Bản án số 107/2022/HS-ST ngày 30/06/2022 của TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 107/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 107/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 107/2022/HS-ST ngày 30/06/2022 của TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Gia Lâm (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 107/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/06/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 107/2022/HS-ST
Ngày 30/6/2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long
Các Hội thẩm nhân dân:1- Ông Trần Đức Nhuận – Nghề nghiệp: Công
chứng viên
2- Bà Nguyễn Thị Chấn – Nghề nghiệp: Giáo
viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G,
Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà Nội tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, Thành
phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2022/TLST, ngày 9
tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2022/QĐXX ngày
13 tháng 6 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Trung K, sinh: 2001. Nơi cư trú: số C, H, H1, H2, Hà
Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao
động tự do. Văn hóa: 12/12. Họ và tên cha: Trần Thế Tr, sinh 1976. Họ và tên
mẹ: Phạm Thị Thu P1, sinh 1976. Bị cáo là con một.
Tiền án, tiền sự: không.
Bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 05/3/2022 đến ngày 14/3/2022 chuyển
tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành
phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Tiến S, sinh ngày 24/6/2005. Tính đến thời điểm
phạm tội là 16 tuổi 7 tháng 20 ngày. HKTT: Ph, S, K, Hưng Yên. Quốc tịch:
2
Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn
hóa: 08/12. Bố: Nguyễn Xuân Tr1, sinh 1982. Mẹ: Lê Thị H1 (Đã chết). Gia
đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: không.
Bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 05/3/2022 đến ngày 14/3/2022 chuyển
tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành
phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện giám hộ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo S có ông
Nguyễn Xuân Tr1, sinh 1982. Có mặt tại phiên tòa.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
bị cáo S có ông Lê Q Đạo sinh năm 1972, Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước thành
phố Hà Nội - Chi nhánh số 11. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Duy H, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ,
G, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề
nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 11/12. Bố: Nguyễn Duy L, sinh năm 1976.
Mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1976. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: không.
Bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 05/3/2022 đến ngày 14/3/2022 chuyển
tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an thành
phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. Chị Nguyễn Thị Quỳnh Tr2, sinh năm 2000; Trú tại: Tổ M1, Gi1, L1,
Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Lâm Viết Q, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn B, xã Đ, G, Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Anh Thạch Văn D1, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn H3, xã N, G, Hà
Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
4. Anh Phạm Công Th, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn T1, xã Đ, G, Hà
Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
5. Anh Lý Văn D2, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn B, xã Đ, G, Hà Nội. Có
mặt tại phiên tòa.
6. Chị Lý Thị M, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn B, xã Đ, G, Hà Nội. Có
mặt tại phiên tòa.
3
7. Anh Bùi Đại Gi, sinh năm 1992; HKTT: Khu M2, xã Đ1, C, Phú Thọ.
Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Anh T, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn L1, xã Y, huyện G, Hà
Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI D2 VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 ngày 05/03/2022, tổ công tác Công an xã Đ thuộc Công an
huyện G làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã Đ, G. Khi đến khu vực
thôn 1, xã Đ, tổ công tác kiểm tra Nguyễn Tiến S đang điều khiển xe mô tô kiểu
dáng Honda Wave, màu đen - xám, BKS : 29N1 - 319.31 có biểu hiện nghi vấn.
Quá trình kiểm tra, S khai đây là xe do S cùng với Trần Trung K và Nguyễn
Duy H, trộm cắp mà có. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Tiến S cùng tang vật về trụ
sở cơ quan Công an để điều tra làm rõ. Vật chứng thu giữ của Nguyễn Tiến S :
số tiền 70.000 đồng ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen - xám,
BKS : 29N1 - 319.31, số máy JA39E0688833, số khung 3904HY709212, xe đã
qua sử dụng.
Cùng ngày 05/3/2022, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường
hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Tiến S, Trần Trung K và Nguyễn Duy H; ra Lệnh
khám xét khẩn cấp nơi ở của các đối tượng. Qua khám xét tại nhà ở của Nguyễn
Duy H tại thôn M, Đ, G, Hà Nội cơ quan điều tra đã thu giữ : 01 tuốc nơ vít hình
tròn, dài 23 cm có tay cầm bằng nhựa; 01 cờ lê bằng kim loại dài 13,7 cm ; 01
kéo dài 22,5 cm, tay cầm bằng nhựa màu đỏ. H khai đó là những công cụ mà H
cùng K, S sử dụng để đấu nối điện các xe máy trộm cắp được; thu giữ của Trần
Trung K: số tiền 270.000 đồng.
Quá trình điều tra Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy H khai
nhận đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Đ, G, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Trưa ngày 20/02/2022, Trần Trung K rủ Nguyễn Tiến S đi
trộm cắp xe máy để bán lấy tiền tiêu xài, S đồng ý. K và S đi bộ đến đoạn đường
Đ (gần cổng Trung tâm sát hạch lái xe) thuộc TDP H, Đ, G, phát hiện thấy chiếc
xe mô tô nhãn hiệu honda Wave Alpha màu trắng-đen-bạc, BKS 29K1-75588
của chị Nguyễn Quỳnh Tr2 – sinh 2000, trú tại: tổ M1, G1, L1, Hà Nội, không
có ai trông giữ, xe để ở trên vỉa hè, không khóa cổ, S đã dắt trộm chiếc xe còn K
4
đẩy xe phía sau đi vào trong một ngõ nhỏ ở gần đó vắng người, sau đó S cậy cốp
xe lấy chiếc tô vít mở mặt nạ nhựa phía trước xe, S giật đứt dây điện ở đầu xe,
đấu dây nổ máy và S điều khiển xe máy trộm cắp được chở K về nhà Nguyễn
Duy H ở thôn M, Đ, G chơi và nói với H đây là xe trộm cắp được. Đến chiều
cùng ngày, S và K điều khiển chiếc xe trên đến một cửa hàng sửa chữa xe máy
tại TT Y để đánh chìa khóa xe. Từ đó, K, S và H sử dụng chiếc xe này để làm
phương tiện đi lại.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 11/3/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave
màu trắng, đen bạc, BKS 29K1-75588 có giá trị: 11.000.000 đồng.
Lần thứ 2: Vào khoảng 2 h ngày 21/02/2022, S và H đi xe mô tô Wave
Alpha màu trắng, đen bạc, BKS 29K1-75588 đi xung quanh xã Đ xem ai sơ hở
để trộm cắp tài sản. H và S thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha
màu đen, BKS : 29K1-220.14 của anh Lâm Viết Q (sinh: 1990, HKTT: Thôn B,
Đ, G, Hà Nội) dựng cạnh tấm tôn màu xanh ở rìa đường thuộc thôn M, Đ, G,
không có ai trông giữ xe. S và H bẻ khóa cổ xe, sau đó S dắt chiếc xe trộm cắp
được còn H đi xe Honda Wave & màu trắng về nhà H. S lấy tô vít mở phần đầu
xe Honda Wave & màu đen đấu điện nổ máy và đi xe đến ngõ N, L2, Ph1, N1,
Hà Nội bán chiếc xe này cho một người đi đường (không rõ nhân thân) được
4.000.000 đồng, H và S chia nhau mỗi người 2 triệu đồng. K không biết H và S
đi trộm chiếc xe máy trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 11/3/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong TTHS huyện G, kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave Alpha BKS : 29K1-220.14 có giá trị : 9.000.000 đồng.
Lần thứ 3: Khoảng 01 giờ ngày 23/02/2022, sau khi đi chơi, K, S và H đi
về nhà H, bàn bạc với nhau đi trộm cắp xe máy đem bán lấy tiền cùng nhau tiêu
xài. Sau đó, K, S, H đi bộ đến dãy nhà trọ số nhà M4 hẻm C, thôn H3, Đ, G, Hà
Nội thấy cửa cổng mở, S, K và H đi vào trong sân trộm cắp chiếc xe mô tô
Honda Wave màu trắng, BKS 99E1-21571 và chiếc xe đạp điện màu đỏ của anh
Thạch Văn D1, sinh 1981, HKTT tại thôn H3, xã N, G, Hà Nội sau đó mang về
nhà H, S và H mở mặt nạ nhựa phía trước của xe ra đấu nối dây điện để nổ máy.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày 23/02/2022, S và H mang xe đạp điện đến cửa
hàng xe đạp B ở B, H, thị trấn Y bán cho anh Nguyễn Đăng D3 – sinh 1989
được 1.500.000 đồng, S chia cho H 800.000 đồng, S giữ 700.000 đồng. Đến 18
giờ cùng ngày, S và H tiếp tục mang xe mô tô Honda Wave màu trắng, BKS
5
99E1-21571 đi bán cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) ở ngoài đường
L2, N, Hà Nội được 4.000.000 đồng. S, H và K chia nhau mỗi người 1.300.000
đồng, còn 100.000 đồng thì sử dụng để mua nước uống.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 11/3/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave
màu trắng, bạc, đen BKS 99E1-21571 có giá trị 10.000.000 đồng; chiếc xe đạp
điện màu đỏ có giá trị : 1.400.000 đồng.
Lần thứ 4: Khoảng 01 giờ ngày 27/02/2022, H cùng S và K đến bãi vật
liệu xây dựng gần nghĩa trang thuộc thôn H3, Đ, G, H đứng ngoài cảnh giới còn
S và K đi vào bên trong gần chỗ lán bằng Contener một lúc và S đi bộ vào trong
dắt ra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29N1-183.32 vẫn cắm chìa
khóa ở ổ khóa của anh Phạm Công Th, sinh: 1986, HKTT: Thôn T1, Đ, G, Hà
Nội. Sau đó S điều khiển xe chở H và K. Khoảng 12 giờ cùng ngày S mang xe
mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 29N1-183.32 trộm cắp được đến đường
Đ1 thuộc địa phận xã Y bán cho anh Trần Anh T – sinh 1983, trú tại: thôn L1,
xã Y, G được 4.500.000 đồng rồi chia mỗi người được 1.500.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 11/3/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda
Dream, màu nâu, BKS: 29N1-183.32 có giá trị 12.000.000 đồng.
Lần thứ 5: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 28/02/2022, K, S và H đi bộ đến
một nhà trọ ở số nhà MB hẻm S, thôn B, xã Đ, G, Hà Nội, thấy không khóa
cổng, cả ba đi vào bê 02 chiếc xe mô tô Honda Wave alpha màu tím than BKS
23B1-70609 của anh Lý Văn D2 (sinh 1995) và chiếc xe mô tô Honda Wave
màu xám - đen – bạc, BKS 23E1-08677 của chị Lý Thị M - sinh 1975 ra ngoài
cổng rồi phá khóa cổ xe, K dùng tô vít tháo biển số 23B1-70609 của xe nhãn
hiệu Wave, màu tím than vứt ở gần nhà trọ, Sau đó K, S, H dắt 02 chiếc xe mô
tô trộm cắp được đi về nhà H, H tháo biển số 23E1-08677 của xe mô tô nhãn
hiệu Wave, màu xám cho vào cốp xe, K dùng tô vít tháo mặt nạ phía trước của
02 xe máy để S đấu dây điện nổ máy. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, K, S và H
cùng nhau mang 02 xe mô tô vừa trộm cắp được đi bán ở đường L2, N, Hà Nội
cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) được 8.000.000 đồng, S chia cho H
3.000.000 đồng, cho K 2.000.000 đồng, S giữ lại 3.000.000 đồng. Số tiền này,
các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.
6
Nguyễn Tiến S khi mở cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh
đen bạc, BKS 23B1-706.09 của anh Lý Văn D2 thấy có 01 ví giả da bên trong
có 1.500.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân. S đã lấy số tiền này tiêu xài một
mình hết, không nói cho K, H biết về việc này. Ví và giấy tờ thì S đã vứt đi.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 11/3/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave màu tím than, BKS 23B1-70609, có giá trị : 14.000.000 đồng ; chiếc xe
mô tô Honda Wave màu xám - đen – bạc, BKS 23E1-08677 có giá trị :
11.000.000 đồng.
Lần thứ 6 : Khoảng 01 giờ 00 ngày 04/3/2022, H, K, S đi bộ đến thôn H3,
xã Đ, G, thấy khu nhà trọ không khóa cổng, chỉ cài then, S đi vào phát hiện
chiếc xe mô tô Honda Wave alpha màu trắng BKS 19G1-384.53 của anh Bùi
Đại Gi (sinh 1992, HKTT: Khu M2, xã Đ1, C, Phú Thọ) ở gần cửa cổng ra vào,
xe có khóa cổ, không khóa càng sau đó S, K và H bê chiếc xe máy này ra ngoài
đường bẻ khóa cổ sau đó K dắt xe đi về nhà H còn H và S đi bộ phía sau. Về nhà
H thì S đấu điện nổ máy và mang đến ngõ NT, L2, Ph1, N, Hà Nội bán cho một
người đàn ông (không rõ nhân thân) được 6 triệu đồng rồi chia nhau H và S
được 2.500.000 đồng và K được 1.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 11/3/2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave màu trắng, đen, bạc, BKS 19G1-384.53 có giá trị 11.500.000 đồng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn H Honda Wave, màu đen - xám, BKS : 29N1
- 319.31, số máy JA39E0688833, số khung 3904HY709212, xe đã qua sử dụng
thu giữ của Nguyễn Tiến S. Qua xác minh theo số khung, số máy thì xe mô tô
nhãn hiệu Honda Wave có biển số 29K1 – 75588, S màu trắng – đen – bạc, là xe
của chị Nguyễn Quỳnh Tr2 đứng tên đăng ký. Chiếc xe mô tô này K và S đã
trộm cắp vào ngày 20/02/2022 và dùng làm phương tiện đi lại. Để tránh bị phát
hiện ra xe trộm cắp, H đã tháo biển số xe vứt đi sau đó lắp biển số 29N1 -
319.31 vào xe và dán đề can màu xe là màu đen. Do vậy, ngày 30/5/2022, cơ
quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô trên cho chị Tr2. Chị Tr2 đã nhận lại tài sản
và không có yêu cầu đề nghị gì.
Sau khi cơ quan điều tra – Công an huyện G ra thông báo truy tìm tang
vật đối với những xe mô tô chưa thu hồi được, ngày 31/3/2022, anh Trần Anh T,
sinh: 1983, HKTT: thôn L1, Y, G, Hà Nội đến cơ quan điều tra và giao nộp
7
chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, không có biển kiểm soát có số
khung 276695, số máy 1576714 đó là xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS:
29N1-183.32 của anh Phạm Công Th. Ngày 30/5/2022, cơ quan điều tra đã trả
chiếc xe mô tô trên cho anh Th, anh Th đã nhận lại tài sản.
Về dân sự: Đã được giải quyết xong trước khi mở phiên tòa.
Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS-GL ngày 02/6/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện G truy tố bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy
H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật
hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy H
khai nhận: Vào các ngày 23/02/2022, 27/02/2022, 28/02/2022 và ngày
04/3/2022, các bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy H cùng
nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã Đ, G, Hà Nội, cụ thể :
trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng, BKS 99E1-21571 có giá trị
10.000.000đồng và chiếc xe đạp điện màu đỏ có giá trị : 1.400.000đồng của anh
Thạch Văn D1 ; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream , màu nâu, BKS: 29N1-
183.32 có giá trị 12.000.000đồng của anh Phạm Công Th ; chiếc xe mô tô nhãn
H Honda Wave màu tím than, BKS 23B1-70609, có giá trị : 14.000.000đồng
và 1.500.000đồng trong cốp xe máy của anh Lý Văn D2; chiếc xe mô tô Honda
Wave màu xám - đen – bạc, BKS 23E1-08677 có giá trị : 11.000.000đồng của
chị Lý Thị M; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc,
BKS 19G1-384.53 có giá trị 11.500.000đồng của anh Bùi Đại Gi. Tổng giá trị
tài sản là: 61.400.000đồng. Riêng ngày 20/02/2022, thì chỉ có K và S trộm cắp
chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen bạc, BKS 29K1-75588 có
giá trị: 11.000.000đồng của chị Nguyễn Quỳnh Tr2; Ngày 21/02/2022, H và S
cùng nhau trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, bạc
BKS : 29K1-220.14 có giá trị: 9.000.000đồng của anh Lâm Viết Q.
Đại diện giám hộ bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho bị cáo S và Luật sư trợ
giúp viên pháp lý bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo S không bổ sung lời
trình bày phạm tội của bị cáo, đề nghị Tòa án xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho
bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G trình bày lời luận
tội nêu các hành vi cùng thực hiện trộm cắp tài sản của các bị cáo K, H, S vào
các ngày 23/02/2022, 27/02/2022, 28/02/2022 và ngày 04/3/2022 ; Hành vi thực
8
hiện trộm cắp của bị cáo K, S ngày 20/02/2022 và hành vi thực hiện trộm cắp
của bị cáo H, S ngày 21/02/2022. Nêu rõ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của
các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173;
điểm s,b khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điểm g, o Khoản 1 Điều 52; Điều
58; Điều 38; Điều 47; Điều 17 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt
Trần Trung K từ 26 - 28 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 05/03/2022. Áp dụng
Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s,b khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điểm g
Khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 38; Điều 47; Điều 17
BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt Nguyễn Tiến S từ 18 - 20 tháng
tù, thời hạn từ tính từ ngày 05/03/2022; Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173;
điểm s,b khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 58;
Điều 38; Điều 47; Điều 17 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt
Nguyễn Duy H từ 24 – 26 tháng tù, thời hạn từ tính từ ngày 05/03/2022. Vật
chứng: Xử lý theo quy định. Dân sự: Không.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối
với các bị cáo.
Lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng
xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D2 vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện G,
Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Thành phố Hà
Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và
tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định
của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa đã làm rõ vào các ngày 23/02/2022, 27/02/2022,
28/02/2022 và ngày 04/3/2022, bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn
Duy H cùng nhau thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã Đ, G, Hà Nội,
9
như sau: trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng, BKS 99E1-21571 có
giá trị 10.000.000đồng và chiếc xe đạp điện màu đỏ có giá trị 1.400.000đồng
của anh Thạch Văn D1; Trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu
nâu, BKS: 29N1-183.32, có giá trị 12.000.000đồng của anh Phạm Công Th;
Trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu tím than, BKS 23B1-
70609, có giá trị 14.000.000đồng và 1.500.000đồng trong cốp xe máy của anh
Lý Văn D2; Trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave màu xám - đen – bạc, BKS
23E1-08677 có giá trị 11.000.000đồng của chị Lý Thị M; Trộm cắp chiếc xe
mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc, BKS 19G1-384.53 có giá trị
11.500.000đồng của anh Bùi Đại Gi. Tổng giá trị tài sản là: 61.400.000đồng.
Ngoài ra, ngày 20/02/2022, K và S cùng nhau trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu
Honda Wave màu trắng, đen bạc, BKS 29K1-75588 có giá trị 11.000.000đồng
của chị Nguyễn Quỳnh Tr2. Ngày 21/02/2022, H và S cùng nhau trộm cắp trộm
cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, bạc BKS : 29K1-
220.14 có giá trị 9.000.000đồng của anh Lâm Viết Q. Tổng giá trị tài sản các bị
cáo thực hiện hành vi trộm cắp là 61.400.000.000đồng. Ngoài ra K và S phải
chịu thêm về hành vi trộm cắp giá trị tài sản 11.000.000đồng; H và S phải chịu
trách nhiệm thêm về hành vi trộm cắp giá trị tài sản 9.000.000đồng.
Vì vậy, đủ căn cứ xác định Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy
H đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173
Bộ luật hình sự.
[3]. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Trung K là người khởi
xướng thực hành tích cực cùng các bị cáo Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy H
thực hiện hành vi phạm tội tích cực.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu
tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang
trong quần chúng nhân dân. Đáng chú ý, trong vụ án bị cáo K là kẻ lôi kéo
Nguyễn Tiến S là người vị thành niên phạm tội. Các bị cáo cùng nhau thực hiện
liên tiếp nhiều hành vi phạm tội trong thời gian ngắn. Do đó xem xét tính chất,
mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly
10
các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ cải tạo giáo dục các bị cáo và
phòng ngừa phạm tội chung.
Song khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự: Như trước phiên tòa các bị cáo đã chủ động liện hệ gia đình khắc phục toàn
bộ thiệt hại cho người bị hại; Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn
khai báo, và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; người bị hại có đơn xin
giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo
khi quyết định hình phạt. Đối với bị cáo Nguyễn Tiến S là người vị thành niên
phạm tội nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo áp đụng Điều 91; Điều 101
BLHS để áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng
hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4]. Vật chứng: Xem xét trả lại anh Lý Văn D2 01 BKS 23B1-706.09;
Tịch thu tiêu hủy 01 BKS 23B1-706.09, 01 tuốc nơ vít hình tròn, dài 23cm có
tay cầm bằng nhựa, 01 cờ lê bằng kim loại dài 13,7cm, 01 kéo dài 22,5cm, tay
cầm bằng nhựa màu đỏ và 01 mũ bảo hiểm chất liệu nhựa màu đen, có kẻ sọc
đen trắng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 340.000đồng thu giữ của các
bị cáo do các bị cáo không đề nghị xin lại.
[5]. Về dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi liên quan đã được bồi
thường, không còn yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST sơ thẩm. Miễn án phí cho
bị cáo S do khi phạm tội ở độ tuổi vị thành niên.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện giám hộ cho bị cáo S và
người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo S có quyền kháng cáo theo luật
định.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Tiến S và Nguyễn Duy H
đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
11
Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s,b khoản 1 Điều 51; Khoản 2
Điều 51; Điểm g,o Khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 47; Điều 17 BLHS
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Trần Trung K 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài
sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 05/03/2022.
Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s,b khoản 1 Điều 51; Khoản 2
Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 58; Điều 38; Điều
47; Điều 17 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Tiến S 18 (mười tám) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài
sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 05/03/2022.
Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s,b khoản 1 Điều 51; Khoản 2
Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 47; Điều 17 BLHS
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án..
Xử phạt: Nguyễn Duy H 25 (hai mươi lăm) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài
sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 05/03/2022.
Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Dân sự: Không.
12
Vật chứng: Trả lại anh Lý Văn D2 01 BKS 23B1-706.09; Tịch thu tiêu
hủy 01 BKS 23B1-706.09, 01 tuốc nơ vít hình tròn, dài 23cm có tay cầm bằng
nhựa, 01 cờ lê bằng kim loại dài 13,7cm, 01 kéo dài 22,5cm, tay cầm bằng nhựa
màu đỏ và 01 mũ bảo hiểm chất liệu nhựa màu đen, có kẻ sọc đen trắng. Tịch
thu sung công quỹ nhà nước số tiền 340.000đồng. Hiện vật chứng nêu trên đang
được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, theo biên bản giao nhận
vật chứng ngày 22/6/2022 và biên lai thu tiền số 55152 ngày 30/6/2022.
2- Về án phí: Trần Trung K, Nguyễn Duy H, mỗi bị cáo phải nộp
200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Nguyễn Tiến S.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời H thi hành án được thực hiện theo qui định tại
điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo Trần Trung K, Nguyễn Duy H, bị cáo Nguyễn Tiến S,
đại diện giám hộ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo S có mặt
có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định
của pháp luật.
Nơi nhận:
- UBND phường,xã nơi bị cáo cư trú;
- Bi cáo,người tham gia tố tụng;
- Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
- Công an huyện G;
- VKSND huyện G;
- THADS huyện G;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Vũ Quang Long
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm