Bản án số 102/2023/HC-PT ngày 28-02-2023 của TAND cấp cao về yêu cầu hủy quyết định hành chính
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 102/2023/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 102/2023/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 102/2023/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 102/2023/HC-PT ngày 28-02-2023 của TAND cấp cao về yêu cầu hủy quyết định hành chính |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | QĐ hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính bằng một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao |
| Số hiệu: | 102/2023/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Chị Phùng Thị P yêu cầu hủy quyết định hành chính |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 102/2023/HC-PT
Ngày: 28/02/2023
V/v :“Yêu cầu hủy quyết định hành chính”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập -Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Hà;
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Hạnh;
Ông Đặng Đình Lực.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Trang, Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễ n Văn Tuyến, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 467/2022/TLPT-HC
ngày 05 tháng 11 năm 2022 về việc “Yêu cầu hủy quyết định hành chính” do
Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2022/HC-ST ngày 05/4/2022 của Tòa án nhân
dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1118/2023/QĐPT-HC
ngày 06 tháng 02 nă m 2023 giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Chị Phùng Thị P, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Tân
T, xã Hợp T1, huyện Tam D, tỉnh Vĩnh Phúc; Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Anh Nguyễn Văn H,
sinh năm 1980; địa chỉ: SN 46, đường Nguyễn Tất T2, xã Định T3, thành phố
Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Có mặt.
* Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trư ờng tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim T4 - Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn Đ - Phó Giám đốc Sở
Tài nguyên và môi trường tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng
mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Phạm Thị
P1, chức vụ: Phó trưởng phòng Đăng ký và cấp Giấy chứng nhận thuộc Văn

2
phòng Đăng ký đất đai tỉnh Vĩnh Phúc; Địa chỉ: 646 phố Đình Â, phường Khai
Q, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh Tam D; địa chỉ: Phố M, thị
trấn Hợp H, huyện Tam D, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắ ng mặt.
- Người đại diện: Bà Trương Thị Thúy là Phó giám đốc phụ trách văn phòng
đăng ký đất đai - Chi nhánh Tam D. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1982 địa chỉ: Thôn Tân T, xã Hợp T1,
huyện Tam D, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Việt: Ông Nguyễn Văn H, sinh
năm 1980; địa chỉ: SN 46, đường Nguyễ n Tất T2, xã Định T3, thành phố Vĩnh
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.
3. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn Tân T, xã Hợp T1,
huyện Tam D, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện được bổ sung trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của khởi kiện là ông Nguyễn Văn
H trình bày:
Ông Phùng Vă n H1 (bố chị P) ở thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D,
tỉnh Vĩnh Phúc được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN)
ngày 22/11/1999, thửa 57, tờ 15, diện tích 476m
2
(trong đó đất ở 200 m
2
, đất vườn
246m
2
). Năm 2015 ông H1 chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất trên cho
chị Phùng Thị P diện tích 242 m
2
và được Sở Tài nguyên môi trường (TNMT)
cấp GCN ngày 28/5/2015 tại thửa số 717, tờ bản đồ 05 ở thôn Tân T, xã Hợp
T1, huyện Tam D. Phần diện tích còn lại là 234m
2
ông H1 vẫn tiếp tiếp tục sử
dụng thuộc thửa đất số 718, tờ bản đồ 05 tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam
D, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi được nhà nước cấp GCN chị P và gia đình tiến hành
xây dựng nhà cửa, sinh sống ổn định từ đó không tranh chấp với ai. Đến đầu năm
2020 gia đình chị P nhận được thông tin kiến nghị việc gia đình được cấp GCN
sai vị trí, vị trí cấp một phần vào diện tích đất công dự kiến làm đường giao thông
của xã. Sau đó gia đình chị P nhận được văn bản 933/STNMT-VPĐKĐĐ ngày
20/4/2020 của Sở TNMT “V/v thống nhât xử lý việc cấp GCNQSDĐ sai vị trí
cho hộ bà Phùng Thị P tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D”. Nội dung văn
bản 933 thể hiện: Tại thời điểm cấp GCN năm 2015 cho hộ chị P thửa đất của ông
H1 theo bản đồ địa chính xã Hợp T1 đo đạc nă m 2009 có diện tích tổng là
522,3m
2
, tăng 46,3m
2
(522,3m
2
- 476m
2
), có một cạnh tiếp giáp bờ mương bê tông
cứng của Nhà nước. Khi VPĐKĐĐ Chi nhánh Tam D tách thửa đất cho hộ bà P
không lấy mốc giới từ đất của ông H1 (từ phía trong) mà lấy mốc giới từ bờ
mương cứng của Nhà nướ c trở vào trong để tách ra 242m
2
(thửa số 313, tờ bản
đồ 05 bản đồ đo đạc năm 2009). Dẫn đến diện tích 46,3m
2
(chưa được cấp GCN)
nằm ở vị trí giữa đất của ông Phùng Văn H1 với đất của chị Phùng Thị P. Đây là
3
sai sót về kỹ thuật, lỗi thuộc về Chi nhánh Tam D. Như vậy VPĐKĐĐ Chi nhánh
Tam D thuộc Sở TNMT khi lập hồ sơ cấp GCN cho chị Phùng Thị P ngày
28/5/2015 đã cấp sai vị trí vào một phần diện tích 46,3m
2
là đất công nằm trong
quy hoạch mở rộng đường giao thông nông thôn của xã Hợp T1.
Ngày 18/6/2020 gia đình chị P nhận được quyết định số 253/QĐ-STNMT
ngày 09/6/2020 của Sở TNMT về việc điều chỉnh ranh giới đối với thửa đất của gia
đình chị P địa chỉ tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D. Chị Phùng Thị P thấy
việc điều chỉnh mốc giới của Sở TNMT tại Quyết định số 253/QĐ-STNMT ngày
09/6/2020 của Sở TNMT là không đúng quy định của pháp luật vì hệ thống pháp
luật về đất đai của nhà nước không có quy định về việc điều chỉnh GCN thông qua
một bản trích lục điều chỉnh mốc giới thửa đất; ngoài ra phần diện tích 46,3m
2
đất
điều chỉnh gia đình đã xây dựng các công trình tại đó, sử dụng ổn định lâu dài
không ai có ý kiến khiếu nại, thắc mắc gì. Do việc điều chỉnh mốc giới tạ i Quyết
định số 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 của Sở TNMT tỉnh Vĩnh Phúc xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của chị P, chị P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
hủy bỏ quyết định này.
Người đại diện của người bị kiện là Sở TNMT tỉnh Vĩnh Phúc trình
bày:
Hộ ông Phùng Văn H1 (bố chị P) ở thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D
được UBND huyện Tam D giao đất năm 1984 và cấp GCN ngày 22/11/1999, thửa
57, tờ 15, diện tích 476m
2
(trong đó đất ở 200m
2
, đất vườn 246m
2
). Năm 2015 ông
H1 chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất trên cho chị Phùng Thị P 242m
2
và được Sở TNMT cấp GCN ngày 28/5/2015. Phần còn lại 476m
2
- 242m
2
=
234m
2
hộ ông H1 tiếp tục sử dụng được VPĐKĐĐ Chi nhánh Tam D chỉnh lý
biến động tại trang 4 GCN cấp cho ông Phùng Văn H1 năm 1999. Tuy nhiên tại
thời điểm cấp GCN năm 2015 cho hộ chị P, thửa đất của hộ ông H1 theo Bản đồ
địa chính đo đạc theo hệ tọa độ VN 2000 xã Hợp T1 đo đạc năm 2009 có diện
tích tổng là 522,3m
2
, tăng 46,3m
2
(522,3m
2
- 476m
2
), có một cạnh tiếp giáp bờ
mương bê tông cứng của Nhà nước. Khi VPĐKĐĐ Chi nhánh Tam D tách thửa
đất cho hộ chị P không lấy mốc giới từ đất của ông H1 (từ phía trong) mà lấy mốc
giới từ bờ mương cứng của Nhà nước trở vào trong để tách ra 242m
2
(thửa số
313, tờ bản đồ 05 bản đồ đo đạc năm 2009). Dẫn đến diện tích 46,3m
2
(chưa
được cấp GCN) nằm ở vị trí giữa đất của ông Phùng Văn H1 với đất của chị
Phùng Thị P. Đây là sai sót về kỹ thuật, lỗi thuộc về VPĐKĐĐ chi nhánh Tam D.
Như vậy VPĐKĐĐ Chi nhánh Tam D thuộc Sở TNMT khi lập hồ sơ cấp GCN
cho chị Phùng Thị P ngày 28/5/2015 đã cấp sai vị trí vào một phần diện tích
46,3m
2
là đất công nằm trong quy hoạch mở rộng đường giao thông nông thôn
của xã Hợp T1.
Sau khi nhận được phản ánh kiến nghị của cử tri xã Hợp T1 về việc cấp
GCN cho Chị P của Sở TNMT, VPĐKĐĐ chi nhánh Tam D đã phối hợp cùng
các ban ngành đoàn thể, UBND xã Hợ p T1 làm việc vớ i gia đình chị P, xác định
khi cấp GCN cho chị P đã cấp nhầm một phần diện tích đất công của xã quy
hoạch mở rộng đường giao thông.
4
Ngày 21/4/2020, Sở TNMT đã tổ chức buổi làm việc với UBND huyệ n
Tam D, UBND xã Hợp T1, tại buổi làm việc thống nhất điều chỉnh mốc giới cấp
GCN cho gia đình chị P theo đúng mốc giới thửa đất trước đây ông H1 được
giao đất, cấp GCN. Tuy nhiên chị P không dự hội nghị này. Ngày 09/6/2020, Sở
TNMT ban hành theo thẩm quyền Quyết định số 253/QĐ-STNMT về việc điều
chỉnh mốc giới thửa đất của chị Phùng Thị P, địa chỉ thôn Tân T, xã Hợp T1,
huyện Tam D.
Ngày 19/6/2020, VPĐKĐĐ-Chi nhánh Tam D phối hợp với UBND xã
Hợp T1 đã tổ chức buổi làm việc thực hiện nội dung: Công bố nội dung và giao
Quyết định số 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 của Sở TNMT cho chủ sử dụng
đất (giao cho anh Nguyễn Văn V là chồng chị P); đề nghị gia đình chị P bàn giao
phần diện tích đất sau khi điều chỉnh mốc giới thửa đất để làm đường giao
thông nông thôn; phần diện tích tăng sau khi làm đường gia đình có nhu cầu sẽ
được xem xét công nhận QSDĐ và cấp đổi GCN theo trình tự. Sở TNMT tổ
chức họ p cùng UBND huyện Tam D, UBND xã Hợp T1 đã xin lỗ i gia đình chị P để
giải quyết vụ việc theo quy định. Tuy nhiên gia đình chị P không đồ ng ý và có đơn
khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hủy Quyết định số 253/QĐ-
STNMT ngày 09/6/2020 của Sở TNMT về việc điều chỉnh ranh giới đối với thửa
đất của gia đình chị P địa chỉ tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D.
Sở TNMT căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013; khoản 56
Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, Sở TNMT
ban hành Quyết định số 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 với nội dung: Giữ
nguyên diện tích 242 m
2
mà ông H1 đã chia tách cho chị P, chỉ điều chỉnh ranh
giới, mốc giới diện tích 242m
2
về vị trí ban đầu (tiếp giáp với 234 m
2
đất của ông
H1) là đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật. Việc chị P đề nghị hủy
Quyết định này là không có căn cứ pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm:
- VPĐKĐĐ Chi nhánh Tam D: Quá trình giải quyết vụ án đã thể hiện quan
điểm như nội dung và ý kiến của người bị kiện. VPĐKĐĐ chi nhánh Tam D cho
rằng tại thời điểm năm 2015 hộ ông H1 được nhà nước cấp GCN 476 m
2
nhưng gia
đình ông H1 đã sử dụng cả phần diện tích hành lang giao thông là 46,3m
2
nâng
tổng diện tích theo hiện trạng là 522,3m
2
. Do vậy VPĐKĐĐ Chi nhánh Tam D căn
cứ vào hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông H1 để tách thửa (tính 242m
2
từ mép
đường liên thôn trở vào cho con gái là chị P sử dụng) trình Sở TNMT cấp GCN
cho chị P, phần diện tích còn lại theo GCN 234m
2
. Khi văn phòng kiểm tra hiện
trạng thấy hộ ông H1 đã có tường xây kiên cố bằng gạch (tường xây đã cũ) ngăn
cách giữa đất hộ ông H1 với phần đất hiện đang là đường giao thông và gia đình
ông H1 cũng chỉ ranh giới từ vị trí đó. Do thấy hộ gia đình ông H1 sử dụng theo
ranh giới đó nên cán bộ văn phòng tin tưởng, không kiểm tra lại phần diện tích còn
lại của hộ gia đình ông H1 đã không phát hiện ra tại thời điểm này gia đình ông H1
đã xây tường và sử dụng vào đất hành lang giao thông nên đo tách thửa cho chị P
theo sự chỉ dẫn của gia đình ông H1 dẫn đến sai sót. Khi phát hiện ra sai sót văn
phòng đã làm thủ tục và trình Sở TNMT điều chỉnh lại ranh giới cho phù hợp thực

5
tế. Văn phòng ĐKĐĐ chi nhánh Tam D có quan điểm việc Sở TNMT căn cứ điểm
d, khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013; khoản 56 Điều 2 Nghị định
01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, Sở TNMT ban hành Quyết
định số 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 là đúng pháp luật.
- Anh Nguyễn Văn V (chồng chị P) có quan điểm như yêu cầu của người
khởi kiện là đề nghị hủy Quyết định số 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 của Sở
TNMT tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Nguyễn Văn H1: Quá trình giải quyết vụ án đã thể hiện quan điểm:
Ông được nhà nước giao quyền sử dụng 476m
2
đất thuộc thửa số 57, tờ bản đồ
số 15, địa chỉ tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyệ n Tam D và đã được cấp GCN.
Năm 2015, ông tặng cho chị P với diện tích 242m
2
được cắt từ thửa đất của ông.
Chị P đã được cấp GCN đối với diện tích đất được tặng cho. Quá trình sử dụng
đất từ trước đến nay không có tranh chấp gì về mốc giới, đất được sử dụng ổn
định lâu dài, hiện ông H1 đang quản lý sử dụng 234m
2
đất còn lại. Sau khi được
tặng cho, chị P đã xây dựng công trình kiên cố và sử dụng từ đó cho đến nay.
Chị P có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh hủy bỏ Quyết định số 253/QĐ-
STNMT, ông có quan điểm: Diện tích 242m
2
, ông cho chị P từ lâu, hiện đang
thuộc quyền quản lý và sử dụng của chị P, quá trình tặng cho không xảy ra tranh
chấp gì, vì vậy ông không liên quan gì đến đất của chị P đề nghị Tòa án giải
quyết theo pháp luậ t. Khi ông sử dụng phần diện tích đất còn lại là 234m
2
,
khoảng năm 2015 do đất nhà ông và nhà anh C (hàng xóm giáp ranh phía sau
bên trái nhà ông) đều bị méo nên 02 bên thống nhất đổi đất, diện tích đất đổi
tương đương nhau. Khi đo đạc thực tế, nếu ông đang sử dụng diện tích đất nhiều
hơn diện tích đất được cấp trong GCN, thì phần đất thừa này ông không đề nghị
giải quyết vì ông đã sử dụng ổn định, lâu dài. Đất nhà chị P và anh V đã được
cắm mốc giới nên ông không liên quan gì. Thời điểm ông được cấ p GCN đất
cho đến khi ông tặng cho chị P thì mốc giới đúng như thời điểm hiện tại gia đình
chị P sử dụng và xây dựng công trình.
Tại Bản án sơ hành chính thẩm số 03/2022/HC-ST ngày 05/4/2022 của
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị P về việc đề nghị hủy
Quyết định số 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 của Sở TNMT về việc điều chỉnh
ranh giới đối với thửa đất của gia đình bà P địa chỉ tại thôn Tân T, xã Hợp T1,
huyện Tam D, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Phùng Thị P phải chịu là
4.400.000đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
6
Ngày 15/4/2022, anh Nguyễn Văn H (Người đại diện theo ủy quyền của
người khởi kiện - bà Phùng Thị P) kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị
cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng
Thị P.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Chị P, anh V và anh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Chị P, anh V và ông H trình bày: Bà P đã được phân chia di sản thừa kế
và được phân chia đấ t. Bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
2020 Văn phòng quản lý đất đai Tam D đã lập sơ đồ mốc giới. Sau đó ban hành
quyết định điều chỉnh mốc giới của nhà bà P. Sau khi được phê duyệt năm 2015
gia đình bà P đã chia tách và cấ p cho bà P thì diện tích đất của ông H1 là bố bà P
đã được phê duyệt. Trên đất ông H1 và bà P đã xây dựng kiên cố. Theo điều
chỉnh mốc giới thì phải đập cả trụ ngôi nhà và phía trước ngôi nhà. Do đó, đề
nghị HĐXX không chấp nhận bản án sơ thẩm và huỷ bỏ Quyết định vì không
đúng thẩm quyền, trình tự quy định pháp luậ t là không đúng, những căn cứ pháp
lý của ông Việt, bà P được cấp giấy chứng nhận một cách hợp pháp, thứ ba
không thi hành được theo đúng thực tế.
Quan điểm của Việ n kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội:
*Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thông qua
việc kiểm sát giải quyết vụ án của Toà án phúc thẩm đến thời điểm này thấy
rằng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố
tụng hành chính.
*Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: từ khi thụ lý vụ án
cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định.
* Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội: Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật TTHC năm 2015, bác kháng cáo của anh
Nguyễn Văn H, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2022/HC-ST ngày
05/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết
quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiế n của kiểm sát viên, các quy định của
pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn H (Là người đại diện ủy quyền
của người khởi kiện là chị Phùng Thị P) nộp trong thời hạn và đúng với quy định
tại Điều 205, Điều 206 Luật tố tụng hành chính nên hợp lệ, được Hội đồng xét
xử xem xét giải quyết.
[1.2] Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu
khởi kiện, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết là đúng quy định tại khoản 2
7
Điều 3; Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành
chính.
[1.3] Về việc vắng mặt của các đương sự: Người bị kiện; người đại diện
theo ủy quyền của người bị kiện; người bảo vệ quyề n và nghĩa vụ cho người bị
kiện; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin giải
quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 157 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân
cấp cao tại Hà Nội xét xử vắ ng mặt họ.
[2] Xét nội dung đơn kháng cáo anh Nguyễn Văn H (Là người đại diện ủy
quyền của người khởi kiện là chị Phùng Thị P) yêu cầu hủy Quyết định số
253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 của Sở TNMT về việc điều chỉnh ranh giới đối
với thửa đất của gia đình bà P địa chỉ tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D,
tỉnh Vĩnh Phúc; Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Căn cứ theo các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Năm 1999, ông Phùng
Văn H1 (bố đẻ chị P) được cấp GCNQSD thửa đất số 57, tờ bản đồ số 15, diện
tích 476m2 tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D (số bản đồ và thửa đất theo
bản đồ địa chính năm 1999). Năm 2015, ông H1 tặng cho chị P diện tích 242m2
(trong đó 100m2 đất ở; 142m đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 717, tờ bản
đồ số 05, địa chỉ tại thôn Tân T, xã Hợp T1, huyện Tam D; đến ngày 28/5/2015,
chị P được Sở tài nguyên môi trường tỉnh Vĩnh Phúc cấp GCNQSD đất. Phần
diện tích 234m2 còn lại thuộc thửa số 718, tờ bản đ ồ số 05, ông H1 tiếp tục sử
dụng. Sau khi được cấp GCNQSD đối với thửa đất trên, gia đình chị P xây nhà
và sinh sống trên vị trí diện tích đất được nhà nước cấp GCNQSD. Tại thời điểm
cấp GCNQSD đất cho chị P năm 2015, thửa đất của ông H1 theo Bản đồ địa
chính xã Hợp T1 năm 2009 có tổng diện tích 522,3m2 (tăng 46,3m2) và có 01
cạnh tiếp giáp bờ mương cứng của Nhà nướ c. Khi Văn phòng đăng kí đất đai chi
nhánh Tam D tách thửa đất cho bà P đã không lấy mốc giới từ đất của ông H1
(từ phía trong) mà lấy mốc giới từ bờ mương cứng của Nhà nước trở vào trong
nên diện tích 242m2 cấp GSCQSD đất cho bà P có 46m2 là đất công nằm trong
quy hoạch mở rộng đường giao thông nông thôn của xã Hợp T1.
[2.2] Tài liệu quản lý đất đai tại địa P còn thể hiệ n trước khi gia đình ông
H1 làm thủ tục chia di sản cho chị P vào năm 2015 để căn cứ vào đó VPĐKĐĐ
chi nhánh Tam D làm thủ tục tách thửa đất của ông H1 cho chị P thì trước đó gia
đình ông H1, chị P đã có đơn đề nghị tách thửa đấ t trên. Cụ thể đó là: Gia đình
ông H1 đã lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 07/11/2014 tại Văn
phòng công chứng Vĩnh Phúc cho anh V, chị P với diện tích 216m2. Căn cứ vào
Hợp đ ồng ngày 07/11/2014, UBND xã Hợp T1, huyện Tam D đã xác nhận đơn
đề nghị tách thửa của anh V và cấp trích lục sơ đồ thửa đất ngày 25/12/2014
kèm theo hồ sơ tách thửa (có sơ đồ kèm theo) thể hiện rõ phần diện tích đất dự
kiến mở đường giao thông, gia đình ông H1, chị P đã nộp hồ sơ này tại cơ quan
quản lý đất đai. Điều này có cơ sở xác định rõ ông H1, chị P và mọi người trong
gia đình đều biết rất rõ phần diện tích gia đình xây tường rào, sân gạch là đất
công dự kiến mở đường nhưng khi VPĐKĐĐ chi nhánh Tam D đến lập hồ sơ
8
tách thửa cho chị P thì gia đình ông H1 lại xác định đó là đất của gia đình nên
việc chị P, anh V cho rằng đó là đấ t có nguồn gốc của ông H1 là không đúng.
[2.3] Tại phiên tòa người đại diệ n theo ủy quyền của chị P, anh V thừa
nhận tại thờ i điểm năm 2015 khi Văn phòng ĐKĐĐ chi nhánh Tam D tiến hành
đo dạc, tách thửa đất của ông H1 cho chị P thì ranh giới hiện nay chị P đang sử
dụng đã được ông H1 xây tường ngăn cách với đường giao thông, điều này phù
hợp với trình bày của ông H1, trình bày của Văn phòng ĐKĐĐ chi nhánh Tam
D về việc gia đình ông H1 chỉ ranh giới để căn cứ vào đó văn phòng lập hồ sơ
tách thửa trình Sở TNMT cấp GCN cho chị P.
[2.4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét
thẩm định tạ i chỗ thấy toàn bộ những gia đình cùng phía gia đình chị P, anh V
khi xây dựng công trình thì họ đều để lại diện tích đất có nguồn gốc mương
dùng tưới tiêu để làm đường giao thông, không có gia đình nào xây dựng vào
phần diện tích này chỉ duy nhất gia đình chị P, anh V xây dựng, việc xây dựng
phần công trình của anh V, chị P làm lồi ra đường gây mất cảnh quan, khuất tầm
nhìn nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông.
[2.5] Tại kết quả của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng và đo đạc bản đ ồ
CDP ngày 06/01/2022 hoàn toàn phù hợp với hồ sơ quản lý đất đai lưu giữ tại
địa P và diệ n tích 46,3m2 đất đã được Sở TNMT tỉnh Vĩnh Phúc điều chỉnh tại
Quyết định 253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020. Ngoài ra tại Văn bản số: 40/BC -
CNTD ngày 28/3/2022 của Văn phòng ĐKĐĐ chi nhánh Tam D cũng xác định
nếu thực hiện đúng việc điều chỉnh mốc giới theo Quyết định số 253/QĐ-
STNMT ngày 09/6/2020 của Sở TN&MT thì gia đình chị P chỉ bị ảnh hưởng
phần cổng, sân và không ảnh hưởng gì đến ngôi nhà đang ở.
[2.6] Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở xác định: Sở TN&MT tỉnh
Vĩnh Phúc đã căn cứ vào các quy định của pháp luật ban hành Quyết định số
253/QĐ-STNMT ngày 09/6/2020 điều chỉnh vị trí trong GCNQSD đã cấp cho
gia đình chị P là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của chị
Phùng Thị P là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của
anh Hưng không được chấp nhận.
[3]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tạ i Hà Nội đề
nghị Hội đồng xét xử: Bác kháng cáo của chị Phùng Thị P giữ nguyên Bản án
hành chính sơ thẩm số 03/2022/HC-ST ngày 05/4/2022 của Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Phúc có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhậ n.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, chị Phùng
Thị P phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241; khoản 1 Điều 349 Luật tố tụng hành chính;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
9
phí Tòa án;
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện là chị Phùng Thị P và giữ nguyên
quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2022/HC-ST ngày 05/4/2022
của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Chị Phùng Thị P phải chịu 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ số tiền
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại
Biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm số 0006842 ngày 09 tháng 5 năm 2022 của
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Các quyết định khác của Bản án hành chính sơ thẩm không có kháng
cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
4. Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phạm Việt Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng