Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 104/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 104/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam) |
| Số hiệu: | 104/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/11/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số:104/2023/HS-ST
Ngày 24-11-2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Tuấn - Cán bộ hưu phường Hoà Mạc.
2. Bà Đỗ Thị Liên - Giáo viên nghỉ hưu phường Hoà Mạc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân
thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia
phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh
Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2023/TLST-
HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
91/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số
31, ngày 26 tháng 10 năm 2023, đối với:
- Bị cáo Nguyễn Lan H, sinh ngày 18/10/2003; nơi ĐKNKTT: Thôn K, xã P,
huyện N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: Số nhà A, tổ dân phố Đ, phường Y, thành
phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy T
và bà Phạm Thị Thu T; chồng: Phạm Văn D (đã ly hôn); con: Chưa có; tiền án; tiền
sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi
nơi cư trú, bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 2007, người đại diện hợp pháp:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện Y, tỉnh Hoà Bình,
vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hồ Thị V, sinh năm 1997,
địa chỉ: Tổ dân phố N, phường D, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Nguyễn Lan H là công nhân thời vụ của công ty TNHH S thuộc Khu công
nghiệp Đ, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam từ ngày 28/6/2023 đến ngày 13/7/2023.
Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 22/7/2023, H đi từ phòng trọ ở Tổ dân phố T,
phường B, thị xã D đến Công ty S để trả thẻ công nhân do H đã nghỉ việc từ ngày
13/7/2023. Tại đây, H đi đến tủ để đồ của chị Nguyễn Thị Vân A là công nhân làm
cùng bộ phận với mình mục đích để trộm cắp tài sản. Quan sát không ai để ý, H dùng
tay phải cầm chiếc chìa khoá cá nhân của mình mở tủ đồ cá nhân của chị Vân A ra,
thấy bên trong tủ có một số đồ dùng cá nhân và 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus
màu vàng đồng. H dùng tay phải lấy chiếc điện thoại Iphone 8 Plus ra cất vào trong
túi quần phía sau bên phải, rồi khoá chiếc tủ lại. Sau đó, H đi đến phòng nhân sự trả
thẻ công nhân rồi đem chiếc điện thoại vừa trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại
“Giang L” ở Tổ dân phố T, phường B, thị xã D bán cho chị Hồ Thị V được 500.000
đồng. Sau đó, chị Vân A phát hiện bị mất điện thoại nên đã trình báo sự việc với cơ
quan Công an, đến ngày 27/7/2023 H đến cơ quan Công an đầu thú.
Vật chứng thu giữ: Chị Hồ Thị V tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di
động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐ ngày 27/7/2023 của Hội đồng
định giá tài sản thị xã Duy Tiên kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
8 Plus, màu vàng đồng, đã qua sử dụng có giá trị 3.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả
lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Vân A 01 chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Vân Anh đã nhận lại chiếc điện thoại Iphone 8
Plus nên không có yêu cầu, đề nghị gì. Nguyễn Lan H đã tự nguyện trả cho chị Hồ
Thị V số tiền 500.000 đồng, chị Vân không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Cáo trạng số 90/CT-VKS-DT ngày 09/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị
xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều
173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị
HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65
Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Lan H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa
ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.
Trong phần tranh luận: Bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến
tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong
quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy
định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án
không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố
tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong
vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của
bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 22/7/2023 tại khu vực tủ để đồ công nhân của
công ty TNHH S thuộc Khu công nghiệp Đ, phường B, thị xã D, Nguyễn Lan H đã
lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đồng
trị giá 3.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Vân A.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài
sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật
tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”
tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của
Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm
tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình
tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét bị cáo có nhân thân tốt, được
hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế xét không cần phải cách
ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia
đình, xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
4
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, nay không
ai có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không
đặt ra xem xét.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác được thực hiện quyền kháng
cáo theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ
luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lan H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lan H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Lan H cho Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố T,
tỉnh Ninh Bình tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp
người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều
92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có
thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người
đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án
mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc
bị cáo Nguyễn Lan H phải chịu 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án

5
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Cơ quan CSĐT Công an TX Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Cơ quan THAHS Công an TX Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo; đương sự
- Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Thị Tươi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng