Bản án số 11/2019/HNGĐ-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 11/2019/HNGĐ-ST ngày 24/09/2019 của TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Sơn Động (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 11/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị T và anh Q kết hôn nhưng không đăng ký, nay chị T yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết nuôi dưỡng con chung.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN ĐỘNG
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 11/2019/HNGĐ-ST
Ngày 24- 9- 2019
V/v Tuyên bố không công nhận
quan hệ vợ chồng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tâm, bà Hoàng Thị Chung
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Hằng - Thư Tòa án nhân dân huyện
Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà:
Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên;
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh
Bắc Giang xét xử thẩm công khai
vụ án thụ số 56/2019/TLST-HNGĐ ngày
12 tháng 6 năm 2019 về việc “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm
2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03/9/2019 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Thị T, sinh năm 1988. Nơi trú: Thôn S, T, huyện
S, tỉnh Bắc Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Trần Văn Q, sinh năm 1979. Nơi trú: Thôn S, T, huyện S,
tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện các lời khai tiếp theo, nguyên đơn Thị T trình
y: Chị kết hôn với anh Trần Văn Q ngày 19/7/2007 trên sở stìm hiểu
tự nguyện, tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục, tập quán địa phương, nhưng hai
bên không đi đăng kết hôn. Tình cảm vợ chồng ban đầu a thuận, hạnh
phúc. Mâu thuẫn vchồng phát sinh từ tháng 8/2017, nguyên nhân do kinh tế
kkhăn, làm ăn thua lỗ, anh Q sinh ra rượu chè, cờ bạc rồi gây sự đánh, chửi vợ
2
con, từ tháng 2/2019 đến nay vchồng đã sống ly thân nhau. Nay chị T xác định
tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không
đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Q được ly hôn nhau.
Vợ chồng có 2 con chung là cháu Trần Như N, sinh ngày 09/7/2008; cháu
Trần Ngọc Ninh T, sinh ngày 26/10/2012. Hiện tại chị đang nuôi dưỡng cả hai con,
sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu anh
Q phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải
quyết cho chị anh Q được ly hôn, đề nghị giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi
dưỡng, không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con.
2. Bị đơn Trần Văn Q trình bày: Anh xác nhận anh chị Thị T kết
hôn năm 2007 trên sở sự thỏa thuận tự nguyện, không đăng kết hôn
đúng; u thuẫn vchồng phát sinh từ năm 2017, nguyên nhân do hai người
không hợp nhau về quan điểm, lối sống nên xảy ra cãi chửi nhau, không phát triển
được kinh tế gia đình, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ hai năm trở lại đây; anh
xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng đã trầm trọng, chị T xin ly hôn
anh hoàn toàn nhất trí.
Vợ chồng 02 con chung như chị T trình bày đúng, hiện tại cả 02 con
đang với chị T; sau khi ly hôn chị T nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cả 02 con,
không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con anh đồng ý.
Về quan hệ tài sản: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án cung cấp lời khai, anh
Trần Văn Q đã bỏ nhà đi khỏi địa phương tìm kiếm việc làm, anh Q không thông
o địa chỉ làm việc cho chị T biết, cũng không trình báo chính quyền địa phương
nơi cư trú, không đề nghị Công an xã T cấp giấy xác nhận nhân sự nên chính quyền
địa phương cũng không biết anh Q làm gì, ở đâu.
3. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư thực hiện đúng
đầy đủ thủ tục tố tụng. Sau khi anh Q bỏ nhà đi cố tình giấu địa chỉ, Tòa án
đã niêm yết các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Q vẫn vắng
mặt; Tòa án tiến hành xét xvắng mặt anh Q đúng quy định tại khoản 2 Điều
227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng
trình tự của phiên tòa sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thị T anh Trần Văn Q; giao cả 2 con cho
3
chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con
nên không đặt ra giải quyết; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Anh Trần Văn Q bỏ đi khỏi nơi cư trú nhưng không thông báo cho chị Vũ
Thị T biết nơi lao động, làm việc, chính quyền địa phương nơi anh Q trú cũng
không biết anh Q đi đâu, làm ở đâu; như vậy, anh Q đã cố nh giấu địa chỉ. Tòa
án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo vphiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra
xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất các Giấy triệu tập theo quy định
tại khoản 5 Điều 177 Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. anh Q bị đơn
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt anh Q theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Chị Thị T anh Trần n Q kết hôn với nhau năm 2007, đủ điều
kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000,
nhưng hai bên không chấp hành việc đăng kết hôn vi phạm Điều 11 của Luật
Hôn nhân Gia đình năm 2000. Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa
chị Tanh Q không giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa
vợ và chồng. Nay chị T yêu cầu ly hôn, cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ
chồng giữa chị T anh Q theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về quan hệ con chung: Chị T anh Q 02 con chung cháu Trần
Như N, sinh ngày 09/7/2008; cháu Trần Ngọc Ninh T, sinh ngày 26/10/2012. Xét
thấy hiện tại chị T đang nuôi dưỡng cả 02 con chung, mặc anh Q không quan
tâm nhưng chị T vẫn đảm bảo điều kiện ăn học, nhu cầu cuộc sống cho các cháu; vì
vậy cần tiếp tục giao cho chị T nuôi dưỡng cả 02 con chung phù hợp với ý kiến,
nguyện vọng của hai bên, đảm bảo đúng quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014; chị T không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con n
không đặt ra xem xét, giải quyết; anh Q quyền nghĩa vụ trong việc thăm nom
con mà không ai được cản trở.
[5] Về án phí: Chị Thị T yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn,
nhưng chị T thành viên hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, các điều 57, 81, 82 và 83 của
Luật Hôn nhân Gia đình; khoản 7 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa
chị Vũ Thị T và anh Trần Văn Q.
2. Về quan hệ con chung:
Giao cho chị Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Trần
Như N, sinh ngày 09/7/2008 và cháu Trần Ngọc Ninh T, sinh ngày 26/10/2012.
Anh Trần Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con;
Không ai được cản trở anh Q quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Vũ Thị T.
Hoàn trả chị Vũ Thị T 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số
AA/2010/007029 ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
Đương sự mặt 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; đương svắng
mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án
xét xử vắng mặt.
Nơi nhận:
- Các đương sự
- VKSND huyện SĐ
- VKSND tỉnh BG
- TAND tỉnh BG
- Chi cục Thi hành án DS huyện SĐ
- UBND xã T
- Lưu hồ sơ, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Hoàng Văn Thái
Tải về
Bản án số 11/2019/HNGĐ-ST Bản án số 11/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất