Bản án số 110/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 110/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 110/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: qsd đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư phiên tòa: Thị Út - TTòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh nh Long tham gia phiên tòa:
Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 01 năm 2026 và ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ
số: 771/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 12 năm 2025 về việc Tranh chp
quyền sử dụng đt”.
Do bản án dân sthẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 52/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
-
Nguyên đ
ơ
n:
Ông Nguyn Khoa N, sinh năm 1981 (có mt)
Địa ch: S A đường N, Phường A, thành ph V, tnh Vĩnh Long (nay 1
đường N, Phường L, tnh Vĩnh Long).
-
B
đ
ơ
n:
Bà Ngô Th T, sinh năm 1951(vng mt)
Địa ch: T A, p M, xã M, th xã B, tnh Vĩnh Long (nay là T A, Khóm M,
phường C, tnh Vĩnh Long).
Người đi din hp pháp ca bà Ngô Th T:
1. Ch Đoàn Th Ánh Đ, sinh năm 1967 (có mt)
2. Ch Bùi Th Thúy H, sinh năm 1977 (có mt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 110/2026/DS - PT
Ngày 02 - 02 - 2026
V/v Tranh chp quyền sử
dụng đt”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Cùng đa ch: p M, M, th B, tnh Vĩnh Long (nay T A, Khóm M,
phường C, tnh Vĩnh Long). Theo văn bn y quyn ngày 26/5/2025 ngày
21/5/2025.
Người bo v quyn li ích hp pháp ca b đơn Ngô Th T: Lut sư
Trn Văn Đ1, Công ty L, thuc Đoàn lut sư thành ph C.
- Ng
ườ
i có quy
n l
i, ngh
ĩ
a v
liên quan:
1. Ch Bùi Th Thúy H, sinh năm 1977 (có mt)
Địa ch: p M, M, th B, tnh Vĩnh Long (nay T A, Khóm M,
phường C, tnh Vĩnh Long).
Người bo v quyn li ích hp pháp ca ch Bùi Th Thúy H: Lut sư
Trn Văn Đ1, Công ty L, thuc Đoàn lut sư thành ph Cn Thơ
2. Ch Bùi Th Hng T1, sinh năm 1979 (vng mt)
Địa ch: p M, xã M, th B, tnh Vĩnh Long (nay Khóm M, phường C,
tnh Vĩnh Long).
3. Ch Bùi Th Bé S, sinh năm 1985 (vng mt)
Địa ch: p M, xã M, th B, tnh Vĩnh Long (nay Khóm M, phường C,
tnh Vĩnh Long).
4. Ch Bùi Th Bé B, sinh năm 1987 (có mt)
Địa ch: T C, p Đ, N, huyn T, tnh Vĩnh Long (nay T C, p Đ,
N, tnh Vĩnh Long).
5. Anh Đỗ Văn N1, sinh năm 1978 (có mt)
Địa ch: T A, p M, xã M, th xã B, tnh Vĩnh Long( nay là T A, Khóm M,
phường C, tnh Vĩnh Long)
Người bo v quyn li ích hp pháp ca anh Đỗ Văn N1: Lut sư
Trn Văn Đ1, Công ty L, thuc Đoàn lut sư thành ph C
6. Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 2004 (vng mt))
Địa ch: T A, p M, xã M, th xã B, tnh Vĩnh Long( nay là T A, Khóm M,
phường C, tnh Vĩnh Long).
7. Ch Đỗ Th Anh T3, sinh năm 2000 (vng mt).
Địa ch: T A, p M, xã M, th xã B, tnh Vĩnh Long( nay là T A, Khóm M,
phường C, tnh Vĩnh Long).
- Người kháng cáo: Ngô Thị T bị đơn; chị Bùi Thị Thúy H, anh Đỗ
Văn N1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo kh
i ki
n, l
i khai c
a nguyên đ
ơ
n anh Nguy
n Khoa N và trong quá
trình gi
i quy
ế
t v
án anh Nguy
n Duy T4 ng
ườ
i đ
i di
n h
p pháp c
a nguyên
đ
ơ
n trình bày:
Tha đt s 93, t bn đ s 17, din tích 1.041,8m
2
, ta lc p
M, M, th B, tnh Vĩnh Long do anh Nguyn Khoa N đng tên Giy chng
nhn quyn s dng, quyn s hu nhà tài sn gn lin vi đt s VP20804
do Văn phòng đăng đt đai tnh V cp ngày 20 tháng 7 năm 2023. Đất chiu
ngang phía trước giáp l đal 37,46m chiu ngang phía sau giáp Rch Vượt
29,67m; Chiu dài 1 cnh giáp đt bà Ngô Th T là 42,05m và cnh còn li là 29,78m.
Ngun gc đt là do anh Nguyn Khoa N nhn chuyn nhượng ca ông Nguyn
Hoài P. Đất ca bà Ngô Th T giáp ranh đt ca anh Nguyn Khoa N phía bên phi
t ngoài l đal nhìn vào, đt ca Ngô Th T tha đt s 78, t bn đ s 17,
din tích 1.863,7m
2
, ta lc T A, p M, M, th B. Quá trình s dng đt
Ngô Th T đã ln chiếm sang phn đt ca anh Nguyn Khoa N phía trước giáp
l đal 9,36m ln phía sau giáp Rch V 6,66m (ln t phía giáp l đal dài ra
phía sau hết phn đt giáp Rch V). Din tích ln chiếm khong 320m
2
. Anh
Nguyn Khoa N trao đi vi Ngô Th T v phn đt đã ln chiếm ca
anh Nguyn Khoa N nhưng bà Ngô Th T không tha nhn ln chiếm. Nay anh
Nguyn Khoa N khi kin yêu cu h Ngô Th T tr li cho anh N phn din
tích đt đã ln chiếm theo kết qu đo đc ngày 12/3/2025 ca Trung tâm k thut
tài nguyên môi trường tnh V vi din tích 268,9m
2
gm các mc e, f, 9, 14, 15,
e. Trên phn đt tranh chp có tn ti cây trng do bà T trng và hàng rào giáp l do
T xây dng, anh N đng ý chi tr giá tr cây trng cho bà T theo giá ca Hi đng
đnh giá đã đnh. Trường hp bà Ngô Th T di di cây trng, hàng rào thì anh N đng ý
h tr chi phí di di là 20.000.000 đng. Đối vi hàng rào thì anh N đng ý tr giá
tr theo giá ca Hi đng đnh giá đã đnh.
Theo bị đơn Ngô ThT lời khai của chị Đoàn Thị Ánh Đ, chị Bùi
Thị Thúy H là người đại diện hợp pháp của bị đơn Ngô Thị T trình bày:
Ngô Thị T không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khoa N. Vì hộ
Ngô Thị T đã sử dụng ổn định phần đất tranh chấp ổn định trên 30 năm.
Nguồn gốc đất của T vào năm 1993, bà Ngô Thị T nhận chuyển nhượng
thửa đất số 78, tờ bản đồ số 17 diện tích 1.863,7m
2
loại đất trồng cây lâu
năm (trong đó 300m
2
đất ở) tọa lạc ấp M, M, thị B, tỉnh Vĩnh Long của
ông Nguyễn Văn H1. Trên thửa đất 78,Ngô Thị T có xây dựng căn nhà cấp 4
4
hiện đang sinh sống cùng với Bùi ThThúy H, Bùi Thị Hồng T1, Bùi Thị
S Bùi Thị B, Đỗ Văn N2, Đỗ Thị Anh T3 Đỗ Văn T2. Khi chuyển
nhượng đất đã hàng rào mốc ranh đất cụ thể. Tồn tại 02 căn nhà của
Ngô Thị T và con của bà Ngô Thị TBùi Thị Thúy H, có làm hàng rào kiên cố
phía trước giáp với phần đất của anh Nguyễn Khoa N, về hàng rào bà Ngô Thị T
đã xây dựng vào năm 2010, khi làm hàng rào sthống nhất của Nguyễn
Thị H2 (chủ đất củ của thửa 93). Anh Nguyễn Khoa N mới nhận chuyển nhượng
đất khoảng 02 năm nay nhưng lại cho rằng bà Ngô Thị T lấn chiếm đất là không
đúng. Khi Nguyễn Thị H2 chuyển nhượng thửa đất 93 cho anh Nguyễn Hoài
P (sau này anh P chuyển nhượng lại cho anh N) thì có kêu bà Ngô Thị T ký giáp
ranh, khi đó H2 chuyển nhượng cho anh P với diện tích 700m
2
. Nay T
yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án công nhận cho Ngô Thị T phần đất tranh
chấp diện tích 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e theo kết quả đo đạc ngày
12/3/2025 của Trung tâm kỹ thuật và tài nguyên môi trường tỉnh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Bé B, anh Đỗ Văn N1
trình bày: Đất thuộc hộ Ngô Thị T đã sử dụng ổn định trên 30 năm không
tranh chấp. Đối với anh Nguyễn Khoa N mới chuyển nhượng đất thời gian gần
đây, chưa trồng trọt trên đất nhưng lại cho rằng hNgô Thị T lấn ranh
không đúng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Khoa N
do ốp bộ của chương trình Vlap chứ không có đo đạc thực tế. Chị Bùi Thị Bé B,
anh Đỗ Văn N1 thống nhất với yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị T: Yêu cầu Toà
án giải quyết công nhận cho bà Ngô Thị T được quyền sử dụng đất hợp pháp đối
phần đất tranh chấp 270,5m
2
gồm các mốc 8, 9, 14, 15, 8 theo kết quả đo đạc
ngày 12/3/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Hồng T1, anh Đỗ Văn T2 và
chị Đỗ Thị Anh T3 trình bày: Xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án
không có ý kiến.
Tại bản án dân sự thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 Vĩnh Long đã quyết định:
1. Chp nhn yêu cu khi kin ca anh Nguyn Khoa N.
Buộc hNThị T trả lại anh Nguyễn Khoa N phần diện tích đất đã
lấn chiếm là: 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e thuộc thửa đất số 93, tờ bản
đồ số 17, tọa lạc ấp M, M, thB, tỉnh Vĩnh Long do anh Nguyễn Khoa N
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Theo kết quả đo đạc ngày
12/3/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V).
5
Buc anh Nguyễn Khoa N tr li giá tr cây trồng vật kiến trúc cho h
Ngô Thị T với tng s tin là 55.368.233 đồng. Trong đó: Tổng giá trị y
trồng: 52.900.000 đồng và hàng rào giá trị còn lại: 2.468.233 đồng.
Công nhận cho anh Nguyễn Khoa N được quyền sử dụng cây trồng và vật
kiến trúc gồm: Cây chuối (20 cây; Cây dừa (10 cây, 07 năm tuổi); Cây dừa (10
cây, 04 năm tuổi); Cây bưởi (07 cây, 07 năm tuổi); C (08 cây, 01 năm tuổi); Cây
mít (03 cây, 03 năm tuổi và 01 hàng rào xây dựng năm 2010.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị T yêu cầu công nhận
diện tích đất 268,9m
2
gồm các mốc e, f, 9, 14, 15, e theo kết quả đo đạc ngày
12/3/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh V là của Hộ bà
Ngô Thị T.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vchịu án phí, chi phí tố tụng,
nghĩa vụ chậm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định
của pháp luật.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, bđơn Ngô Thị T; người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Thúy H, anh Đỗ Văn N1 kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Khoa N, chấp nhận
yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Khoa N không rút yêu cầu khởi
kiện, người đại diện hợp pháp của bị đơn Ngô Thị T giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo của bị đơn; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Thúy
H, anh Đỗ Văn N1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà T, chị H, anh N1 cho
rằng: Phần đất tranh chấp 268,9m
2
, gia đình T đã sử dụng ổn định trên 30
năm, trên đất cây trồng, hàng rào của T. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh
Nguyễn Khoa N cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất 93, phần đất
trên hiện trạng chỉ tới hàng rào của bà Ngô Thị T, khi anh N cải tạo đất mới biết
được phần diện tích đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sdụng
đất của anh N nên anh N khởi kiện yêu cầu hộ gia đình bà T trả đất. Ngoài ra,
trước đây Nguyễn Thị H2 là chủ đất nhận đặt cọc để chuyển nhượng thửa
đất 93 cho anh Hữu H3, hai bên tranh chấp hợp đồng đặt cọc khi đo đạc trên
thực tế thì thửa đất 93 diện tích 613,7m
2
. Tại quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự số: 38/2022/QĐST DS ngày 11/10/2022 của Tòa án
nhân dân thị xã Bình Minh cũng thể hiện nội dụng bà Nguyễn Thị H2, ông Đặng
Văn T5 (chồng H2) đồng ý chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoài Phương
6
diện T6 đất 613,7m
2
, thuộc thửa 93. Do đó, sở khẳng định phần diện tích
đất tranh chấp của gia đình T, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng
cáo của bà T, chị H, anh N1, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn bà T.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa
vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng:
Trước đây Nguyễn Thị H2 chủ đất nhận đặt cọc để chuyển
nhượng thửa đất 93 cho anh Hữu H3, hai bên tranh chấp hợp đồng đặt cọc,
khi đo đạc trên thực tế thì thửa đất 93 có diện tích 613,7m
2
. Tại quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 38/2022/QĐST DS ngày 11/10/2022
của Tòa án nhân dân thị Bình Minh cũng thể hiện nội dụng Nguyễn Thị
H2, ông Đặng Văn T5 (chồng H2) đồng ý chuyển nhượng cho anh Nguyễn
Hoài Phương diện T6 đất 613,7m
2
. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Khoa
N cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất 93 phần đất trên hiện trạng
chỉ tới hàng rào của bà Ngô Thị T, khi anh N cải tạo đất biết được phần diện tích
đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh nên ông
khởi kiện yêu cầu gia đình T trả đất. Trên phần diện tích đất tranh chấp
các cây trồng hàng rào của gia đình T xây dựng vào năm 2010. Điều này
cho thấy, trước khi H2 chuyển nhượng đất cho anh Nguyễn Hoài P thì giữa
H2 với T đã thống nhất ranh với nhau, H2 đã thừa nhận phần diện tích
đất tranh chấp hiện nay giữa anh N với bà T là của gia đình bà T. Do đó, đề nghị
Hội đồng xét x chấp nhận kháng cáo của bị đơn T, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị H, anh N1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Theo giấy ủy quyền ngày 01/8/2023 thì anh Nguyễn Khoa N ủy
quyền cho anh Nguyễn Duy T7 tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Khoa N cho rằng anh N không còn ủy
quyền cho anh T7 tham gia tố tụng cấp phúc thẩm nữa để anh N tự tham
gia tố tụng.
7
[2] Nguyên đơn anh Nguyễn Khoa N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc h
Ngô Th T trả lại diện tích đất tranh chấp thực đo 268,9m
2
nằm trong diện tích
đất din tích 1.041,8m
2
, thuộc thửa 93, t bn đ s 17, ta lc p M, xã M, th
B, tnh Vĩnh Long (nay Khóm M, phường C, tnh Vĩnh Long). Thửa đất 93,
nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoài P
vào năm 2022. Đến ngày 13/6/2023, anh P chuyển nhượng lại thửa đất 93 cho
anh N anh N được Văn phòng Đăng đất đai tỉnh V cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ngày 20 tháng 7 năm 2023. Bị đơn Ngô Thị T cho rằng
phần đất tranh chấp thực đo 268,9m
2
giữa T với anh N là nằm trong phần đất
T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H1 vào năm 1993, khi T
nhận chuyển nhượng phần đất của ông H1 thì giữa ông H1 với bà H2 có chỉ ranh
thống nhất với nhau; tkhi nhận chuyển nhượng gia đình T sử dụng ổn định
cho đến nay, trên đất có cây trồng và hàng rào của gia đình bà T.
[3] Xét quá trình sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 268,9m
2
thuc
tha 93: Theo biên bản thẩm định thể hiện trên phần đất tranh chấp 268,9m
2
các cây trồng như cây dừa, cây bưởi, cây mít... hàng rào của gia đình T
xây dựng năm 2010 (BL 81 - 82). Trong khi đó, đến ngày 13/6/2023 anh N mới
nhận chuyển nhượng lại thửa đất 93 từ anh Nguyễn Hoài P (BL 118 -119).
Trước đây vào năm 2022, bà Nguyễn Thị H2 với anh Lê Hữu H3 tranh chấp hợp
đồng đặt cọc đối với thửa đất 93, diện ch 1.041,8m
2
, tại đơn khởi kiện ngày
06/4/2022, anh H3 cũng nêu thửa đất 93 diện tích trên thực tế chỉ khoảng
700m
2
không đúng với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sdụng đất
(BL 218, 221 - 222); trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng đặt
cọc trên giữa Nguyễn Thị H2 với anh Hữu H3, Tòa án nhân dân thị
Bình Minh tiến hành thẩm định phần đất tranh chấp thửa 93, qua kết quả đo
đạc của Phòng tài Nguyên môi trường thị B thể hiện diện tích trên hiện
trạng của thửa 93 mà bà H2 nhận đặt cọc để chuyển nhượng cho anh H3 có diện
tích 613,7m
2
(BL 229); Tại quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự số: 38/2022/QĐST DS ngày 11/10/2022 của Tòa án nhân dân thị Bình
Minh cũng thể hiện nội dụng Nguyễn Thị H2, ông Đặng Văn T5 (chồng bà
H2) đồng ý chuyển nhượng cho anh Nguyễn Hoài Phương diện T6 đất 613,7m
2
thuộc thửa 93 (trong vụ án này anh Nguyễn Hoài P tham gia tố tụng với tư cách
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Hữu H3 nhưng trong
quá trình tố tụng các bên thống nht thỏa thuận phía H2, ông T5 chuyển
nhượng diện tích đt 613,7m
2
thuộc thửa 93 cho anh P) (BL 230 -231). Nhưng
khi làm thủ tục sang tên diện tích 613,7m
2
thuộc thửa 93 này cho anh P thì làm
8
thủ tục dưới hình thức hộ gia đình H2 làm hợp đồng chuyển nhượng thửa
đất thửa đất 93, diện tích 1.041,8m
2
cho anh P (Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ngày 14/10/2022, BL 132 -133). Tại phiên tòa phúc thẩm, anh
Nguyễn Khoa N cũng thừa nhận khi nhận chuyển nhượng thửa đất 93, phần đất
trên hiện trạng chỉ tới hàng rào của Ngô Thị T, khi anh N cải tạo đất biết
được phần diện tích đất tranh chấp hiện nay nằm trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của anh N nên anh N khởi kiện yêu cầu gia đình T trả đất. Từ
những chứng cứ trên cho thấy, mặc theo hợp đồng chuyển nhượng thể hiện
anh Nguyễn Hoài P nhận chuyển nhượng thửa đất 93 diện tích 1.041,8m
2
từ hộ
gia đình H2; anh N nhận chuyển nhượng lại thửa đất 93 diện tích 1.041,8m
2
từ anh P nhưng trên hiện trạng sử dụng đất thì anh P, anh N không nhận
chuyển nhượng và sử dụng phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp 268,9m
2
trên thực tế phần diện tích đất tranh chấp 268,9m
2
này do gia đình T
quản lý, sử dụng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh N yêu cầu gia đình T trả
lại phần diện tích 268,9m
2
không sở chấp nhận; kháng cáo của T
có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của T, chị
H, anh N1; ý kiến vị Kiểm sát viên, như phân tích phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Buc anh Nguyn Khoa N3 chịu 3.967.000 đng
chi phí t tng, anh Nguyn Khoa N đã nộp xong nên không phi np tiếp.
Bà Ngô Th T không phi chu chi phí t tng.
[6] Về án phí dân sự thẩm: Buộc anh Nguyễn Khoa N phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đng tin tm
ng án phí mà anh N đã np theo biên lai s s 0012240, ngày 02 tháng 11 năm 2023
ca Chi cc thi hành án dân s th xã Bình Minh (nay là Phòng Thi hành án dân s Khu
vc 3-Vĩnh Long), anh N không phi np tiếp.
Bà Ngô Th T không phi chu án phí dân s sơ thm.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị T, chị Bùi Thị Thúy H, anh
Đỗ Văn N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Ngô Th T.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2025/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Vĩnh Long.
9
Áp dụng Khoản 9, 30 Điều 3, Điều 5, Điều 17, Điều 26, Điều 99, Điều 100,
Điều 101, Điều 166 của Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 26 của Luật đất đai năm 2024;
Áp dng Điều 26 Điều 29 ca Ngh quyết s: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 ca Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc
thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyn Khoa
N yêu cầu h gia đình Ngô Th T trả lại phần diện tích đất 268,9m
2
(gm các
mc e, f, 9, 14, 15, e) thuc tha đt s 93, t bn đ s 17, ta lc p M, xã M,
th xã B, tnh Vĩnh Long (nay là Khóm M, phường C, tnh Vĩnh Long).
2. Chp nhn yêu cu phn t ca b đơn bà Ngô Th T.
Công nhn phn diện tích đất 268,9m
2
(gm các mc e, f, 9, 14, 15, e), loi
đt trng cây lâu năm, thuc tha đt s 93, t bn đ s 17, ta lc p M, M,
th B, tnh Vĩnh Long (nay Khóm M, phường C, tnh Vĩnh Long) cho
Ngô Th T qun lý, s dng. Phn diện tích đất 268,9m
2
(gm các mc e, f, 9,
14, 15, e) v trí, t cn theo Kết qu đo đc ngày 12/3/2025 ca Trung Tâm k
thut tài nguyên và môi trường tnh V kèm theo.
Ngô Thị T được quyền đến quan Nhà nước thẩm quyền làm thủ
tục cấp quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 268,9m
2
trên theo quyết
định của Bản án này.
3. Về chi phí tố tụng: Buc anh Nguyn Khoa N phi chịu 3.967.000 đồng
chi phí t tng, anh Nguyn Khoa N đã nộp xong nên không phi np tiếp.
Bà Ngô Th T không phi chu chi phí t tng.
4. Ván phí dân sự thẩm: Buộc anh Nguyễn Khoa N phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đng tin tm ng án
phí anh N đã np theo biên lai s s 0012240, ngày 02 tháng 11 năm 2023 ca
Chi cc thi hành án dân s th Bình Minh (nay Phòng Thi hành án dân s Khu
vc 3-Vĩnh Long), anh N không phi np tiếp.
Bà Ngô Th T không phi chu án phí dân s sơ thm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị T, chị i Thị Thúy H, anh Đỗ
Văn N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị Bùi Thị
Thúy H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số:
0005930 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Hoàn trả cho
anh Đỗ Văn N1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên
lai thu số: 0005932 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
10
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 3 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Bản án số 110/2026/DS-PT Bản án số 110/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 110/2026/DS-PT Bản án số 110/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất