 20 tháng 7 năm 2023. Đất có chiều
ngang phía trước giáp lộ đal 37,46m và chiều ngang phía sau giáp Rạch Vượt là
29,67m; Chiều dài 1 cạnh giáp đất bà Ngô Thị T là 42,05m và cạnh còn lại là 29,78m.
Nguồn gốc đất là do anh Nguyễn Khoa N nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn
Hoài P. Đất của bà Ngô Thị T giáp ranh đất của anh Nguyễn Khoa N phía bên phải
từ ngoài lộ đal nhìn vào, đất của bà Ngô Thị T là thửa đất số 78, tờ bản đồ số 17,
diện tích 1.863,7m
2
, tọa lạc Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B. Quá trình sử dụng đất bà
Ngô Thị T đã lấn chiếm sang phần đất của anh Nguyễn Khoa N phía trước giáp
lộ đal là 9,36m và lấn phía sau giáp Rạch V là 6,66m (lấn từ phía giáp lộ đal dài ra
phía sau hết phần đất giáp Rạch V). Diện tích lấn chiếm khoảng 320m
2
. Anh
Nguyễn Khoa N có trao đổi với bà Ngô Thị T về phần đất mà bà đã lấn chiếm của
anh Nguyễn Khoa N nhưng bà Ngô Thị T không thừa nhận lấn chiếm. Nay anh
Nguyễn Khoa N khởi kiện yêu cầu hộ bà Ngô Thị T trả lại cho anh N phần diện
tích đất đã lấn chiếm theo kết quả đo đạc ngày 12/3/2025 của Trung tâm kỹ thuật và
tài nguyên môi trường tỉnh V với diện tích 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15,
e. Trên phần đất tranh chấp có tồn tại cây trồng do bà T trồng và hàng rào giáp lộ do bà
T xây dựng, anh N đồng ý chi trả giá trị cây trồng cho bà T theo giá của Hội đồng
định giá đã định. Trường hợp bà Ngô Thị T di dời cây trồng, hàng rào thì anh N đồng ý
hỗ trợ chi phí di dời là là 20.000.000 đồng. Đối với hàng rào thì anh N đồng ý trả giá
trị theo giá của Hội đồng định giá đã định.
Theo bị đơn bà Ngô Thị T và lời khai của chị Đoàn Thị Ánh Đ, chị Bùi
Thị Thúy H là người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Ngô Thị T trình bày: Bà
Ngô Thị T không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khoa N. Vì hộ
bà Ngô Thị T đã sử dụng ổn định phần đất tranh chấp ổn định trên 30 năm.
Nguồn gốc đất của bà T là vào năm 1993, bà Ngô Thị T nhận chuyển nhượng
thửa đất số 78, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.863,7m
2
loại đất ở và trồng cây lâu
năm (trong đó 300m
2
là đất ở) tọa lạc ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long của
ông Nguyễn Văn H1. Trên thửa đất 78, bà Ngô Thị T có xây dựng căn nhà cấp 4
4
và hiện đang sinh sống cùng với Bùi Thị Thúy H, Bùi Thị Hồng T1, Bùi Thị Bé
S và Bùi Thị Bé B, Đỗ Văn N2, Đỗ Thị Anh T3 và Đỗ Văn T2. Khi chuyển
nhượng đất đã có hàng rào và mốc ranh đất cụ thể. Tồn tại 02 căn nhà của bà
Ngô Thị T và con của bà Ngô Thị T là Bùi Thị Thúy H, có làm hàng rào kiên cố
phía trước giáp với phần đất của anh Nguyễn Khoa N, về hàng rào bà Ngô Thị T
đã xây dựng vào năm 2010, khi làm hàng rào có sự thống nhất của bà Nguyễn
Thị H2 (chủ đất củ của thửa 93). Anh Nguyễn Khoa N mới nhận chuyển nhượng
đất khoảng 02 năm nay nhưng lại cho rằng bà Ngô Thị T lấn chiếm đất là không
đúng. Khi bà Nguyễn Thị H2 chuyển nhượng thửa đất 93 cho anh Nguyễn Hoài
P (sau này anh P chuyển nhượng lại cho anh N) thì có kêu bà Ngô Thị T ký giáp
ranh, khi đó bà H2 chuyển nhượng cho anh P với diện tích là 700m
2
. Nay bà T
có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án công nhận cho bà Ngô Thị T phần đất tranh
chấp diện tích 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e theo kết quả đo đạc ngày
12/3/2025 của Trung tâm kỹ thuật và tài nguyên môi trường tỉnh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Bé B, anh Đỗ Văn N1
trình bày: Đất thuộc hộ bà Ngô Thị T đã sử dụng ổn định trên 30 năm không có
tranh chấp. Đối với anh Nguyễn Khoa N mới chuyển nhượng đất thời gian gần
đây, chưa có trồng trọt gì trên đất nhưng lại cho rằng hộ bà Ngô Thị T lấn ranh
là không đúng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Khoa N là
do ốp bộ của chương trình Vlap chứ không có đo đạc thực tế. Chị Bùi Thị Bé B,
anh Đỗ Văn N1 thống nhất với yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị T: Yêu cầu Toà
án giải quyết công nhận cho bà Ngô Thị T được quyền sử dụng đất hợp pháp đối
phần đất tranh chấp 270,5m
2
gồm các mốc 8, 9, 14, 15, 8 theo kết quả đo đạc
ngày 12/3/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Hồng T1, anh Đỗ Văn T2 và
chị Đỗ Thị Anh T3 trình bày: Xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và
không có ý kiến.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khoa N.
Buộc hộ bà Ngô Thị T trả lại anh Nguyễn Khoa N phần diện tích đất đã
lấn chiếm là: 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e thuộc thửa đất số 93, tờ bản
đồ số 17, tọa lạc ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do anh Nguyễn Khoa N
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Theo kết quả đo đạc ngày
12/3/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V).
5
Buộc anh Nguyễn Khoa N trả lại giá trị cây trồng và vật kiến trúc cho hộ
bà Ngô Thị T với tổng số tiền là 55.368.233 đồng. Trong đó: Tổng giá trị cây
trồng: 52.900.000 đồng và hàng rào giá trị còn lại: 2.468.233 đồng.
Công nhận cho anh Nguyễn Khoa N được quyền sử dụng cây trồng và vật
kiến trúc gồm: Cây chuối (20 cây; Cây dừa (10 cây, 07 năm tuổi); Cây dừa (10
cây, 04 năm tuổi); Cây bưởi (07 cây, 07 năm tuổi); C (08 cây, 01 năm tuổi); Cây
mít (03 cây, 03 năm tuổi và 01 hàng rào xây dựng năm 2010.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị T yêu cầu công nhận
diện tích đất là 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e theo kết quả đo đạc ngày
12/3/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V là của Hộ bà
Ngô Thị T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng,
nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, bị đơn bà Ngô Thị T; người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Thúy H, anh Đỗ Văn N1 kháng cáo bản án sơ
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khoa N, chấp nhận
yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Khoa N không rút yêu cầu khởi
kiện, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Ngô Thị T giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Thúy
H, anh Đỗ Văn N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, chị H, anh N1 cho
rằng: Phần đất tranh chấp 268,9m
2
, gia đình bà T đã sử dụng ổn định trên 30
năm, trên đất có cây trồng, hàng rào của bà T. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh
Nguyễn Khoa N cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất 93, phần đất
trên hiện trạng chỉ tới hàng rào của bà Ngô Thị T, khi anh N cải tạo đất mới biết
được phần diện tích đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của anh N nên anh N khởi kiện yêu cầu hộ gia đình bà T trả đất. Ngoài ra,
trước đây bà Nguyễn Thị H2 là chủ đất cũ nhận đặt cọc để chuyển nhượng thửa
đất 93 cho anh Lê Hữu H3, hai bên tranh chấp hợp đồng đặt cọc khi đo đạc trên
thực tế thì thửa đất 93 có diện tích 613,7m
2
. Tại quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự số: 38/2022/QĐST – DS ngày 11/10/2022 của Tòa án
nhân dân thị xã Bình Minh cũng thể hiện nội dụng bà Nguyễn Thị H2, ông Đặng
Văn T5 (chồng bà H2) đồng ý chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoài Phương
6
diện T6 đất 613,7m
2
, thuộc thửa 93. Do đó, có cơ sở khẳng định phần diện tích
đất tranh chấp là của gia đình bà T, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của bà T, chị H, anh N1, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn bà T.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa
vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng:
Trước đây bà Nguyễn Thị H2 là chủ đất cũ nhận đặt cọc để chuyển
nhượng thửa đất 93 cho anh Lê Hữu H3, hai bên tranh chấp hợp đồng đặt cọc,
khi đo đạc trên thực tế thì thửa đất 93 có diện tích 613,7m
2
. Tại quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 38/2022/QĐST – DS ngày 11/10/2022
của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh cũng thể hiện nội dụng bà Nguyễn Thị
H2, ông Đặng Văn T5 (chồng bà H2) đồng ý chuyển nhượng cho anh Nguyễn
Hoài Phương diện T6 đất 613,7m
2
. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Khoa
N cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất 93 phần đất trên hiện trạng
chỉ tới hàng rào của bà Ngô Thị T, khi anh N cải tạo đất biết được phần diện tích
đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh nên ông
khởi kiện yêu cầu gia đình bà T trả đất. Trên phần diện tích đất tranh chấp có
các cây trồng và hàng rào của gia đình bà T xây dựng vào năm 2010. Điều này
cho thấy, trước khi bà H2 chuyển nhượng đất cho anh Nguyễn Hoài P thì giữa
bà H2 với bà T đã thống nhất ranh với nhau, bà H2 đã thừa nhận phần diện tích
đất tranh chấp hiện nay giữa anh N với bà T là của gia đình bà T. Do đó, đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà T, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị H, anh N1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Theo giấy ủy quyền ngày 01/8/2023 thì anh Nguyễn Khoa N ủy
quyền cho anh Nguyễn Duy T7 tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Khoa N cho rằng anh N không còn ủy
quyền cho anh T7 tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm nữa mà để anh N tự tham
gia tố tụng.
7
[2] Nguyên đơn anh Nguyễn Khoa N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc hộ bà
Ngô Thị T trả lại diện tích đất tranh chấp thực đo 268,9m
2
nằm trong diện tích
đất diện tích 1.041,8m
2
, thuộc thửa 93, tờ bản đồ số 17, tọa lạc ấp M, xã M, thị xã
B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Khóm M, phường C, tỉnh Vĩnh Long). Thửa đất 93,
có nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoài P
vào năm 2022. Đến ngày 13/6/2023, anh P chuyển nhượng lại thửa đất 93 cho
anh N và anh N được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh V cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 7 năm 2023. Bị đơn bà Ngô Thị T cho rằng
phần đất tranh chấp thực đo 268,9m
2
giữa bà T với anh N là nằm trong phần đất
bà T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H1 vào năm 1993, khi bà T
nhận chuyển nhượng phần đất của ông H1 thì giữa ông H1 với bà H2 có chỉ ranh
thống nhất với nhau; từ khi nhận chuyển nhượng gia đình bà T sử dụng ổn định
cho đến nay, trên đất có cây trồng và hàng rào của gia đình bà T.
[3] Xét quá trình sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 268,9m
2
thuộc
thửa 93: Theo biên bản thẩm định thể hiện trên phần đất tranh chấp 268,9m
2
có
các cây trồng như cây dừa, cây bưởi, cây mít... và hàng rào của gia đình bà T
xây dựng năm 2010 (BL 81 - 82). Trong khi đó, đến ngày 13/6/2023 anh N mới
nhận chuyển nhượng lại thửa đất 93 từ anh Nguyễn Hoài P (BL 118 -119).
Trước đây vào năm 2022, bà Nguyễn Thị H2 với anh Lê Hữu H3 tranh chấp hợp
đồng đặt cọc đối với thửa đất 93, diện tích 1.041,8m
2
, tại đơn khởi kiện ngày
06/4/2022, anh H3 cũng nêu rõ thửa đất 93 diện tích trên thực tế chỉ khoảng
700m
2
không đúng với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(BL 218, 221 - 222); trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng đặt
cọc trên giữa bà Nguyễn Thị H2 với anh Lê Hữu H3, Tòa án nhân dân thị xã
Bình Minh có tiến hành thẩm định phần đất tranh chấp thửa 93, qua kết quả đo
đạc của Phòng tài Nguyên và môi trường thị xã B thể hiện diện tích trên hiện
trạng của thửa 93 mà bà H2 nhận đặt cọc để chuyển nhượng cho anh H3 có diện
tích 613,7m
2
(BL 229); Tại quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự số: 38/2022/QĐST – DS ngày 11/10/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bình
Minh cũng thể hiện nội dụng bà Nguyễn Thị H2, ông Đặng Văn T5 (chồng bà
H2) đồng ý chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoài Phương diện T6 đất 613,7m
2
thuộc thửa 93 (trong vụ án này anh Nguyễn Hoài P tham gia tố tụng với tư cách
là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lê Hữu H3 nhưng trong
quá trình tố tụng các bên thống nht thỏa thuận phía bà H2, ông T5 chuyển
nhượng diện tích đt 613,7m
2
thuộc thửa 93 cho anh P) (BL 230 -231). Nhưng
khi làm thủ tục sang tên diện tích 613,7m
2
thuộc thửa 93 này cho anh P thì làm
8
thủ tục dưới hình thức là hộ gia đình bà H2 làm hợp đồng chuyển nhượng thửa
đất thửa đất 93, diện tích 1.041,8m
2
cho anh P (Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 14/10/2022, BL 132 -133). Tại phiên tòa phúc thẩm, anh
Nguyễn Khoa N cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất 93, phần đất
trên hiện trạng chỉ tới hàng rào của bà Ngô Thị T, khi anh N cải tạo đất biết
được phần diện tích đất tranh chấp hiện nay nằm trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của anh N nên anh N khởi kiện yêu cầu gia đình bà T trả đất. Từ
những chứng cứ trên cho thấy, mặc dù theo hợp đồng chuyển nhượng thể hiện
anh Nguyễn Hoài P nhận chuyển nhượng thửa đất 93 diện tích 1.041,8m
2
từ hộ
gia đình bà H2; anh N nhận chuyển nhượng lại thửa đất 93 diện tích 1.041,8m
2
từ anh P nhưng trên hiện trạng sử dụng đất thì anh P, anh N không có nhận
chuyển nhượng và sử dụng phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp 268,9m
2
mà trên thực tế phần diện tích đất tranh chấp 268,9m
2
này là do gia đình bà T
quản lý, sử dụng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh N yêu cầu gia đình bà T trả
lại phần diện tích 268,9m
2
là không có cơ sở chấp nhận; kháng cáo của bà T là
có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, chị
H, anh N1; ý kiến vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Khoa N3 chịu 3.967.000 đồng
chi phí tố tụng, anh Nguyễn Khoa N đã nộp xong nên không phải nộp tiếp.
Bà Ngô Thị T không phải chịu chi phí tố tụng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Khoa N phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí mà anh N đã nộp theo biên lai số số 0012240, ngày 02 tháng 11 năm 2023
của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 3-Vĩnh Long), anh N không phải nộp tiếp.
Bà Ngô Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị T, chị Bùi Thị Thúy H, anh
Đỗ Văn N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Ngô Thị T.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Vĩnh Long.
9
Áp dụng Khoản 9, 30 Điều 3, Điều 5, Điều 17, Điều 26, Điều 99, Điều 100,
Điều 101, Điều 166 của Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 26 của Luật đất đai năm 2024;
Áp dụng Điều 26 và Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Khoa
N yêu cầu hộ gia đình bà Ngô Thị T trả lại phần diện tích đất 268,9m
2
(gồm các
mốc e, f, 9, 14, 15, e) thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 17, tọa lạc ấp M, xã M,
thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Khóm M, phường C, tỉnh Vĩnh Long).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Ngô Thị T.
Công nhận phần diện tích đất 268,9m
2
(gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e), loại
đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 17, tọa lạc ấp M, xã M,
thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là Khóm M, phường C, tỉnh Vĩnh Long) cho bà
Ngô Thị T quản lý, sử dụng. Phần diện tích đất 268,9m
2
(gồm các mốc e, f, 9,
14, 15, e) có vị trí, tứ cận theo Kết quả đo đạc ngày 12/3/2025 của Trung Tâm kỹ
thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V kèm theo.
Bà Ngô Thị T được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ
tục cấp quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 268,9m
2
trên theo quyết
định của Bản án này.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Khoa N phải chịu 3.967.000 đồng
chi phí tố tụng, anh Nguyễn Khoa N đã nộp xong nên không phải nộp tiếp.
Bà Ngô Thị T không phải chịu chi phí tố tụng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Khoa N phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí mà anh N đã nộp theo biên lai số số 0012240, ngày 02 tháng 11 năm 2023 của
Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 3-Vĩnh Long), anh N không phải nộp tiếp.
Bà Ngô Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị T, chị Bùi Thị Thúy H, anh Đỗ
Văn N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị Bùi Thị
Thúy H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số:
0005930 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Hoàn trả cho
anh Đỗ Văn N1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên
lai thu số: 0005932 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
10
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 3 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 23/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 23/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm