Bản án số 110/2021/HS-ST ngày 24/08/2021 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 110/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 110/2021/HS-ST ngày 24/08/2021 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phú Bình (TAND tỉnh Thái Nguyên)
Số hiệu: 110/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/08/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi và Nguyễn Văn Hải;
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thủy - Thư Tòa án nhân dân huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông
Lưu Nguyên Vũ - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh
Thái Nguyên, xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thsố: 101/2021/
TLST-HS, ngày 27 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
112/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:
H và tên: Phan Văn T- Sinh ngày: 12/4/1972 ti Thành ph S, tnh Thái
Nguyên;
Nơi ĐKHKTT ch : TDP 5, png M, thành ph S, tnh Thái Nguyên;
ngh nghip: Bo vệ; trình độ văn hoá: 9/12; dân tc: Kinh; gii tính: Nam; tôn giáo:
Không; quc tch: Vit Nam, con ông: Phan Văn K - Sinh m: 1955 : Dương
Th T - Sinh năm: 1953, gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình,
v là: Lưu Thị H - Sinh năm: 1977 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nh
sinh năm 2011;
- Tin án; Có 02 tin án:
+ Ti bn án s 112/HSST ngày 20/8/2018 b Tòa án nhân dân huyn Sóc n,
tnh ph Hà Ni x pht 7 tháng tù v tiTrm cp i sn;
+ Ti bn án s 44/HSST ny 16/10/2018 ca TAND thành ph Sông Công, tnh
Ti Nguyên x pht 15 tháng tù v tội “Trm cp i sn”, tng hp vi 07 tháng ti
bn án s 112/2018 ca TAND huyện Sóc n, buc Phan Văn T phi chp hành nh
pht ca c hai bn án là 22 tng ; chp hành xong hình pht ngày 13/4/2020.
Tiền sự: Không có.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYN PHÚ BÌNH
TNH THÁI NGUYÊN
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
Bn án s: 110/2021/HS-ST
Ngày 24-8-2021
2
- Nhân thân:
+ Ny 07/7/2017, ng an thành ph Sông Công, tnh Thái Nguyên x pht vi
phm hành cnh bng hình thc pht tin v hành vi đánh nhau; đã chp nh xong.
+ Ngày 12/11/2017, Công an png Thng Li, thành ph Sông Công, tnh Ti
Nguyên x pht vi phm hành chính bng hình thc pht tin v hành vi trm cpi sn;
đã chp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2021 cho đến nay, hiện đang bị
tm giam ti nhà tm gi Công an huyn Phú Bình, tnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1.Chị Lê Thị Ngọc V- Sinh ngày: 31/10/2005;
Nơi cư trú: Xóm T1, xã T, huyn P, tnh Thái Nguyên.
- Người đại diện hợp pháp của chị V: Anh Lê Ngc A – Sinh năm: 1984 (Là bố
đẻ chị V); Nơi trú: Xóm T1, xã T, huyn P, tnh Ti Nguyên. (Ch V vng mt, anh A
có mt ti phiên tòa).
2. Anh Đặng Quốc H- Sinh ngày: 03/9/2005;
Nơi cư trú: Xóm P, N, huyn P, tnh Thái Nguyên.
- Người đại diện hợp pháp của anh Huy: Anh Đặng Văn H Sinh năm: 1985;
Nơi cư trú: Xóm P N, huyn P, tnh Thái Nguyên.
(Anh vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt,
anh H vắng mt ti phiên a).
3. Anh Đàm Văn T- Sinh ngày: 24/12/2001;
Nơi cư trú: Xóm 1, xã T, huyn Đ, tnh Thái Nguyên.
(Anh Tcó mt ti phiên tòa).
4. Chị Mông Thị K- Sinh ngày: 08/5/2001;
Nơi cư trú: Xóm P, Đ, huyn Đ, tnh Ti Nguyên. (Chị K vắng mặt nhưng có
đơn xin xét xử vắng mặt)
5. Anh Trịnh Quốc C - Sinh ngày: 21/8/2003;
Nơi cư trú: Xóm N1, xã N, huyn Đ, tnh Thái Nguyên.
(Anh C có mt ti phiên tòa).
6. Anh Dương Văn S- Sinh ngày: 18/9/1991;
Nơi cư trú: Xóm 5 , xã M huyn Đ, tnh Ti Nguyên.
(Anh S có mt ti phiên tòa).
7. Chị Lăng Huyền T- Sinh ngày: 13/11/2000;
Nơi cư trú: Ph C, thtrn P, huyn B, tnh Bắc Kn.
(Ch T có mt ti phiên tòa).
- Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Ngọc Q - Sinh năm: 1988;
Nơi cư trú: Tổ 05, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
3
2. Anh Phan Văn L Sinh năm: 1980;
Nơi cư trú: Tổ 05, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
3. Chị Dương Thị Thúy H Sinh năm: 1970;
Nơi cư trú: Tổ 02, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Văn T bảo vệ tại Công ty TNHH New One Vna - khu Công
nghiệp Đ thuộc m Bình 1, Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Trong khi làm nhiệm
vụ bảo vệ tại khu vực nhà đxe của công ty, T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản
của công nhân công ty để trong cốp xe mô tô gửi tại nhà để xe để bán lấy tiền tiêu xài
nhân. Trong ca trực bảo vệ nhà xe của công ty vào các ngày 14 đến ngày 17
/5/2021, T nhiều lần dùng tay cậy yên mở cốp xe của công nhân công ty Newone Vna
để trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
- Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/5/2021, T đi vào trong nhà để xe dùng tay
cạy cốp xe BKS 20M-0265 của chị Thị Ngọc V, sau đó thò tay vào trong
cốp xe trộm cắp được 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu trắng cho vào trong
túi quần đang mặc cất giấu, rồi tiếp tục m việc. Đến khoảng hơn 00 giờ 00 ngày
15/5/2021, T tiếp tục đi vào nhà để xe, dùng tay cạy cốp xe mô BKS 20AF-028.83
của anh Đặng Quốc H trộm cắp được 01 điện thoại di động Iphone 5S màu đen xám,
rồi đến cậy cốp xe BKS 20F1-612.22 của anh Đàm Văn T trộm cắp được 01
điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen. Sau khi lấy được hai chiếc điện thoại T
cho vào túi quần cất giấu. Sau khi hết ca làm việc, đến khoảng 07 giờ sáng ngày
15/5/2021 T mang 03 chiếc điện thoại đi động trộm cắp được về nhà cất giấu.
- Đến 19 giờ 00 phút ngày 15/5/2021, T tiếp tục đến Công ty TNHH New One
Vna làm việc, khoảng 22 giờ cùng ngày T cậy cốp xe BKS 20C1-316.10 của
chị Mông Thị K, nhưng thấy cốp không khóa. T dùng tay mở cốp xe trộm cắp được
500.000 đồng, 01 giấy đăng kí xe môvà 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe
mô tô BKS 20C1-316.10 của chị K và cho vào trong túi quần đang mặc cất giấu.
- Khoảng hơn 01 giờ 00 ngày 16/5/2021, T tiếp tục vào trong nhà để xe cậy cốp
xe tô BKS 20B2-371.29 của anh Trịnh Quốc C trộm cắp được 01 điện thoại
Iphone XS Max màu đen trắng, rồi đến cạy cốp xe tô BKS 20B1-446.65 của anh
Dương Văn S trộm cắp được 01 điện thoại di động Redmi 9T màu đen, T cất giấu hai
chiếc điện thoại vào túi quần, rồi tiếp tục làm việc. Đến 07 giờ 00 phút cùng ngày hết
ca làm T mang điện thoại trộm cắp được về nhà cất giấu. Đến khoảng hơn 07 giờ 30
phút ngày 16/5/2021, T mang chiếc điện thoại di động Iphone 6 plus màu trắng
4
chiếc điện thoại đi động Iphone XS Max màu đen-trắng trộm cắp được đến quán điện
thoại của chị Nguyễn Ngọc Q, T để lại hai chiếc điện thoại này để nhờ ch Q phá
khóa máy rồi về nhà ngủ. Khoảng 16 giờ 00 cùng ngày chị Dương Thị Thúy H đến
nhà T chơi, T đưa chiếc điện thoại di động Redmi 9T màu đen cho chị H nhờ mang
máy đi chạy lại phần mềm, H đồng ý cầm điện thoại di động Redmi 9T màu đen về
nhà chạy lại phần mềm.
- Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 17/5/2021, T đến gặp anh Phan Văn L, T nói
với anh L có nhặt được mt chiếc điện thoại di động và đưa cho L chiếc điện thoại
di động Iphone 7 Plus màu đen nhờ L phá khóa hộ và vay của anh L 2.000.000 đồng,
anh L đồng ý và cho T vay tiền. Sau đó T đến Công tym việc, T đã gọi điện cho chị
H nhđến nhà cầm chiếc điện thoại di động Iphone 5s màu đen xám mang đi mở
khóa hộ, chị H đồng ý đến nhà T cầm điện thoại đi mở khóa. Đến khoảng 10 giờ
00 phút cùng ngày khi đang làm việc tại khu vực nhà xe của công ty, T thấy chiếc xe
máy điện của chị Lăng Huyền T đcạnh vị trí T ngồi trực, yên xe không khóa nên
T đã mở yên xe trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng và 500.000 đồng
chị T để trong cốp xe, T mang điện thoại và tiền trộm cắp được cho vào cốp xe mô tô
BKS 61T9-8527 ca T cất giấu, rồi tiếp tục làm việc.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản các bị hại nêu trên đã gửi đơn trình báo đến Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đề nghị giải quyết. Qua xác minh,
điều tra xác định Phan Văn T người cậy cốp xe tô của những người bị hại nêu
trên để trộm cắp tài sản. quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú nh đã thu
hồi lại được 06 chiếc điện thoại di động, số tiền 500.000 đồng của chị T giấy tờ xe
của chị K do T, chị H, chị Q anh L giao nộp, thu giữ chiếc ốp điện thoại sim
điện thoại của chị T tại vị trí thùng rác gần khu vực nhà xe do T tháo vứt vào thùng
rác. Đối với số tiền 500.000 đồng trộm cắp được của chị K, T đã tiêu xài nhân hết
350.000 đồng nên chỉ thu giữ được 150.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của T stiền
2.000.000 đồng; 01 da màu đen cũ, 01 xe nhãn hiệu SYM Attila màu đen đỏ
BKS 61T9-8527, 01 áo mi cộc tay màu xanh 01 quần dài bằng vải màu đen
(quần áo T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản).
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Bình đã yêu cầu định giá tài sản
đối với 06 chiếc điện thoại mà T đã trộm cắp của các bị hại nêu trên. Tại bản kết luận
định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự huyện Phú Bình đã kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 6 Plus màu trắng T trộm cắp của chị V có giá trị 1.600.000 đồng; 01 điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone 7 plus u đen T trộm cắp của anh T giá trị 3.500.000
đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s u đen m T trm cắp của anh H
giá trị 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen
trắng T trộm cắp của anh C giá trị 10.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Redmi 9T màu đen T trộm cắp của anh S giá trị 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di
5
động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng T trộm cắp của chị T giá trị 1.300.000 đồng.
Tổng giá trị của 06 chiếc điện thoại T trộm cắp là 19.400.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phan Văn T đã khai nhn hành V phm tội như
đã nêu trên, T khai sau mi ln ly trm được điện thoi T đều tháo sim ra vt b
vào thùng rác, khi đưa điện thoi cho ch H, ch H, ch Q anh L để m khóa
chy li phn mm T không nói cho những người này biết điện thoi do trm cp
mà có.
Ti bn cáo trng s 112/CT-VKSPB, ngày 24-7-2021 của Vện kiểm sát nhân
dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phan Văn T về tội: “Trộm cắp
tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Ti phiên tòa sơ thẩm b cáo Phan Văn T đã thành khẩn khai nhn toàn b hành
vi phm ti của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.
Trong li lun tội, đi din Vn kim sát gi quyn công t ti phiên tòa sau
khi phân tích đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đ nhng chng c xác định hành
V phm ti ca b cáo, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phm ti, nhân thân và các
tình tiết tăng nặng, gim nh trách nhim hình s ca b cáo đã kết lun gi nguyên
quan điểm truy t, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Khon 1 Điu 173, điểm s khon 1 Điu 51, khon 2 Điều 51, điểm
g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 ca BLHS, xử phạt bị cáo T t 24-30 tháng .
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường thiệt hại: Buộc bcáo trách nhiệm bồi thường cho chị K số
tiền là 350.000 đồng;
- V x lý vt chng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điu 106 ca BLTTHS:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 da u u đen; 01 áo mi cộc tay màu xanh đã
qua s dng;01 qun dài bng vi màu đen đã qua s dng.
+ Trả lại cho chị Lăng Huyền T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
6S màu hồng và số tiền 500.000 đồng; trả lại cho chị Mông Thị K 01 đăng xe mô
01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe và số tiền
150.000 đồng; trả lại cho anh Dương Văn S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Redmi 9T màu đen; trả lại cho anh Đặng Quốc H 01 chiếc điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone 5S màu đen xám, trả lại cho anh Đàm Văn T 01 chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen; trả lại cho chị Thị Ngọc V 01 chiếc điện thoại
di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng; trả lại cho anh Trịnh Quốc C 01 chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu đen trắng.
- Tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo.
- V án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST DSST sung quỹ Nhà nước
theo quy định pháp luật.
6
Bcáo Phan Văn T không ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm
tội của mình. Khi được nói lời sau cùng bị cáo ý kiến đnghị Hội đồng xét xử
xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.
Các bị hại người đại diện hợp pháp của bị hại trong vụ án (Các anh T, C, S
anh A) đều ý kiến: Về hình phạt đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xxem
xét giảm nhhình phạt cho bị cáo; về dân sự yêu cầu được bồi tH trả lại các tài
sản đã bị bị cáo trộm cắp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị
cáo, các bị hại những người tham gia tố tụng khác không người nào ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bcáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa là hoàn toàn khách quan, tự nguyện nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận,
đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại quan điều tra, lời khai của các bị
hại, người làm chứng trong vụ án các tài liệu chứng cứ khác do quan điều tra
thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Phan Văn T được tuyển dụng vào làm bảo vệ khu vực nhà để xe của
Công ty TNHH New Oan Vna - Khu Công nghiệp Đ (Thuộc xóm B, xã Đ, huyện P,
tỉnh Thái Nguyên) từ ngày 12/5/2021; lợi dụng nhiệm vụ được giao nên bị cáo đã nảy
sinh ý định trộm cắp tài sản của các công nhân để trong cốp xe gửi tại nhà để
xe của Công ty mục đích bán lấy tiền tiêu sài nhân. Thực hiện ý định nêu trên,
trong khoảng thời gian từ ngày 14/5/2021 đến 17/5/2021, tại nđể xe Công ty New
One Vna, bcáo Phan Văn T đã cậy cốp xe của các bị hại công nhân của Công ty
gồm: Thị Ngọc V, Đặng Quốc Huy, Đàm Văn T, Mông Thị K, Trịnh Quốc C,
Dương Văn S, Lăng Huyền T trộm cắp được 06 chiếc điện thoại di động các loại
tổng giá trị 19.400.000 đồng số tiền mặt 1.000.000 đồng cùng một số giấy tờ
cá nhân. Tổng giá trị tài sản T đã trộm cắp của các b hại là 20.400.000 đồng.
Xét thy, b cáo Phan Văn T người đầy đủ năng lực hành vi dân s nên
buc phi nhn thc và biết được hành vi trm cp tài sn của người khác là trái pháp
luật nhưng b cáo vn thc hin ti phm vi li c ý. Hành vi lén lút, li dng s
7
h ca các ch s hu tài sản để chiếm đot tài sn tiền, 06 điện thoi chiếc
tng giá tr như đã nêu trên giy t các nhân khác ca b cáo đã đủ yếu t cu
thành ti phạm: “Trộm cp tài sản”. Tội phm và hình phạt được quy định ti khon 1
Điu 173 ca BLHS. Bn Cáo trng ca viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh
Thái Nguyên truy tố bị cáo vtội danh, điều luật viện dẫn trên căn cứ và đúng
quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật như sau:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến
dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
từ 06 tháng đến 03 năm.
...
5. Người phm ti còn th b pht tin t 5.000.000 đồng đến 50.000.000
đồng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình
tiết tăng nng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành V phm ti ca b cáo là nguy him cho xã hi, mức độ ca ti phm là ít
nghiêm trng, đã m hại trc tiếp đến quyn s hu v tài sn của người khác được
Pháp lut bo v, gây mt ổn định v an ninh trt t địa phương. Do đó, hành vi
phm ti ca b cáo cn phải được xét x nghiêm minh bng pháp lut hình s nhm
tác dng ci to, giáo dc b cáo và răn đe, phòng nga chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trước quan điều tra tại phiên tòa đã thành khẩn
khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình 01 tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, bị cáo
còn bố, mẹ đẻ được Đảng Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương, tại phiên
tòa một sbị hại người đại diện hợp pháp xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo,
nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tch nhiệm hình sự khác quy
định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự “Phạm tội nhiều lần” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều
52 của BLHS.
V nhân thân, thy b cáo đã bị x pht tù và x pht vi phm hành chính nhiu
ln v hành vi trmi sn… nay lại tiếp tc phm ti có cùng tính cht, nhưng bo
không lấy đó làm bài học rút kinh nghim cho bn thân mà li tiếp tc lao vào con
đưng phm ti, điều đó th hin b cáo ngưi nhân thân rt xu coi tng
pháp lut. Do đó, gim nh phn nào v hình pht, nhưng căn c nhân thân
cũng như tính chất, mức đ vi phm do hành vi phm ti ca b cáo cn cách ly b
cáo khi hi mt thời gian tương xứng đ tác dng ci to, giáo dc b cáo tr
thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hi.
8
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì
người phạm tội còn thể bị phạt tiền...Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ
trong hồ vụ án lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không nghề
nghiệp ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần
thiết áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.
[5].V thit hại và xác định trách nhim bi tng thit hi: B cáo đã có hành
vi chiếm đot 06 chiếc điện thoại di động các nhãn hiu khác nhau số tiền
1.000.000 đồng cùng một sgiấy tờ nhân ca các ch s hu là: Th Ngc V,
Đặng Quốc H, Đàm Văn T, Mông Th K, Trnh Quốc C, Dương Văn S, Lăng Huyền
T. Sau khi v vic b phát hiện, quan điều tra đã thu hồi lại được 06 chiếc điện
thoại di động, s tiền 500.000 đồng ca ch T, s tin 150.000 đồng và giy t xe ca
ch K để ch x theo quy đnh pháp lut (Hin các tài sản trên chưa được tr li
cho ch s hu). Quá trình điều tra và ti phiên tòa các b hại đều yêu cầu được tr li
tài sản đã bị chiếm đoạt. Xét yêu cu này ca các b hại là có căn c, phù hp vi quy
định ti khoản 2 Điều 47, khoản 1 điều 48 ca BLHS, khoản 3 Điều 106 ca
BLTTHS nên cn tr li si sn nêu trên cho các ch s hu qun lý, s dng.
Đối vi s tin b cáo trm cp ca ch K 500.000 đồng, b cáo đã tiêu sài
hết 350.000 đồng chưa thu hồi được, do đó, cn buc b cáo tr li cho ch K s tin
này theo quy định ti khoản 1 Điều 48 ca BLHS.
[6] V x lý vt chng v án: Căn cứ Điu 47 của BLHS và Điều 106
BLTTHS, x lý vt chng v án như sau:
- Đối với những vật chứng gồm: 01 chiếc da màu đen đã cũ; 01 chiếc áo
mi cc tay màu xanh 01 qun i bng vi u đen đều đã qua sử dng...Xét thấy
đây vật chứng không giá trị không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy
theo quy định điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
- Đối với các tài sản gồm: 06 chiếc điện thoại di động gồm các nhãn hiệu khác
nhau; 01 chng nhận đăng xe môtô + Giy chng nhn bo him bt buc TNDS
ca ch xe môtô ca ch Mông Th K đã tạm giữ thuộc quyền sở hữu của các bị hại
trong vụ án, nên cần trả lại cho chủ sở hữu quản lý sử dụng theo quy định tại khoản 2
Điều 47 của BLHS và khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
- Đối với số tiền 2.650.000 đồng đã tạm giữ; trong đó có: 500.000 đồng thuộc
quyền sở hu của chị T, 150.000 đồng thuc quyn s hu ca ch K, cần trả lại cho
chủ sở hữu quản lý sử dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của BLHS và khoản 3
Điều 106 của BLTTHS; s tin còn lại 2.000.000 đng (Do b cáo vay ca anh
Phan Văn L), nên thuc quyn s hu ca b cáo; tuy nhiên cn tiếp tc tm gi để
đảm bo vic Thi hành án cho bo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Vn kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như
đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính đối với bị cáo, vbồi
9
thường dân sự, hướng xử lý vật chứng vụ án ... là phù hợp với các quy định của Pháp
luật cần được chấp nhận.
[8] Liên quan đến v án, còn Nguyễn Ngọc Quỳnh, Dương Thị Thúy H,
Phan Văn L do không hứa hẹn trước không biết điện thoại T đưa cho đnhờ mở
khóa máy hộ và chạy lại phầm mềm tài sản do bị cáo phạm tội họ cũng
không tham gia bàn bạc thực hiện cùng T. Xét thấy hành vi của Q, H, L là không cấu
thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[9] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời
hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
[10] V án p: B cáo phải chịu án phí sung quỹ Nhà nước, theo quy định pháp
luật.
[11] V quyn kng cáo: B cáo, các b hi và nời đại din hp pp ca b hi
quyn kháng o bản án theo quy đnh ca pháp lut.
Vì các l tn;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 47; 48, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h
khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Các Điều 357, 468, 584, 586 và Điều 589 ca BLDS;
- Điều 106, Điều 136 Điều 329, 331 của Bộ luật tố tụng hình sự; Ngh quyết
s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban tng v Quc hội quy định
v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý và s dng án phíl phí Tòa án.
1. V ti danh: Tuyên b Phan n T phm ti: Trm cp i sản”.
2. V hình pht chính: X pht b cáo Phan Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ny bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/5/2021.
3. V hình pht b sung: Không áp dng hình pht b sung đối vi b cáo
theo quy định khon 5 Điu 173 ca BLHS.
4. Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Ra Quyết định tạm giam Phan Văn T với
thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5. V bi tng thit hi: Buc b cáo Phan Văn T phi có trách nhim tr li
cho ch Mông Th K s tin 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Sau khi bn án có hiu lc pháp lut, k t ngày có đơn yêu cầu thi hành án ca
người được thi hành án (Ch K), cho đến khi thi hành án xong, bên phi thi hành án
(B cáo T) còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi thi hành án theo mc lãi
suất quy định tại Điều 357, Điu 468 ca B lut dân s, tr trường hp pháp lut
quy định khác.
6. Về xử lý vật chứng:
10
- Tịch thu tiêu hủy những vật chng sau đây: 01 (một) ví da màu đen đã qua sử
dụng được niêm phong vào thư dán kín dấu đỏ ký hiệu HC1 của Phan Văn T;
01 (một) áo sơ mi cộc tay màu xanh, mặt ngoài ngực áo bên trái và mặt ngoài ống tay
áo bên trái logo của Công ty “KTC” và 01 quần dài bằng vải màu đen đã qua sử
dụng được niêm phong trong túi niêm phong mã số: PS1- 22017101.
- Trả lại cho chị Lăng Thị Huyền T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s
màu hồng đã qua sdụng 01 sim bị cong vênh, 01 ốp dạng ốp điện thoại màu
trong suốt, được niêm phong trong niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín
dấu đỏ ký hiệu ĐT1 và s tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho chị Mông Thị K 01 giấy chứng nhận đăng xe mô số: 02559
biển số đăng ký 20C1-316.10; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ
xe số AA20/1797665 số BKS: 20C1-316.10 đưc niêm phong trong niêm
phong còn nguyên vẹn được dán kín dấu đ hiu A và s tiền 150.000 đồng
(Một trăm năm ơi nghìn đồng).
- Trả lại cho anh Dương Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T màu
đen máy đã qua sử dng, được niêm phong trong niêm phong còn nguyên vn
đưc dán kín có dấu đ ký hiu HS.
- Trả lại cho anh Đặng Quốc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu
đen xám máy đã qua sử dng, được niêm phong trong niêm phong còn nguyên
vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiu HH.
- Trả lại cho anh Đàm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus
màu đen, máy đã qua sử dng, được niêm phong trong niêm phong n nguyên
vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiu HT.
- Trả lại cho chị Thị Ngọc V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus
màu trng, máy cũ đã qua sử dng, được niêm phong trong bì niêm phong còn ngun
vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiu HV.
- Trả lại cho anh Trịnh Quốc C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX
MAX màu đen, trắng máy đã qua sử dng, đưc niêm phong trong niêm phong
còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiu HC.
- Tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để đảm bảo việc Thi hành án
cho bị cáo
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2021 và ủy
nhiệm chi chuyển khoản số 169 ngày 04 /8/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện
Phú Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
7.V án phí: Buc b Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí HSST 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đng) án phí DSST sung qu
Nhà nước.
8. Thông báo quyn kháng cáo: Án x công khai sơ thẩm, mt b cáo, các
b hại người đại din hp pháp ca b hi (Anh Ngọc A, anh Đàm n T, anh
11
Trnh Quốc C, anh Dương Văn S, ch Lăng Huyền T) báo cho những ngưi này biết
quyn kháng cáo bn án trong hn 15 ngày k t ngày tuyên án.
- Các b hi người đại din hp pháp ca b hi (Ch Th Ngc V, anh ch
ng Th K, anh Đặng Quc H anh Đặng n H) vng mt ti phn tòa, quyn
kháng cáo bn án trong hn 15 ngày k t ngày k t ngày nhận được bn án hoc bn
án được niêm yết theo quy định pháp lut.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án
dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tnh Thái nguyên; THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
- VKSND, THADS huyn Phú Bình;
- Công an huyn Phú Bình;
- B cáo, các b hi và người ĐDHP;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Nguyễn Minh Toản
Tải về
Bản án số 110/2021/HS-ST Bản án số 110/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất