Bản án số 11/2021/HS-ST ngày 28/05/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 11/2021/HS-ST ngày 28/05/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 11/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/05/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 11/2021/HS - ST
Ngày 28/5/2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Giàng Thị Lan;
2. Ông Đỗ Trọng Bằng;
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toản Thư Tòa án nhân dân
thị xã S P, tỉnh LC.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân thị Sa Pa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Việt Xô - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị S P, tỉnh LC
xét xử ng khai sơ thẩm vụ án nh sự thụ số 08/2021/TLST- HS ngày 19
tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST- HS
ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa đối với các bị cáo:
1. Phạm Duy T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/5/1992; Tại huyện
BT, tỉnh LC.
Nơi trú: Tổ 4, phường LC, thành phố LC, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Lao
động tdo; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Phạm Duy Kh và Nguyễn Thị T. Bị cáo vợ là Tạ Thị Tố
Ng. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Vợ, con của bị cáo đều cư trú tại: Tổ 4, phường LC, thành phố LC, tỉnh LC
- Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma
túy.
Bị cáo Phạm Duy T btạm giữ, tạm giam tngày 06/02/2021, hiện đang
bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa; Có mặt tại phiên tòa.
2. Giàng A Ch; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/9/1998, ti thị SP,
tỉnh LC;
Nơi cư trú: Thôn GTCM, xã TV, thị xã SP, tỉnh LC.
- Ngh nghip: Lao động t do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân
tc: H Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tch: Vit Nam.
2
Con ông Giàng A H (đã chết) Thào Thị D; Sinh năm 1977; (là đối
tượng đang bị truy nã). Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân, bị cáo đối tượng nghiện chất ma
túy.
Bị cáo Giàng A Ch bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2021, hiện đang
bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa ; Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A Ch: Nông Thị Thúy Hằng; Trợ
giúp viên pháp thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Lào Cai.
mặt
- Người có quyền lợi liên quan:
+ Anh Nguyễn Văn C; Địa chỉ: Tổ 02, thị trấn MA, huyện VY, tỉnh YB.
Vắng mặt
- Người làm chứng:
+ Anh Quẩy Ph; Địa chỉ: Thôn CL 2, TC, thị S P, tỉnh LC.
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 05/02/2021, tổ công tác Công an thị Sa
Pa đang tuần tra tại khu vực Thôn CL 2, TC, thị Sa Pa phát hiện Phạm
Duy T đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Win BKS 21V5 00067 chở theo
Giàng A Ch đang di chuyển trên Quốc lộ 4D qua địa phận Thôn CL 2, xã TC
biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Qua kiểm tra đối với Phạm Duy T
Giàng A Ch, phát hiện thu giữ bên trong chiếc ba Giàng A Ch đang đeo trên
người 01 lnhựa màu trắng, n trong chứa 01 gói ni lon màu xanh 01
gói ni lon màu đen được buộc túm bằng sợi chỉ màu hồng, trong các gói nilon
đều chứa chất bột khô vón cục màu trắng. Phạm Duy T và Giàng A Ch khai
nhận Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang
niêm phong các vật chứng theo quy định.
Ngày 08/02/2021, quan cảnh sát điều tra Công an thị Sa Pa đã ra
quyết định trưng cầu giám định số 27 gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Lào Cai giám định đối với tổng trọng lượng 0,63 gam chất bột khô vón cục màu
trắng đã thu giữ của Phạm Duy T và Giàng A Ch.
Tại bản kết luận giám định số 56/GĐMT ngày 08/02/2021 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,63 gam chất bột khô vón cục màu
trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Quá trình điều tra, các bị cáo Phạm Duy T Giàng A Ch đã thành khẩn
khai báo về nguồn gốc số ma túy nói trên như sau : Giàng A Ch người làm
thuê cho gia đình Phạm Duy T, cả Giàng A Ch và Phạm Duy T đều là đối tượng
nghiện chất ma túy, ngày 05/02/2021 tại trang trại của gia đình Phạm Duy T ở tổ
3
4, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, T hỏi Ch biết chỗ nào mua ma túy
ngon, rẻ không để mua về sử dụng. Ch đồng ý và rủ T đi lên thị xã Sa Pa để mua
ma túy, T điều khiển xe mô tô Win BKS 21V5 0067 chở Giàng A Ch đi lên thị
Sa Pa. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T đưa cho Ch 500.000 đồng, Ch cầm tiền
rồi đến nhà Vàng Thị M; sinh năm 1985 ; Địa chỉ tại Thôn GTCM, xã TV, thị xã
Sa Pa hỏi mua được 02 gói ma y 01 gói nilon màu xanh 01 gói nilon màu
đen buộc chỉ hồng bên trong đều chứa Heroine được cất trong l nhựa màu
trắng. Sau khi mua được ma túy Giàng A Ch đã cất giấu vào trong chiếc ba
đang đeo trên người rồi cùng Phạm Duy T di chuyển về thành phố Lào Cai, trên
đường vđi đến khu vực Trung Chải thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt
giữ và thu giữ toàn bộ tang vật cùng chiếc xe mô tô Win BKS 21V5 – 0067.
Ti Cơ quan điu tra, Phạm Duy T Giàng A Ch đã khai nhận toàn bộ
hành vi phm ti của mình.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS-SP ngày 19/4/2021 của Viện Kiểm sát
nhân dân thị Sa Pa truy tố các bị cáo Phạm Duy T Giàng A Ch về tội
Tàng trữ trái phép chất ma túytheo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ
luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa giữ nguyên
quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hi đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Duy T Giàng A Ch phạm tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”. Áp dụng điểm điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự;
Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Duy T t01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng
tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Giàng A Ch 01 năm đến 01 năm 03 tháng . Không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về x vật chứng: Áp dụng đim a, c khoản 1 Điều 47 Bluật nh
sự; khoản 2 Điu 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tun tịch thu tiêu hủy: 0,54 gam Heroine được đóng trong 01 bì thư tái
niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt của
thư ghi “Vật chứng n lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả
tang và khám xét chỗ của Giàng A Ch Phạm Duy T “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Phát hiện bắt giữ ngày 05/02/2021 tại thôn Chu Lìn I, Trung
Chải, thị xã S P, tỉnh LC.
Tịch thu nộp o ngân sách n nước chiếc xe tô nhãn hiệu Honda
Win BKS 21V5 0067 của Phạm Duy T.
Tuyên án phí quyền kháng cáo đối với các bị cáo theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên a người o cha cho bị o Giàng A Ch nhất trí với tội danh,
Điều luật Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa truy tđối với bị cáo. Bị cáo Giàng
A Ch người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ
4
hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy,
nên khi Phạm Duy T hỏi có biết chỗ mua ma túy không, Ch đã rủ T đi lên thị xã Sa
Pa để mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm
c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật
Hình sự: Xử phạt bị o Giàng A Ch 01 năm . Không áp dụng hình phạt bổ sung
đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Duy T bị cáo Giàng A Ch đồng ý với tội
danh điều luật Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa đã truy tđối với các
bị cáo, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các
bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào c i liu trong hsơ vụ án đã đưc
thẩm tra, xét hỏi, tranh lun tại phiên tòa, Hi đng xét xử nhn thy n sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo không ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với Vàng Thị M theo lời khai của Giàng A Ch Phạm Duy T, Vàng
Thị M người bán ma túy cho Ch vàng ngày 05/02/2021, ngày 06/02/2021,
quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi của Vàng Thị M, thời điểm
khám xét Vàng Thị M không mặt tại địa phương, quá trình khám xét không
phát hiện, thu giữ vật chứng tài liệu liên quan. quan điều tra đã tiến
hành xác minh nhưng không xác định được Vàng Thị M đi đâu làm nên
không có đcăn cứ để xử lý không có căn cứ xác định Vàng Thị M có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Theo lời khai của Giàng A Ch Phạm Duy T thì vào hồi 15 giờ ngày
05/02/2021, T đã được cho Ch 100.000 đồng để đến nhà của Vàng Thị M mua
Heroine, Ch T đã sử dụng hết sma túy đó. Ngoài lời khai của các bcáo thì
không tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh nên không đủ căn cứ xử
hành vi này của các bị cáo.
Đối với chiếc xe nhãn hiệu Honda Win BKS 21V5 0067 Phạm
Duy T sdụng để làm phương tiện đi mua ma túy, theo điều tra, xác minh xe
được đăng Nguyễn Văn C, tại quan điều tra Nguyễn Văn C khai đã bán
chiếc xe đó từ lâu và không nhớ đã bán cho ai. Nên xác định xe mô tô nhãn hiệu
Honda Win BKS 21V5 0067 không thuộc quyền shữu của Nguyễn Văn C.
Nguyễn Văn C không có quyền lợi liên quan gì đối với chiếc xe trên.
Phạm Duy T khai nhận đã mua chiếc xe đó tngười đàn ông tên Hưng
Thành phố Lào Cai bị cáo không biết thông tin, địa chỉ của người đó với giá
2.000.000 đồng, khi mua xe không giấy tờ, đăng giấy tmua bán xe
5
nên quan điều tra không tiến hành điều tra xác minh đối với chiếc xe trên
vậy chưa có đủ căn cứ xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe Honda
Win BKS 21V5 0067. Bị cáo Phạm Duy T điều khiển xe Honda Win
BKS 21V5 0067 đi vào thị Sa Pa mục đích để mua Heroine về sử dụng, bị
cáo Ch người thực hiện việc mua Heroine sau khi mua được Heroine, Ch
cất vào chiếc ba đeo trên người Ch nên xác định xe Honda Win BKS
21V5 0067 phương tiện Phạm Duy T dùng đ làm phương tiện di chuyển
chứ không phải phương tiện vận chuyển, chuyên chở, cất giấu chất ma túy nên
không phải là phương tiện phạm tội cần trả lại cho Phạm Duy T.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo
Phạm Duy T Giàng A Ch đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của các bị cáo như đã khai tại quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo
được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt giữ người
phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ biên bản niêm
phong vật chứng, biên bản thu giữ đồ vật tài liệu, bản kết luận giám định số
56/GĐMT ngày 08/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai,
lời khai của các bcáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ
vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 05/02/2021 các bị cáo Phạm Duy T Giàng A Ch hành vi tàng
trữ 0,63 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt
giữ. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đyếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái
phép chất ma y” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các b cáo là nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến chế độ độc
quyền quản các chất ma túy của Nhà nước khách thể được pháp luật hình
sự bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đây ván đồng
phạm mang tính chất giản đơn, bcáo Phạm Duy T là người khởi xướng việc
việc đi mua ma túy về sử dụng, là người đưa tiền chở Giàng A Ch đi mua ma
túy nên Phạm Duy T giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo là người có đủ năng
lực trách nhiệm hình sự, sự hiểu biết về hội cũng như pháp luật của nhà
nước. Bị cáo nhận thức biết được hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
vi phạm pháp luật, chất ma túy có nhiều tác hại đối với sức khỏe của con người,
gây mất an ninh trật tự tại địa phương song bị cáo đã mắc vào tệ nạn nghiện chất
ma túy. Do vậy cần phải một mức hình phạt nghiêm khắc trước pháp luật,
phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với bị cáo Giàng A Ch, bị cáo người đủ năng lực trách nhiệm
hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" vi
phạm pháp luật, song do bị cáo đã mắc vào tệ nạn hội nghiện chất ma túy,
nên khi bị cáo T hỏi bị cáo biết chỗ nào mua ma túy ngon, rẻ để sử dụng, bị cáo
đã đồng ý rủ T đi Sa Pa để mua ma túy. Bị cáo Ch giữ vai trò đồng phạm với
T, là người tích cực, trực tiếp đi mua, tàng trữ ma túy, nên bị cáo phải chịu trách
nhiệm với vai trò thứ hai trong vụ án. vậy cần phải một mức hình phạt
nghiêm khắc, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Vềnh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
6
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều người
nhân thân xấu, nghiện chất ma y, bcáo Phạm Duy T đã 01 tiền án vtội
trộm cắp tài sản, đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xóa án tích, vậy bị
cáo T và bị cáo Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình giải quyết vụ
án, bị cáo Phạm Duy T và bị cáo Giàng A Ch đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Phạm Duy
T ông ngoại là người có công với nước, nhưng theo hướng dẫn tại nghị quyết
số 01/2000 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì chỉ Vợ, chồng, cha, mẹ,
con, anh, chị, em ruột bị cáo người công với nước hoặc thành ch xuất
xắc mới được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự. Vì vậy bị cáo T không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định
tại khoản 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo cần có một
mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị
cáo. t tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm
sát. Hội đồng xét xquyết định áp dụng hình phạt thời hạn để trừng trị,
đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục các bcáo trở thành người công dân
lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 quy định: "Người phạm tội
còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng".
Bcáo Phạm Duy T Giàng A Ch đều điều kiện kinh tế khó khăn, các
bị cáo không tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với
các bị cáo.
[6] Về x lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2,
đim a khoản 3; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tch thu tu hy: 0,54 gam Heroine được đóng trong 01 thư tái
niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt của
thư ghi “Vật chứng n lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả
tang và khám xét chỗ của Giàng A Ch Phạm Duy T “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Phát hiện bắt giữ ngày 05/02/2021 tại thôn Chu Lìn I, Trung
Chải, thị xã S P, tỉnh LC.
- Trả lại cho Phạm Duy T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Win BKS
21V5 0067.
Toàn bộ vt chứng trên đã được quan cảnh t điều tra Công an thị xã Sa
Pa chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa theo biên bản giao nhận
vật chng ngày 28/4/2021.
[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Duy T, bị cáo Giàng A Ch phải chịu tiền án
phí hình sự thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự
7
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ
phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. V tội danh: Tuyên bố các bị o Phạm Duy T, Giàng A Ch phạm tội
ng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiệmnh sự: n cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1,
điều 51, điều 17, 38, 58 của Bluật Hình sự:
Xphạt bị o Phạm Duy T 01(một) m 03 (ba) tháng . Thời gian chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 06/02/2021. Không áp
dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Xphạt bị o Giàng A Ch 01(một) năm . Thời gian chấp hành hình phạt
nh từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 06/02/2021. Không áp dụng hình
phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: V x vt chứng: Áp dụng đim a, c khoản 1
Điều 47 Bộ luật hình sự; đim a khoản 2, đim a khoản 3; Điều 106 B luật tố
tụng nh sự:
- Tịch thu tiêu hy: 0,54 gam Heroine được đóng trong 01 t tái
niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt của
thư ghi “Vật chứng n lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả
tang và khám xét chỗ của Giàng A Ch Phạm Duy T “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Phát hiện bắt giữ ngày 05/02/2021 tại thôn Chu Lìn I, Trung
Chải, thị xã S P, tỉnh LC.
- Trả lại cho Phạm Duy T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Win BKS
21V5 0067.
Toàn bộ vt chứng trên đã được quan cảnh t điều tra Công an thị xã Sa
Pa chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa theo biên bản giao nhận
vật chng ngày 28/4/2021.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo bị cáo Phạm Duy T, Giàng A Ch mỗi bị
cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bcáo Phạm Duy T, bị cáo Giàng A Ch quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
8
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh, TX;
- PV 06 Công an tỉnh;
- Công an thị xã Sa Pa (3);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Trại tạm giam;
- Cơ quan THA HS;
- Bị cáo;
- Người có QLLQ;
- THADS; THAHS;
- Lưu.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Giàng Thị Thu Trang
Tải về
Bản án số 11/2021/HS-ST Bản án số 11/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất