Bản án số 11/2024/DS-PT ngày 29/01/2024 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng rừng và đất rừng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 11/2024/DS-PT ngày 29/01/2024 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng rừng và đất rừng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng rừng và đất rừng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cao Bằng
Số hiệu: 11/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/01/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp giữa nguyên đơn Hoàng Sỹ K và bị đơn Lý Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 11/2024/DS-PT
Ngày: 29-01-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm
nghiệp
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thnh phn Hi đng xt x phúc thẩm gm c:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Na
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Th
Bà Doanh Thị Mây
- Thư ký phiên to: Bà Ma Thị Huyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao
Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên to:
Bà Cao Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao
Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 45/2023/TLPT-DS ngày 12
tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp”.
Do Bản án dân sự thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2024/QĐ-PT ngày
08 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Sỹ K, sinh năm 1952; Có mặt
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Bị đơn: Bà Thị T, sinh năm 1958; vắng mặt không có lý do.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Thị T: Ông Dương Hoàng T1,
sinh năm: 1982, có mặt;
Cùng địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Người đại diện theo pháp
luật ông Nguyễn Thế H - Chủ tịch. Vắng mặt có lý do;
2. Hạt kiểm lâm thành phố C, tỉnh Cao Bằng, người đại diện theo pháp luật
ông Nông Văn T2 - Phó phụ trách Vắng mặt, người được ủy quyền Nông
2
Thị D Phó Hạt trưởng. Có mặt.
3. Bà Vi Thị N, sinh năm: 1953. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người kháng nghị: Kháng nghị số 2077/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2023
củaViện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2022, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên
đơn ông Hoàng Sỹ K trình bày:
Gia đình ông đám đất đồi tại khu L thuộc tổ A, phường S, thành phố
C, tỉnh Cao Bằng. Đám rẫy này do Bố ông Hoàng Văn V (đã chết năm 1964)
mẹ ông Hoàng Thị (đã chết năm 1986) khai phá đã lâu (trước năm
1960), gia đình ông vẫn canh tác từ trước đến nay. Trên đám đất đó, gia đình đã
trồng qua rất nhiều loại cây như khoai, sắn, lạc, trẩu, sa mộc, thông. Việc canh
tác trên đám đất đó từ trước đến nay có rất nhiều người biết.
Khi Nhà nước tổ chức đo đạc làm giấy tờ đất rừng cho các hộ có rừng, ông
làm đơn xin cấp giấy chứng nhận đối với đám đất này. Nhưng qua xác nhận,
thấy diện tích khu đất rừng ít, phải trên 01ha mới được cấp giấy. Từ đó đến nay
đất rẫy của nhà ông chưa được cấp giấy chứng nhận.
Mấy năm gần đây, cả hai vợ chồng ông tuổi cao, sức khỏe yếu, bận chăm lo
vườn tược không đến thăm đồi thường xuyên được. Lợi dụng hở đó gia đình
Thị T người cùng tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã ngộ
nhận và chiếm đoạt một phần đất trên khoảng 200m
2
làm đất của mình. Khi biết
tin này gia đình ông đã phản ứng nhưng gia đình bà T vẫn cố tình chiếm giữ,
thời gian sau thì chồng T ông Dương Hoàng V1 chết, đã đem chôn xuống đất
tranh chấp. Gia đình ông đã yêu cầu tổ dân phố giúp giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 16/10/2022, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị
đơn Thị T Người đại diện theo ủy quyền ông Dương Hoàng T1 trình
bày:
Mối quan hệ giữa gia đình gia đình ông Hoàng Sỹ K mối quan hệ
họ hàng, ông của chồng bà và bố của ông Hoàng Sỹ K hai anh em ruột. Mảnh
đất tranh chấp do ông, bà, bố mẹ chồng khai hoang. Từ năm 1977, lập gia
đình với ông Dương Hoàng V1 (đã chết) được canh tác trên mảnh đất này.
Đến năm 1982, bố, mẹ chồng chia phần đất đó cho vợ chồng bà để canh tác, đất
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích khoảng 200m
2
,
các phía tiếp giáp: Phía Đông giáp đất ông K, phía Tây giáp đường đi, phía Nam
giáp đất bà K1, phía Bắc giáp đất bà Đ.
Quá trình sử dụng đất: Từ năm 1977, vợ chồng bà đã trồng cây sa mộc trên
mảnh đất đó, phía trên đất đất của ông K trồng thông giáp gianh
bờ cao thấp. Khi chồng mắc bệnh, tâm nguyện, khi nào chết thì đưa lên
chôn tại mảnh đất đó. Tháng 02/2018, chồng chết, đã đặt mộ chồng theo
3
lời dặn, khi đưa đi chôn cất có mặt gia đình ông K đưa đến tận nơi.
Nguyên nhân phát sinh tranh chấp: Vào đầu tháng 01/2022, gia đình ông có
phát sinh tranh chấp mảnh đất này với gia đình ông K do hiện nay đất mồ mả
giá cao, gia đình ông K đã lấy máy múc về múc phần đất của gia đình ông
phía trên tiếp giáp với mảnh đất nhà ông để bán đất mồ mả.
Nay bố, mẹ chồng và chồng bà đã chết, ông K có ý định cướp đất, thời gian
xảy ra tranh chấp đã được tổ hòa giải tổ 10 tổ hòa giải phường S giải quyết
nhưng không thành. Bà cho rằng đất đó là của gia đình bà.
Tại bản tự khai ngày 26/10/2022, phiên hòa giải tại phiên tòa. người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị N trình bày:
Bà là vợ của ông Hoàng Sỹ K, kết hôn từ năm 1972. Ông K con một nên
được hưởng toàn bộ tài sản của bố, mẹ chồng để lại. Ông đám đất rẫy
thuộc khu L, tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng nay đang tranh chấp,
có đơn yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nguồn gốc: Đám rẫy này khoảng hơn 1.000m
2
, phía bên dưới giáp
đường đi lại hiện đang tranh chấp diện tích khoảng 200m
2
đất của bố, mẹ
chồng khai phá để lại. Từ ngày kết hôn, được quản lý, canh tác đám đất
trên trồng nhiều loại hoa màu như khoai, sắn, lạc, chuối...Về sau phong
trào trồng cây thì vợ chồng ông trồng sa mộc, thông, trẩu trên đám đất đó. Do
nhiều người chăn thả trâu, nên mọc thưa thớt. Năm 2015, chuyển sang trồng
cam tại ruộng ở nơi khác, ít khi lên rẫy.
Năm 2018, ông Dương Hoàng V1 chồng bà T chết, bà T con trai đã đưa
ông V1 lên rẫy ông chôn cất, lúc về đến nhà có thắc mắc tại sao ông V1 lại chôn
phần đất của gia đình, cũng một số hàng xóm thắc mắc. Do quan hhọ
hàng xa nên nghĩ mồ mả mới, chưa muốn nói. Về sau lên rẫy gặp con trai
T, đã nói đất rẫy này thuộc rẫy của bà, đã đặt mộ bố cháu đây t
thôi, còn phần còn lại không được đặt sử dụng nữa. Gia đình T không
nghe và cố tình chiếm đoạt phần đất trên của bà.
Qua quá trình hai gia đình không thỏa thuận được với nhau, vợ chồng bà đã
làm đơn lên tổ dân phố Ủy ban nhân dân phường giải quyết hòa giải 2 cấp
nhưng không thành.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết thửa đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu, sử
dụng của gia đình và buộc gia đình bà T phải di dời mồ mả, nhổ bỏ toàn bộ
cây keo trồng trái phép trên đất đi nơi khác để trả lại đất cho gia đình.
Người quyền li nghĩa vụ liên quan Hạt kiểm lâm thành phố C, trình
bày: Vị trí đất tranh chấp thuộc 42, khoảnh 04, tiểu khu B thuộc quy hoạch
rừng sản xuất, đất chưa được giao cho ai, người dân nào khai phá người đó quản
lý. Đất thuộc trường hợp được giao đất giao rừng để trồng rừng sản xuất theo
quy định của pháp luật.
Lời trình bày của những người làm chứng:
- Dương Thị S, Dương Thị L, Dương Thị C, Dương Thị L1,
4
ông Nông Văn T3 (là các em gái, em rể của Ông Dương Hoàng V1) đều khẳng
định thửa đất tranh chấp chính là tài sản của ông bà, bố mẹ để lại và thuộc quyền
sử dụng, quản lý của gia đình bà Lý Thị T.
- Ông Sầm Viết B trình bày: Năm 1986 tôi lên làm nhà trú tại L, K, gia
đình ông sinh sống cách đám đất rẫy đó khoảng 300m
2
. Gia đình tôi dẫn nước
mạch tkhe Lỏ Phon về, lúc đó chỉ làm rãnh qua đất chỗ nào trũng thấp lấy
máng tre bắc qua, chưa ống nhựa như bây giờ. Lúc đó trâu Hợp tác còn
nhiều, đường nước tôi dẫn qua gốc tre gai, giáp gianh Thị T Hoàng
Thị Đ1, hiện tại gốc tre gai đã chết. Thường ngày tôi đi xem nước qua đám đất
đó, thấy bà N1 là mẹ chồng bà Lý Thị T ng các con bà canh tác làm nương rẫy
ở đám đất đó. Còn con đường vào nhà bà Tô Thị M chưa có, chỉ có lối mòn trâu,
bò và người đi làm nương rẫy đi lại.
- Bà Thị X trình bày: Bà là hàng xóm với ông K và bà T. Từ năm 1997,
tôi lập gia đình và tại tổ A, phường S, thành phố C. Về nguồn gốc đất
không nắm được, không biết ai là người trồng các cây thông, sa mộc. Khi đi qua
đấy thấy ông V1 và thơm phát cây sa mộc. Về ranh giới đất các hộ tranh
chấp như thế nào bà không biết. Khi ông V1 chết, gia đình bà T chôn cất trên
đấy, không thấy có ai phản đối, ngoài ra bà không có ý kiến gì thêm.
- Hoàng Thị Í trình bày: Từ năm 1993, lập gia đình với ông Văn N2
(đã chết) tại tổ A, phường S, thành phố C. Gia đình có lấy nước nguồn Lỏ Phon
về để sinh hoạt gia đình và hiện tại gia đình vẫn có đường nước để sinh hoạt qua
thửa đất của ông Dương Hoàng V1 Thị T, mỗi lần nước nguồn không
về, tôi đi lấy nước, tôi thấy ông V1 T canh tác tại thửa đất này. Năm
2018 ông V1 chết cũng chôn cất tại mảnh đất này đến nay.
- Hoàng Thị X1 trình bày: Từ năm 2004, lập gia đình với ông Văn
N3 (đã chết) tại tổ A, phường S, thành phố C. Gia đình lấy nước nguồn Lỏ
Phon về để sinh hoạt gia đình và qua thửa đất của ông Dương Hoàng V1,
Thị T, thấy bà Lý Thị T canh tác trên mảnh đất này.
- Hoàng Thị M1 trình bày: không quan hệ họ hàng với ông K
T chỉ hàng xóm. Không nhớ chính xác ranh giới đất của M2 (có con
dâu là bà T) ranh giới (con trai ông K), khi còn nhỏ chỉ biết con mương
dẫn nước từ khe chảy ra. Lâu không lên khu đất nên không biết được ranh
giới giữa bà M2 với bà Ấ, ngoài ra không cung cấp gì thêm.
- Ông Vương Văn S1 trình bày: Ông không quan hhọ hàng với ông
K và bà T chỉ là hàng xóm. Ông có đám rẫy trên đất ông K, lúc còn nhỏ có cùng
mẹ lên rẫy làm ruộng. Tuy nhiên, không đi con đường mương đi theo
hướng khác lên rẫy. thấy M2 làm rẫy nhưng không xác định được ranh
giới đất tranh chấp giữa ông K và bà T, ngoài ra không cung cấp gì thêm.
- Ông Hoàng Lương C1 trình bày: Ông không quan hệ họ hàng với
ông K và bà T chỉ là hàng xóm. Ông sinh ra và lớn lên tại tổ A, phường S, thành
phố C. Ông được biết, con mương do các hộ trong khu công nhân làm gồm:
Ông V, ông S1, bà M2 ông K2 để lấy nước về sinh hoạt, phần đất của gia
5
đình ông K phía trên, bên trong đất của ông Chiên Xạ M3, lần lượt đến đất
M2 tiếp ông C2, phía dưới mương đất N. Ông không rẫy khu vực
đấy, còn ranh giới đất như nào ông không nắm được, ngoài ra không cung cấp gì
thêm.
- Hoàng Thị N4 xác nhận: sinh sống cùng bố mẹ tại K, Q, H. Năm
1971 ra trọ học nhà ông Hoàng Văn V2 Vi Thị M4. Trong mấy năm
trọ học được theo bà M4 đi làm rẫy tại thửa đất bây giờ chôn cất ông
Dương Hoàng V1, còn các thửa đất khác của bà M4 thì không biết.
- Hoàng Thị Đ1 xác nhận: gặp mẹ ông K trồng sắn trên diện tích
đất tranh chấp bây giờ. Về con đường hiện nay, trước kia mương nhỏ bờ
mương nhỏ để người dân đi lại. Đến năm 1993, ông Hoàng Văn H1 xây nhà đất
thì lấy máy ủi lên san lấp thành con đường đi cho xe chở vật liệu xây dựng.
Khóm tre ở giáp ranh, không biết ai trồng, về sau mới biết ông X2 trồng, nay chỉ
còn gốc, ngoài ra không cung cấp gì thêm.
- Bà Bế Thị N5 xác nhận: Bà không có quan hệ họ hàng gì với ông K và bà
T chỉ là hàng xóm. Về nguồn gốc đất, bà có nền nhà trên sườn đồi và sống ở đy
khi còn Hợp tác thấy con mương từ khe chảy ra. Đất của gia đình M4
dưới con mương, đất của gia đình bà ở trên con mương. Bà liền kề với đất gia
đình bà . Khu đất nghĩa địa của M4 góc bên trên đất nhà bà, thời điểm
canh tác không thấy mầy tranh chấp. Trước gốc cây gạo làm
ranh giới, mọc phía dưới mương nước, trên mương thấy bà Ấ canh tác.
- Hoàng Thị N6 trình bày: quan hệ họ hàng xa với gia đình ông
K, sống tnhỏ đi làm rẫy tại đó. Vnguồn gốc đất của cụ Hoàng Thị
(mẹ ông K). Trước cây gạo ngăn cách, con mương nước đi qua, hiện nay
thành con đường dân sinh, đất của cụ phía bên trên đất phía dưới của cụ
M4. Sau năm 1997, bà đi học và làm ăn nên không nắm được.
- Ông Nguyễn Văn X3 trình bày: Không quan hệ họ hàng với ông K
và bà T chỉ là hàng xóm. Gia đình có đám rẫy cạnh đất ông K có tên gọi là Lỏ P,
thường xuyên canh tác trồng cây thông. Năm 1986, trồng 01 bụi tre, thấy
ông K trồng Trẩu và cây thông trên đám đất đó.
- Ông Hoàng Văn T4 trình bày: Ông quan hệ họ hàng xa với ông K
ông V1, từ năm 1973, thấy Hoàng Thị canh tác trên đám rẫy này chủ yếu
trồng sắn, khoai. Sau đó do sức khỏe, tuổi gkhông còn sức lao động
nữa, con trai của Hoàng Sỹ K đã trồng cây xuống khoảng rẫy đó vào năm
1980. Nhưng trâu, phoại nên ông K trồng lại rất nhiều lần nhưng số
cây mọc không được bao nhiêu. Ông khoảnh rẫy gần đó và xác định khoảnh
rẫy này là của ông Hoàng Sỹ K là đúng.
- Thị M trình bày: Không quan hệ họ hàng với ông K T,
chỉ hàng xóm, nhà gần đám rẫy của ông K N. Từ năm 1993 đã
chuyển lên đấy làm nhà và xác nhận đất tranh chấp là của ông K, ranh giới đất
con mương đã thấy từ trước đó.
- Ông Nguyễn Văn C3 xác nhận: Ông không có quan hệ họ hàng gì với ông
6
K T chỉ hàng xóm, về nguồn gốc đất không biết. Năm 2018, ông V1
chết, ông trong hội hiếu, nhưng không tham gia đội chôn cất. thấy gia
đình ông K cụ thể con trai ông K mặt tại đám tang ông V1, không thấy
mâu thuẫn, tranh chấp gì.
- Ông Đặng Văn H2 xác nhận: Không quan hệ họ hàng với ông K
T chỉ người được T thuê đào huyệt xây mộ, ngày đào huyệt chỉ
người nhà ông V1 và hội hiếu; không có mặt ông K và bà N, trong quá trình đào
huyệt, xây mộ không ai tranh chấp, cản trở. Vnguồn gốc đất không biết
không nắm được.
- Dương Thị Châu L2 xác nhận: Không quan hệ họ hàng với ông
K T, chỉ hàng xóm, tổ trưởng tổ hiếu trong đám tang ông V1, tổ hiếu
phân công thành 02 tổ gồm tổ 01 làm bếp, tổ 02 đào huyệt. Gia đình ông K
nằm trong danh sách tổ 01 làm bếp, thời điểm ông V1 chết không thấy có xảy ra
tranh chấp giữa hai gia đình. Về tài sản cây cối trên đất thì ông K rừng cây
trên đất phần bờ cao con phần đất tranh chấp bây giờ chỉ có lác đác.
- Bà Triệu Thị K3 xác nhận: Gia đình có đám rẫy liền thửa với đám đất nhà
Ấ, không biết M4, chỉ nghe con trong xóm nói đất của M4 dưới
mương nước.
- Ông Luân Xuân H3 xác nhận: Ông làm tổ trưởng dân phố từ năm 2020,
về nguồn gốc đất tranh chấp, trước kia là của gia đình ông K, bà N, việc gia đình
chuyển nhượng, mua bán hay không thì không nắm được. Tại đám tang, ông
không nắm được gia đình ông K có biết việc gia đình bà T đặt mộ xuống đất của
ông K hay không. Thời điểm ông còn làm trưởng ban mặt trận, con trai ông Sầm
Viết B tên Sầm Văn L3 có tranh chấp với gia đình con gái ông K.
* Tại biên bản xem xét thẩm định, đo đạc tại chỗ ngày 14/11/2022:
Thửa đất tranh chấp thuộc khu L, tại tổ A phường S, thành phố C các hướng
tiếp giáp như sau:
+ Phía Đông giáp đất ông Hoàng Sỹ K;
+ Phía Tây giáp đường đi;
+ Phía Bắc giáp đất bà Hoàng Thị Đ1 và ông Nguyễn Văn X3;
+ Phía Nam giáp đất bà Triệu Thị K3.
Về kích thước, diện tích theo sơ đồ trích đo cung cấp.
Về tài sản trên đất: gốc cây sa mộc đã khai thác đã đốt trồng lại cây
keo (94 cây), cây sa mộc tái sinh trồi (05 cây), 01 cây sa mộc chiều cao rút
ngọn, khoảng 1,20 m, đường kính 40cm; 01 ngôi mộ chôn và xây từ tháng
02/2018, xây trát ốp gạch thẻ vận chuyển bộ, trung bình 150 m, chưa sang tiểu,
kích thước 6,75 x 3,8m. phía trước mộ, bị đơn tả móng đá hộc, sâu
0,7m, rộng 0,7m, dài 6,75 m, phía trên xây bằng tường gạch 220 mm, cao 1,4 m,
rộng 6,75m. Phía sau phần móng gạch 220mm, sâu 0,3m, dài 6,75m. phần tường
xây gạch chỉ 110mm, cao 1,4m, dài 6,75m. Tường cánh bên trái, móng xây bằng
gạch chỉ, chiều sâu 1,4m, một bên là 1,4m 9,3m dài 5,36m. phía trên 01
7
tường gạch 110mm, cao 1,4m, dài 1m (hình tam giác). Tường cánh bên phải:
Móng xây bằng gạch chỉ 220mm, chiều sâu 0,3m, rộng 1m, sân xi măng 10m
2
,
phía trên xây cắt hình thang bằng gạch chỉ 220mm, cao 1,40m 0,3m, dài
1,5m.
* Tại Công văn số 1933/UBND-TNMT ngày 07/8/2023 về việc cung cấp
thông tin đất đai để giải quyết vụ án. Ủy ban nhân dân thành phố C căn cứ quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2030/QĐ-UBND ngày 29/10/2021, Kế hoạch sử
dụng đất năm 2023 thành phố C được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số
2323/QĐ-UBND ngày 31/12/2022. Vị trí đất tranh chấp đất rừng giữa ông
Hoàng Sỹ K với Thị T tại địa danh L, tổ A phường S, thành phố C nằm
vào vị trí quy hoạch: Đất rừng sản xuất và thuộc trường hợp được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, được thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất. Căn
cứ theo Quyết định số 40/2021/QĐ-UBND ngày 10/11/2021 của Ủy ban nhân
dân tỉnh C, ban hành về quy định điều kiện tách thửa, diện tích tối thiểu, hạn
mức giao đất...Hạn mức công nhận quyền sử dụng đất trồng rừng phòng hộ,
rừng sản xuất cho mỗi hộ gia đình, nhân không quá 30 ha đối với mỗi loại
đất. Diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với đất nông nghiệp tại các
phường, thị trấn tối thiểu là 120m
2
.
Tại bản án Dân sự thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023
của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 221, Điều 609 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 17, Điều 101, Điều 135, Điều 166, Điều 203 của
Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý sử dụng án pvà lệ phí Tòa án, Điều 165 của Bluật tố
tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định, định giá, đo đạc tài
sản.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Sỹ K và người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị N.
Nguyên đơn ông Hoàng Sỹ K Vi Thị N được quyền quản lý, sử dụng
Thửa đất tranh chấp thuộc khu L, tại tổ A phường S, thành phố C, vị trí đất tranh
chấp thuộc 42, khoảnh 04, tiểu khu B thuộc quy hoạch rừng sản xuất các
hướng tiếp giáp như sau:
+ Phía Đông giáp đất ông Hoàng Sỹ K;
+ Phía Tây giáp đường đi;
+ Phía Bắc giáp đất bà Hoàng Thị Đ1 và ông Nguyễn Văn X3;
8
+ Phía Nam giáp đất bà Triệu Thị K3.
Về kích thước, diện tích theo sơ đồ trích đo cung cấp đính kèm.
Gia đình ông Hoàng Sỹ K Vi Thị N trách nhiệm liên hệ quan
chuyên môn thẩm quyền để làm thủ tục khai cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc gia đình bà Lý Thị T phải tự di dời mồ mả của ông Dương Hoàng V1
toàn bộ cây keo trên đất đi nơi khác để trả lại đất cho gia đình ông Hoàng Sỹ
K quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị
đơn phải chịu nộp tiền án phí dân sự thẩm số tiền 300.000đ đsung Ngân
sách Nhà nước. Bị đơn T là người cao tuổi, đơn xin miễn nộp tiền án phí
nên được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản tranh chấp: Nguyên đơn được
chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu tiền đo đạc, thẩm định, định giá tài sản
tranh chấp gồm: 3.000.000đ (chi phí đo đạc) + 3.000.000đ (chi phí thẩm đinh,
định giá) = 6.000.000đ. Xác nhận nguyên đơn đã tạm nộp số tiền 9.000.000đ
tạm ứng chi phí thẩm định, định giá, nguyên đơn đã tạm chi 6.000.000đ tiền chi
phí đo đạc, thẩm định, định giá nay còn được hoàn lại số tiền 3.000.000đ tiền
tạm ứng đã nộp.
Kể tkhi bản án hiệu lực pháp luật, nguyên đơn ông K đơn yêu cầu
thi hành án đối với khoản tiền chi phí xem xét thẩm định tài sản. Nếu T chưa
thi hành xong khoản tiền 6.000.000đ chi pđo đạc, thẩm định, định giá đất
tranh chấp thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, nguyên đơn quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên
án, ngày 08/8/2023. Bị đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Cao Bằng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2077/QĐ-VKS-DS ngày
07/9/2023 kháng nghị đối với Bản án số 55/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của
Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Ngày 24/8/2023 bị đơn Thị T
9
đơn kháng cáo không nhất trí với Bản án thẩm Tòa án nhân dân tỉnh
Cao Bằng không chấp nhận kháng cáo quá hạn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn Hoàng Sỹ K vẫn giữ nguyên nội
dung đã trình bày tại phiên tòa thẩm về nguồn gốc, yêu cầu khởi kiện. Ông
không có kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm. Tại Tòa, đề nghị xem xét và
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của tôi, để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho
tôi.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Thị T vẫn giữ nguyên nội
dung đã trình bày tại phiên tòa thẩm về nguồn gốc đất không nhất trí với
Bản án sơ thẩm đã tuyên. Đề nghị Tòa tuyên diện tích đất đang tranh chấp thuộc
quyền quản lý của bà T. Trong quá trình giải quyết tại sơ thẩm, do ông không có
mặt tại Cao Bằng tại thời điểm Tòa thành lập Hội đồng xem xét thẩm định tại
chỗ nên ông đã ủy quyền cho Vi Thị N tham gia xác định ranh giới đất khi
các quan chuyên môn đến đo đạc và không ủy quyền tham gia tố tụng. Ông
vẫn tự tham gia tại các buổi làm việc tại Tòa. Ngày 03/4/2023 tham gia buổi
hòa giải hay không, ông không nhớ.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vi Thị N: Nhất trí với ý kiến của
ông K, đất này có nguồn gốc do ông bà, bố mẹ để lại cho ông K, không phải của
Thị T, vẫn giữ nguyên lời khai tại phiên tòa thẩm. Khi T chôn cất
ông V1 trên phần đất này, có nhắc nhở đã chôn rồi thì thôi, nhưng sau không
được làm như vậy. Đề nghị Tòa xem xét, bảo về quyền, lợi ích cho ông bà. Ông
K ủy quyền cho để xác định ranh giới tranh chấp khi các quan đến đo
đạc, còn các buổi làm việc tại Tòa, ông K tự tham gia, buổi hòa giải ngày
03/4/2023 ông K có tham gia hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về
việc giải quyết vụ án:
Về ttụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
* Về kháng cáo:
- Bản án của Tòa án nhân dân thành phố C ban hành ngày 08/8/2023.
Ngày 24/8/2023, Thị T đơn kháng cáo vi phạm quy định của
pháp luật về thời hạn kháng cáo quy định tại Khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm
2015 (quá thời hạn 01 ngày). Nội dung hình thức đơn đơn kháng cáo đầy đủ
theo quy định tại Khoản 1 Điều 272 BLTTDS năm 2015.
*Về nội dung kháng cáo:
Kháng cáo toàn bộ bản án s55/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 do Tòa án
nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm vì lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét,
đánh giá khách quan các tài liệu chng cứ trong hồ vụ án gây ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
10
Tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị:
*Về tính hợp pháp của kháng nghị:
Xét thấy Tòa án nhân dân thành phố C nhiều vi phạm trong quá trình
giải quyết vụ án nên ngày 07/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ban
hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 2077/QĐ-VKS-DS ngày 07/9/2023
kháng nghị đối với bản án số: 55/2023/DS-ST ngày 14/8/223 của Tòa án nhân
dân thành phố C.
Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng ban hành kháng nghị đúng thẩm quyền theo
Điều 278 BLTTDS năm 2015; đúng thời hạn theo quy định tại Điều 280
BLTTDS năm 2015.
*Về tính có căn cứ của kháng nghị:
Việc thụ giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C trong vụ án
này những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Nội dung bản án vi
phạm về việc áp dụng sai, thiếu điều luật, phân tích, nhận định đánh giá
chứng cứ không sở, không khách quan, không đúng theo quy định của
pháp luật.
Qua kiểm sát việc thụ giải quyết của tòa án, nghiên cứu hồ đánh
giá chứng cứ, đối với nội dung trong đơn kháng cáo, nội dung Viện kiểm sát đã
kháng nghị KSV có ý kiến như sau:
Nhận thấy tòa án cấp thẩm đã nhiều vi phạm nghiêm trọng
trong quá trình giải quyết vụ án như:
Thứ nhất: Vi phạm về điều kiện thụ lý vụ án:
Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013:
Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai:
"2. Tranh chấp đất đai các bên tranh chấp không hòa giải được thì
gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trách nhiệm tổ chức việc hòa giải
tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình thực hiện phải phối hợp
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp các tổ chức thành viên của
Mặt trận, các tổ chức hội khác …Tại Khoản 1 Điều 88 Nghị định số:
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nghị định quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Đất đai"Điều 88. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất
đai1. Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân
dân cấp trách nhiệm thực hiện các công việc sau:...b. Thành phần Hội
đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng
gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Chtịch Hội đồng; đại
diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với
khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số
hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết về nguồn gốc quá
trình sdụng đất đối với thửa đất đó..."Ngày 01/4/2022 của Ủy ban nhân dân
11
phường S đã tiến hành hòa giải tranh chấp tuy nhiên thiếu thành phần Ủy ban
mặt trận tổ quốc xã theo quy định tại Khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013;
điểm b khoản 1 Điều 88 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai do
đó vụ án thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện để thụ lý vụ án.
Thứ hai: Vi phạm về xác định sai phạm vi ủy quyền v thời hạn ủy
quyền dẫn đến xác định sai cách tham gia tố tụng: Thời hạn ủy quyền và
phạm vi ủy quyền được quy định tại Khoản 1 Điều 140 điểm c khoản 1
Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015: "Điều 140. Thời hạn đại diện1. Thời hạn
đại diện được xác định theo văn bản y quyền, theo quyết định của quan
thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhận hoặc theo quy định của pháp luật."Điều
141. Phạm vi đại diện"1. Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:...
...
c, Nội dung ủy quyền;"
Ngày 28/10/2022 ông Hoàng Sỹ K (bên A) hợp đồng ủy quyền cho
Vi Thị N (bên B), trong hợp đồng ghi bên B được toàn quyền thay mặt và
nhân danh bên A thực hiện công việc sau: Tham gia việc xác định ranh giới
phần đất đang tranh chấp với gia đình bà Thị T do quan thẩm quyền
tiến hành đo đạc. Theo nội dung ghi trong hợp đồng ủy quyền thời hạn ủy quyền
là 6 tháng do đó hợp đồng ủy quyền đã hết hiệu lực từ ngày 28/4/2023.
Như vậy trong giấy ủy quyền ngày 28/10/2022 ông Hoàng Sỹ K chỉ ủy
quyền cho N tham gia việc xác định ranh giới phần đất đang tranh chấp với
gia đình Thị T khi quan thẩm quyền tiến hành đo đạc chứ không
phải tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết ván. Hơn nữa hợp đồng ủy
quyền đã hết hiệu lực, do đó tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng vẫn xác định
Vi Thị N người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn để tham gia hòa
giải tại theo biên bản hồi 14 giờ ngày 03 tháng 4 năm 2023 và tham gia xét xử là
vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 140 và điểm c khoản 1 Điều 141 Bộ luật dân
sự năm 2015.
Thứ ba: Vi phạm trong quyết định của bản án không tuyên cụ thể về
diện tích đất tranh chấp gây kh khăn trong quá trình thi hnh án
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể:
Điều 175. Ranh giới giữa các bất động sản
"1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận
hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền."
Trong nội dung bản án chỉ tuyên về việc "chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông Hoàng Sỹ K người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vi
Thị N.
Nguyên đơn ông Hoàng Sỹ KVi Thị N được quyền quản lý, sử dụng
thửa đất tranh chấp thuộc khu L, tại tổ A phường S, thành phố C, vị trí đất tranh
12
chấp thuộc 42, khoảnh 4, tiểu khu B thuộc quy hoạch rừng sản xuất các
hướng tiếp giáp..." không xác định diện ch tranh chấp cụ thể bao nhiêu,
nên khó khăn cho việc thi hành án.
Thứ tư: Việc định giá ti sản không khách quan, không c cơ sở:
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/11/2022 không thể hiện
về diện tích đất tranh chấp kích thước các cạnh, sẽ được quan chuyên
môn đo đạc biên tập, thể hiện bằng sơ đồ đo vẽ và cung cấp cho tòa án sau.
Tuy nhiên, cùng ngày 14/11/2022 lại tiến hành định giá tài sản khi chưa xác
định được diện tích tranh chấp. Biên bản định giá tài sản hồi 10 giờ 15 phút
ngày 14/11/2022 thể hiện phần diện tích đất sườn đồi đang có tranh chấp có diện
tích khoảng 200/1000m
2
địa chỉ L, tổ A, phường S, thành phố C. Tòa án chưa
xác định diện ch đất tranh chấp bao nhiêu, nhưng lại căn cứ vào Quyết
định số 28/2021/QĐ - UBND ngày 15/10/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh C ban
hành xác định giá đất rừng sản xuất là 16.000đ/m
2
là không đúng.
Thứ năm: Trong ni dung Bản án số 55/2023/DS-ST ngày 8/8/2023 vi
phạm về việc áp dụng thiếu điều luật v sai điều luật dẫn đến về việc tuyên án
sai quyền kháng cáo của đương sự
Thị T bị đơn vắng mặt tại phiên tòa; người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn là ông Dương Hoàng T1 mặt tại phiên tòa. Tại phần 4
trong bản án về quyền kháng cáo, tòa án nhân dân thành phố C tuyên bị đơn
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết vi phạm khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 vì bị đơn đã có ủy quyền cho ông Dương Hoàng T1 tham
gia tố tụng mặt tại phiên tòa. Do đó thời hạn kháng cáo của bị đơn phải
được tính kể từ ngày tuyên án.
Tòa án không áp dụng các điều luật như: Điều 147; Điều 157 Bộ luật t
tụng dân sự năm 2015 là chưa đầy đủ.
Vì vậy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành
đảm bảo có căn cứ, chỉ rõ những vi phạm, đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm
2013; Điểm b Khoản 1 Điều 88 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Khoản 1 Điều 140 Điểm c Khoản 1 Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 4 Điều 308, Điều 311 BLTTDS năm 2015 đề nghị HĐXX hủy bản án
thẩm số: 55/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh
Cao Bằng và đình chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét đơn kháng cáo; tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra, xem
xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án
của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Hội đồng xét xử nhận định
13
như sau:
[1] Về tố tụng:
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2077/QĐ-VKS-DS là kháng nghị trong
thời hạn luật định.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng
[2.1]. Đối với ni dung “ Vi phạm về điều kiện thụ lý vụ án
Hội đồng xét xxét thấy: Ông Hoàng Sỹ K khởi kiện Thị T về việc
tranh chấp đất đai tại khu L thuộc tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Ông cho rằng đám rẫy này do bố ông là Hoàng Văn V (đã chết năm 1964) và mẹ
ông Hoàng Thị (đã chết năm 1986) khai phá đã lâu (trước năm 1960), gia
đình ông vẫn canh tác ttrước đến nay. Khi Nhà nước tổ chức đo đạc làm giấy
tờ đất rừng cho các hộ có rừng, ông Hoàng Sỹ K có làm đơn xin cấp giấy chng
nhận đối với đám đất này. Nhưng qua xác nhận, thấy diện tích khu đất rừng quá
ít, nên đến nay đất rẫy của nhà ông chưa được cấp giấy chứng nhận. Mấy năm
gần đây, cả hai vợ chồng ông tuổi cao, sức khỏe yếu, bận chăm lo vườn tược
không đến thăm đồi thường xuyên được. Lợi dụng hở đó gia đình Thị
T người cùng tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đã ngộ nhận
chiếm đoạt một phần đất trên khoảng 200m
2
làm đất của mình. Khi biết tin này
gia đình ông đã phản ứng nhưng gia đình T vẫn cố tình chiếm giữ, thời
gian sau thì chồng T ông Dương Hoàng V1 chết đã đem chôn xuống đất
tranh chấp. Thấy việc làm đó gia đình ông không thể tự giải quyết được
nên đã yêu cầu tổ dân phố giúp giải quyết. Không hòa giải được nên viết đơn
khởi kiện đến Tòa án.
Như vậy, quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất, theo quy định
của Điều 202 Luật đất đai, tranh chấp phải được hòa giải tại sở. Đồng nghĩa
với việc đây điều kiện tiền tố tụng bắt buộc. Hòa giải tại tổ dân phố không
thành, Ủy ban nhân dân phường S tiến hành hòa giải tranh chấp. Tại biên bản
hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C, thành
phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai gồm có: Đồng chí Chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường S, thành phố C; công chức địa chính, công chức pháp, đại
diện Hạt kiểm lâm thành phố C, tổ trưởng tổ dân phố A phường S. Vắng thành
phần Mặt trận tổ quốc theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật đất đai năm
2013; điểm b khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, do đó
biên bản hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân phường S chưa đúng
thành phần Hội đồng hòa giải, vì vậy biên bản hòa giải trên không đảm bảo pháp
của một biên bản hòa giải sở. Như vậy hồ khởi kiện chưa đủ điều kiện
để thụ vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân
sự. Lẽ ra Tòa án cấp thẩm phải trả lại đơn khởi kiện, hoặc đình chvụ án khi
đã thụ lý để khắc phục đối với Biên bản hòa giải cơ sở.
[2.2]. Đối với ni dung Vi phạm về xác định sai phạm vi ủy quyền v
14
thời hạn ủy quyền dẫn đến xác định sai tư cách tham gia tố tụng”.
Hợp đồng ủy quyền được lập ngày 28/10/2022 tại Văn phòng C5 giữa bên
ủy quyền là ông Hoàng Sỹ K, bên được ủy quyền là bà Vi Thị N, với phạm vi ủy
quyền quy định tại Điều 1, Vi Thị N được toàn quyền thay mặt nhân danh
ông Hoàng Sỹ K tham gia việc xác định ranh giới phần đất đang tranh chấp với
gia đình Thị T do quan thẩm quyền tiến hành đo đạc; thời hạn ủy
quyền 06 tháng kể từ ngày Hợp đồng được chứng nhận (ngày 28/10/2022).
Như vậy, Vi Thị N chỉ tham gia với cách “người được ủy quyền của
nguyên đơn” trong quá trình tiến hành xác định ranh giới phần đất đang tranh
chấp với gia đình Lý Thị T do quan thẩm quyền tiến hành đo đạc
trước đó, ngày 26/10/2022 ông Hoàng Sỹ K đã nộp đơn yêu cầu xem xét thẩm
định tại chỗ và nộp chi phí tham gia tố tụng. Tuy nhiên, Thông báo về phiên hòa
giải, biên bản hòa giải ngày 03/4/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử Bản
án thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C đều xác định cách tố tụng của
Vi Thị N người được ủy quyền của ông Hoàng Sỹ K và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan; dẫn đến Bản án thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn ông Hoàng Sỹ K và người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Vi Thị N không đúng, vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu.
[2.3]. Đối với ni dung quyết định bản án không tuyên cụ thể về diện
tích đất tranh chấp gây kh khăn trong quá trình thi hnh án” v “Ni dung
Bản án số 55/2023/DS-ST ngy 08/8/2023 vi phạm về việc áp dụng thiếu điều
luật v sai điều luật về việc tuyên án sai quyền kháng cáo của đương sự.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự:
“…trong phần quyết định phải ghi các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội
đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng quyền kháng cáo đối với bản án;
…”.
Như vậy, phần Quyết định của Bản án sẽ ghi nhận nội dung Tòa chấp nhận
hay không yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, từ đó để các đương sự xác lập các
quyền, nghĩa vụ của mình. Vì vậy, khi tuyên phải đầy đủ, chính xác về đối tượng
khởi kiện Tòa án sẽ tuyên thuộc quyền quản lý, sử dụng của ai, vị trí, ranh
giới, diện tích… tất cả các thông tin cần thiết để giai đoạn thi hành án được tiến
hành thuận lợi. Trong phần Quyết định của bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân
thành phố Cao Bằng chỉ tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Hoàng Sỹ K người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vi Thị N, nêu địa
chỉ thửa đất, các phía tiếp giáp của thửa đất, nhưng chỉ nêu nội dung “về kích
thước, diện tích theo sơ đồ trích đo cung cấp đính kèm” thiếu thông tin về
thửa đất, khó khăn trong việc thi hành án. Việc cần đồ trích đo thửa đất
hay không quyền của quan Thi hành án trong giai đoạn Thi hành án, Tòa
án không có nghĩa vụ ban hành kèm theo Bản án.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 85 BLTTDS người đại diện Điều 86
BLTTDS quyền, nghĩa vụ của người đại diện thì ông Dương Hoàng T1 đại
diện theo ủy quyền của Thị T, các quyền nghĩa vụ của đương sự
15
trong phạm vi ủy quyền. Như vậy, ông Dương Hoàng T1 được quyền thay mặt
Lý Thị T quyết định các vấn đề liên quan vụ án, thực hiện quyền và nghĩa vụ
của nguyên đơn theo quy định tại Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự khi
tham gia giải quyết vụ án. Tại phiên tòa thẩm, bị đơn Thị T vắng mặt,
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Dương Hoàng T1 mặt tại
phiên tòa. Do đó, thời hạn kháng cáo của bị đơn phải được tính kể từ ngày tuyên
án. Bản án sơ thẩm đã tuyên bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết vi
phạm quy định khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngoài ra, Bản án quyết định về phần án phí, Chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ nhưng không ghi căn cứ Điều nào là thiếu Điều luật áp dụng.
[2.4]. Đối với ni dung “Việc định giá ti sản không khách quan, không
c cơ sở”
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ bắt đầu từ 08 giờ 00 ngày 14/11/2022
tại vị trí đất tranh chấp, phần diện tích đất tranh chấp kích thước các cạnh
sẽ được cơ quan chuyên môn đo đạc, biên tập thể hiện bằng sơ đồ đo vẽ và cung
cấp cho Tòa án sau. Tuy nhiên, vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 14/11/2022, Hội
đồng định giá đã tiến hành định giá đối với tài sản đang tranh chấp, theo đó xác
định giá đất rừng sản xuất 16.000 đ/m
2
, ghi nhận phần diện tích đất sườn đồi
đang tranh chấp diện tích khoảng 200/1000 m
2
, sau khi kết quả đo đạc sẽ
tính diện tích cụ thể.
Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự, kết quả định giá một
trong những nguồn chứng cứ quan trọng cho việc giải quyết vụ án, trong vụ án
này, Tòa án có quyền thành lập Hội đồng định giá tài sản theo quy định tại Điều
104 Bộ luật Ttụng dân sự, theo đó Hội đồng định giá được quyết định đưa
ra giá của tài sản đang tranh chấp. Như vậy, tại thời điểm định giá tài sản chưa
kết quả đo đạc, chưa xác định được diện tích tranh chấp, vậy Hội đồng
định giá chưa tính được tài sản định giá có giá trị bao nhiêu, mà chỉ đưa ra giá là
16.000đ/m
2
, chưa đảm bảo giá trị của Biên bản định giá sử dụng làm nguồn
chứng cứ, Thẩm phán không được quyền tự mình tính toán giá trị tài sản, trong
vụ án này, tiến hành định giá tài sản nhưng không đề cập đến giá trị tài sản đang
tranh chấp, cần rút kinh nghiệm về việc cần tiến hành định giá tài sản khi
không có yêu cầu về tài sản trên đất hoặc yêu cầu về bồi thường.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định: Các nội dung
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng kháng nghị đối với Bản án số
55/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố C đều có căn cứ
chấp nhận. Tòa án cấp thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục ttụng, không
thể khắc phục tại phiên tòa phúc thẩm. Đặc biệt vi phạm về điều kiện thụ
vụ án. Do đó phải hủy bản ánthẩm và đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án nhân
dân thành phố Cao Bằng sẽ thụ lý, giải quyết, xét xử thẩm lại vụ án khi
đương s đơn khởi kiện khắc phục được các điều kiện thụ vụ án. Các
nội dung và yêu cầu khởi kiện sẽ được xem xét trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng trong giai đoạn sơ thẩm:
16
Do vụ án thuộc trường hợp hủy và đình chỉ thuộc trường hợp điểm g khoản
1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, người yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ
định giá tài sản ông Hoàng Sỹ K. vậy, căn cứ khoản 5 Điều 157 BLTTDS
và khoản 5 Điều 165 BLTTDS, ông Hoàng Sỹ K phải chịu chi phí tố tụng đã chi
cho Hội đồng định giá, Hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ trong giai đoạn
thẩm 6.000.000 đồng được trừ đi số tiền ông Hoàng Sỹ K đã tạm nộp là
9.000.000 đồng để tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
Nguyên đơn đã nộp đủ, đồng thời sau phiên tòa, nguyên đơn được Tòa án hoàn
lại số tiền 3.000.000đ tiền tạm ứng đã nộp.
[4] Về án phí:
Các đương sự thuộc trường hợp được miễn án phí nên không đặt ra xem
xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 308, Điều 311, điểm g, khoản 1 Điều 217, khoản 1
Điều 218, khoản 5 Điều 157, khoản 5 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Huỷ Bản án Dân sự thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa
án nhân dân thành phố C, tỉnh Cao Bằng và đình chỉ giải quyết vụ án. Đương sự
có quyền khởi kiện lại vụ án khi có đủ điều kiện khởi kiện.
2. Về chi phí tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:
Ông Hoàng Sỹ K phải chịu số tiền chi phí tố tụng cho Hội đồng định giá và
xem xét thẩm định tại chỗ 6.000.000 đồng, xác nhận ông Hoàng Sỹ K đã nộp
đủ.
3. Về án phí:
Các Đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- CCTHADS TP C;
- TAND TP C;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Na
Tải về
Bản án số 11/2024/DS-PT Bản án số 11/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất