Bản án số 107/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 của TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 107/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 107/2018/HS-ST ngày 30/10/2018 của TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Thành (TAND tỉnh Nghệ An)
Số hiệu: 107/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/10/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN YÊN THÀNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 107/2018/HS-ST
Ngày 30/10/2018.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Bảng.
Ông Phạm Xuân Thanh.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên - Thư tòa án nhân dân huyện
Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:
Ông Luyện Văn Thông - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành,
tỉnh Nghệ An xét x thẩm ng khai vụ án nh sự thm thụ số:
95/2018/TLST-HS ny 21 tng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra t xử s
114/2018/XXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ tên: Trần Công N - sinh ngày 06 tháng 10 năm 1992, tại H, huyện
Y, tỉnh N. Nơi trú: Xóm 4, H, huyện Y, tỉnh N; nghề nghiệp: Nông nghiệp;
trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; n giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Con
ông Trần Huy Y Phan Thị Q; vợ: Hồ Thị D, sinh năm 1995; con: 01 con
sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. B cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tngày
20/6/2018 đến nay. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 20 tháng 6 năm 2018 Trần Công N đi bộ từ
nhà ra quốc l7B thuê xe ôm chở đến khu vực P, huyện Y để mua ma túy sử
2
dụng. Đến nơi Trần Công N gặp hỏi một người thanh niên (Không rõ lai lịch,
địa chỉ cthể) anh biết chỗ đá không lấy cho em một ít”, người thanh
niên trả lời “em lấy nhiều không”, Trần Công N nói lấy cho em 200.000 đồng”.
Trần Công N đưa cho người thanh niên 200.000 đồng đợi khu vực sân vận
động P. Một lúc sau người thanh niên quay lại đưa cho Trần Công N 01 gói
potylen bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), Trần Công
N cầm và bỏ vào túi quần bên trái đang mặc và bắt xe ôm về nhà nghỉ L thuộc xóm
1, thị trấn Y để sử dụng thì bị Công an huyện Yên Thành phát hiện bắt giữ.
Trong ngày 20/6/2018, quan điều tra Công an huyện Yên Thành đã mở
niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại (có sự
chứng kiến của cán bộ kiểm sát huyện Yên Thành bị cáo). Theo kết quả thì toàn
bộ vật chứng 01 gói potylen bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng (nghi là
ma y) trọng lượng cả bao 19,815 gam. Sau khi loại bỏ bao số chất bột
màu trắng có trọng lượng là 0,11 gam. Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành
đã lấy 0,07 gam để giám định còn lại 0,04 gam đã niêm phong lại.
Theo kết luận giám định số: 871/KL-PC54 ngày 26 tháng 6 năm 2018 của
phòng kỹ thuận hình sCông an tỉnh Nghệ An thì chất bột màu trắng thu giữ của
Trần Công N gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamin).
Cáo trạng số: 99/VKS-HS ngày 20/9/2018 của VKSND huyện Yên Thành,
Nghệ An truy tố Trần Công N về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c
khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên
quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau:
¸p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công N từ 12 đến 15 tháng.
- Vật chứng vụ án: Kiểm sát viên đề nghị xử lý theo quy định.
- Về án phí: Buộc bị o phải nộp án ptheo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị
HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, n cứ o c i liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên a, Hội đồng xét xử nhận định n sau:
[1] n cứ buộc tội: Tại quan điều tra cũng như tại phiên a công khai b
o Trần ng N đã khai nhận nh vi phạm tội của mình. Trên sở lời khai nhận
của bị cáo, lời khai ca người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu
3
giữ được và kết lun giám định là hoàn tn phù hợp với nhau. quan điều tra, điều
tra viên đã tiến hành tố tụng điu tra như lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, ra
c quyết định, lấy lời khai, hỏi cung bị can, trưng cu giám định, kết luận giám định
theo đúng các quy định của pháp lut.t thấy đã có đn cứ kết luận Trần Công N
phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đúng n o trạng của Viện kiểmt nhân
n huyện Yên Tnh, tỉnh Nghệ An đã quy kết.
Ma túy (Methamphetamin) mà Trần Công N ng trữ khối lượng 0,11 gam,
chính vy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Tnh tuy tố bị cáo theo điểm c,
khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 có n c.
Đây một vụ án nghiêm trọng, nh vi của bo không những m phạm
chính ch thống nhất quản lý của N ớc về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động
ng trữ chất ma túy mà còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội. vậy, cần phải áp dụng
nh phạt đúng mức với b o để phục vụ cho nhiệm vụ đu tranh phòng, chng tội
phạm về ma túy trên địan, địa phương. Đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi hội
để có tác dụng giáo dc ng png ngừa riêng.
[2] Vtình tiết giảm nh tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không
nh tiết ng nặng trách nhiệm nh sự. a trình điều tra, truy tố tại phiên tòa b
o Nguyên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố bị o được tặng huân cơng
chiến công cn coi đónh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều
51 của Bluật nh s để giảm nhẹ mt phần trách nhiệm hình scho bị cáo như đề
nghị của Kiểm sát viên tại phn a.
[3] nh phạt bổ sung: t bcáo người mc nghiện ma túy n không áp
dụng nh phạt bổ sung đối với bị o.
[4] Đối với nời thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo N, Cơ quan điều tra chưa
c minh được lại lịch, địa chỉ cụ thể của người này do đó chưa có cơ sở đxử .
[5] Về vật chứng: quan điều tra thu giữ của Trần ng N 0,11 gam ma túy
(Methamphetamin), sau khi mniêm phong lấy 0,07 gam gửi đi giám định còn lại
0,04 gam đã nm phong trong một thư của công an huyn n Tnh. Xét vật
chứng ma túy (Methamphetamin) loại N ớc cấm u nh, không giá tr
sử dụng, cần tịch thu tu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điu 106 Bộ luật tố
tụng nh sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bluật Hình sự.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Công N phải nộp án phí thẩm theo quy
định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự điểm a khoản 1 Điều 23
của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường
vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công N 12 (Mười hai) tháng về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
Thời hạn được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ngày
20/6/2018.
Hội đồng xét xử còn áp dụng tạm giam 45 ngày đối với bị cáo Trần Công N
để đảm bảo cho việc thi hành án.
2. Xử vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a
khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy của Trần Công N 0,04 g (Không phẩy không bốn gam) ma
túy (Methamphetamin) được niêm phong trong mt thư của Công an huyện Yên
Thành. Vật chứng hiện chuyển giao cho Chi cc thinh án dân sự huyện Yên Tnh,
tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của
Uban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bcáo Trần Công N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bcáo mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp
phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐÔNG XÉT XSƠ THM
-VKSND H. n Thành THẨM PN - CHTA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Ngh An
- THA DS H. n Thành
- Bo; Người b hại
- Ni o cha
- Ni QLNVLQ
- lưu HS ván
HSỹ Cưng
Tải về
Bản án số 107/2018/HS-ST Bản án số 107/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất