Bản án số 11/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 của TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2019/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2019/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 của TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 139.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Long Thành (TAND tỉnh Đồng Nai) |
| Số hiệu: | 11/2019/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/02/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG THÀNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 11/2019/HS-ST
Ngày: 26/02/2019.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Sỹ Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hươn.
Bà Trần Thị Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia
phiên tòa: Bà Huỳnh Đức Xuân Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành,
tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2019/HSST
ngày 04/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-HS
ngày 12/02/2019 đối với bị cáo:
Võ Văn D, sinh năm 1992 tại Hậu Giang.
HKTT: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: ấp 3, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên cha: Võ Văn Đ, sinh năm 1969.
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1973.
Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và có vợ
tên là Lê Thị Kim N, sinh năm 1995, có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/10/2018 đến nay tại Nhà tạm giữ Công
an huyện Long Thành (Có mặt).
- Bị hại:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn N (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 1C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Nguyễn N, sinh năm 1977. Địa chỉ:
Ấp 1C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn M.

2
Địa chỉ: Tầng 12, số 54 N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính TNHH M: Ông Nguyễn
Xuân M, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 11, ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu (văn bản ủy quyền số 40/2018/UQ-M-TGĐ ngày 18/10/2018) (vắng
mặt).
3. Công ty tài chính TNHH một thành viên H.
Địa chỉ: Tầng G, số 20 N, phường T, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính TNHH một thành viên
H: Ông Lê Xuân M, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 60/4, tổ 4, khu phố 3, phường A,
thành phố B, tỉnh Đồng Nai (văn bản ủy quền số 637/2018/GUQ-S ngày
09/10/2018) (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH T (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A5-13-14-15-16-17 khu phố Chợ, khu C, thị trấn L, huyện L,
tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tô Thiên K, sinh năm 1959. Địa chỉ:
Tổ 3, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
+ Công ty TNHH MTV Dịch vụ thương mại B (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Hồ Thanh H, sinh năm 1977. Địa
chỉ: Số K1/52, khu V, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ C (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn B, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số
68 N, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Võ Văn D và T (không rõ họ tên, địa chỉ) là bạn quen biết nhau, do không
có tiền tiêu xài nên T nói D đưa ảnh thẻ 2cm x 3cm của D để T làm chứng minh
thư giả rồi đến các cửa hàng bán xe máy để mua xe dưới hình thức trả góp rồi bán
lấy tiền tiêu xài và không trả tiền góp cho các Công ty tài chính cho vay. Từ
16/6/2018 đến ngày 05/10/2018, D và T đã thực hiện 04 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài
sản trên địa bàn huyện L cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 16/6/2018, T và D đến Công ty trách nhiệm hữu hạn T
tại địa chỉ khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Khi đến nơi, T đứng ở ngoài
còn D đi vào hỏi mua 01 xe mô tô hiệu Honda Alpha với giá 22.100.000 đồng và
trả trước số tiền 5.100.000 đồng. Số tiền còn thiếu là 17.000.000 đồng, D sử dụng
chứng minh thư giả mang tên Huỳnh Hữu T có dán hình của D làm hợp đồng cho
3
vay mua hàng trả góp số tiền 17.935.000 đồng (bao gồm 935.000 đồng tiền bảo
hiểm khoản vay) của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn M. Sau khi mua được
xe mô tô trên D đưa xe cho T mang đi tiêu thụ được số tiền bao nhiêu và T đưa
cho D bao nhiêu tiền D không nhớ rõ.
- Lần thứ hai: Cũng với thủ đoạn nêu trên, vào ngày 18/9/2018 tại Công ty
TNHH thương mại dịch vụ C, địa chỉ khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. D
mua 01 xe mô tô hiệu Honda Alpha với giá 25.000.000 đồng với hình thức trả
góp, D trả trước sồ tiền 6.500.000 đồng. Số tiền còn thiếu 18.500.000 đồng D
dùng chứng minh thư giả mang tên Huỳnh Chí T có dán hình của D để làm hợp
đồng vay mua hàng trả góp số tiền 19.518.000 đồng (gồm tiền bảo hiểm khoản
vay là 1.018.000 đồng) của Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn M. Sau khi
mua được xe mô tô trên, D đưa xe cho T mang đi tiêu thụ được số tiền bao nhiêu
và T đưa cho D bao nhiêu tiền D không nhớ.
- Lần thứ ba: Vào ngày 20/9/2018, tại Công ty TNHH thương mại dịch vụ
B do ông Ngô Hồ Thanh H là người đại diện theo pháp luật. D hỏi mua 01 xe mô
tô hiệu Honda Alpha với giá 18.500.000 đồng. D dùng chứng minh thư giả mang
tên Huỳnh Chí T có dán ảnh của D để làm hợp đồng tín dụng vay trả góp số tiền
19.053.000 đồng (bao gồm 553.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay) của Công ty
tài chính TNHH một thành viên H. Sau khi mua được xe mô tô trên, D đưa xe cho
T mang đi tiêu thụ được số tiền bao nhiêu và T đưa cho D số tiền bao nhiêu D
không nhớ.
- Lần thứ tư: Ngày 05/10/2018, tại Công ty TNHH N tại địa chỉ xã P, huyện
L. D hỏi mua 01 xe mô tô Honda Alpha với giá 19.500.000 đồng, D trả trước số
tiền 4.000.000 đồng. Số tiền còn thiếu 15.500.000 đồng, D sử dụng chứng minh
thư giả mang tên Lê Hữu H có dán ảnh của D để làm hợp đồng vay trả góp của
Công ty tài chính TNHH M số tiền 16.353.000 đồng (gồm cả tiền bảo hiểm khoản
vay 853.000 đồng). Sau khi nhận được xe D đưa cho Công ty trách nhiệm hữu hạn
N số tiền là 2.500.000 đồng và nợ lại số tiền 1.500.000 đồng khi nào làm xong
giấy tờ xe sẽ trả hết. Sau khi mua được xe D đưa cho T bán được 11.000.000
đồng, nhưng T chưa chia tiền cho D.
Lúc 12 giờ ngày 08/10/2018, cũng với thủ đoạn nêu trên, T và D đến cửa
hàng xe máy H ở xã P, huyện L. Khi làm thủ tục để làm hợp đồng vay trả góp thì
chị Bùi Thị Thu T là nhân viên Công ty tài chính TNHH H phát hiện trên hệ thống
nội bộ D đã từng thực hiện hành vi lừa đảo nhiều lần nên đã báo công an xã P đến
làm việc. Tại đây, D đã đến khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đến
Công an xã P đầu thú, còn T đứng ngoài chạy thoát.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen,
07 ảnh 2cm x 3cm của D, 01 chứng minh thu giả mang tên Lê Hữu H, 01 chứng
4
minh thư giả mang tên Vày Văn C và với số tiền 5.500.000 đồng, 01 điện thoại di
động hiệu Oppo màu đen, 01 thẻ xe máy, 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank,
01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư tất cả đều mang tên Võ Văn D, 01 giấy
đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Minh H do D mượn của vợ Lê Thị Kim N, 01
giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị H là gíây đăng ký xe mô tô của D
mua để sử dụng nhưng hiện đã bán.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSLT ngày 02/01/2019, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Võ Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ
nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt
bị cáo Võ Văn D 02 năm tù đến 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đối với người tên T hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát
điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra, xác minh và sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo phải có nghĩa vụ
bồi thường cho các bị hại theo quy định của pháp luật.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu
tiêu hủy 07 ảnh 2cm x 3cm của bị cáo Võ Văn D, 01 chứng minh thư giả mang tên
Lê Hữu H, 01 chứng minh thư giả mang tên Vày Văn C, tịch thu để sung quỹ nhà
nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen và số tiền 5.500.000 đồng là công cụ,
phương tiện bị can sử dụng vào việc phạm tội. Tuyên trả cho bị cáo Võ Văn D 01
điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, 01 thẻ xe máy, 01 thẻ ATM của ngân hàng
Agribank, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư tất cả đều mang tên Võ Văn D,
01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Minh H, 01 giấy đăng ký xe mô tô
mang tên Nguyễn Thị H.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ,
ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ
án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long
Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
5
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của
pháp luật.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn D khai nhận: Võ Văn
D và người tên T (không rõ tên tuổi, địa chỉ) là bạn với nhau, T nói D đưa Chứng
minh thư để làm giấy tờ giả dùng mua xe gắn máy trả góp của các cửa hàng bán
lấy tiền tiêu xài và không trả cho các Công ty cho vay tài chính. Từ tháng 6/2018
đến tháng 10/2018, D trực tiếp 04 lần ký hợp đồng mua xe gắn máy tại các cửa
hàng kinh doanh trên địa bàn huyện Long Thành theo hình thức trả góp bằng các
tên khác nhau, sau đó T mang xe đi tiêu thụ và không trả tiền vay cho các Công ty
cho vay tài chính làm thiệt hại cho Công ty tài chính TNHH M số tiền
53.806.000đ, Công ty tài chính TNHH Một thành viên H số tiền 19.053.000đ và
Công ty TNHH N số tiền 1.500.000đ. Vào ngày 08/10/2018, D đang thực hiện
hành vi dùng giấy tờ giả mua xe gắn máy tại cửa hàng xe máy H tại xã P, huyện L
thì bị phát hiện nên D tới Công an xã P đầu thú còn T bỏ trốn.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của
bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có
đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy
định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm
2017.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng
người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm
phạm đến tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật
tự tại địa phương. Bằng thủ đoạn gian dối, bị cáo đã dùng giấy tờ giả mua hàng trả
góp để bán lấy tiền tiêu xài gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức, bị cáo nhiều lần
thực hiện hành vi phạm tội, chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn là coi thường pháp
luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ,
hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một
thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy
bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan
hồng của pháp luật.
Đối với người tên T không rõ tên tuổi, địa chỉ có hành vi làm giả chứng
minh thư cho D và cùng D thực hiện hành vi phạm tội, do chưa xác định được
tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành
tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
6
Đối với các lần phạm tội của Võ Văn D tại địa bàn thành phố B, huyện
T, huyện N. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã có văn
bản thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra các địa phương trên để xử lý theo
thẩm quyền.
Ngoài ra, Võ Văn D khai nhận ngày 22/03/2018, tại cửa hàng mua bán
điện thoại di động H ở ấp 7, xã A, huyện L, D sử dụng chứng minh thư và
giấy phép lái xe mang tên Võ Văn D để làm hợp đồng vay tài chính của Công
ty TNHH H số tiền 6.990.000đ để mua điện thoại di động hiệu Samsung J7
Pro, do D không chiếm đoạt số tiền nêu trên nên không xem xét xử lý.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng
nặng đối với bị cáo là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ
luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017. Tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị phát hiện bị cáo đã ra đầu thú theo
quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty tài chính TNHH M yêu cầu bị
cáo bồi thường số tiền 53.806.000đ, Công ty tài chính TNHH Một thành viên H
yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 19.053.000đ và Công ty TNHH N yêu cầu bị cáo
bồi thường số tiền 1.500.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường tất cả các
khoản tiền này cho các bị hại nên cần chấp nhận.
[6] Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 07 ảnh 2cmx3cm của bị cáo
Võ Văn D, 01 chứng minh thư giả mang tên Lê Hữu H, 01 chứng minh thư giả
mang tên Vày Văn C, tịch thu để sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia
màu đen và số tiền 5.500.000 đồng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc
phạm tội. Tuyên trả cho Võ Văn D 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, 01
thẻ xe máy, 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng
minh thư tất cả đều mang tên Võ Văn D, 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ
Thị Minh H, 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị H.
[7] Về án phí: Bị cáo Võ Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí
dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Võ Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/10/2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Điều 357; 361, 468, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

7
Buộc bị cáo Võ Văn D phải bồi thường cho Công ty tài chính TNHH M số
tiền 53.806.000đ, bồi thường cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên H số
tiền 19.053.000đ và bồi thường cho Công ty TNHH N số tiền 1.500.000đ.
Kể từ ngày Công ty tài chính TNHH M, Công ty tài chính TNHH Một
thành viên H và Công ty TNHH N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Võ Văn
D không thanh toán số tiền còn lại thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi
suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có
thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm
2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 07 ảnh 2cmx3cm của bị cáo Võ Văn D, 01 chứng minh thư
giả mang tên Lê Hữu H, 01 chứng minh thư giả mang tên Vày Văn C. Tịch thu
sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen và số tiền 5.500.000 đồng
là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Tuyên trả cho Võ Văn D
01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, 01 thẻ xe máy, 01 thẻ ATM của ngân
hàng Agribank, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư tất cả đều mang tên Võ
Văn D, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị Minh H, 01 giấy đăng ký xe mô tô
mang tên Nguyễn Thị H theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKSLT
ngày 02/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Biên bản giao
nhận vật chứng, tài sản ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Long Thành.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án buộc bị cáo Võ Văn D phải nộp 200.000đ án phí HSST và 3.717.950đ án phí
dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Võ Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết công khai.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Đồng Nai.
- VKSND, CA - H.Long Thành.
- Chi cục THA.DS H.Long Thành.
- UBND xã X, huyện K.
8
- Bị cáo, bị hại, người liên quan.
- Lưu: Hồ sơ, VP, BP, TP(H).
Mai Sỹ Tuân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng